Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2024/DS-PT

Ngày: 04/6/2024

V/v: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, đòi lại tài sản và tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng CNQSDĐ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trang

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Hồng Dung

Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.

Tron các ngày từ 29 tháng 5 đến ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2024/TLPT- PT ngày 18 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, đòi lại tài sản và tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng CNQSDĐ"

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 298/2023/DSST ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 36/2024/QĐ-PT ngày 02/4/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N4.

Địa chỉ: A T, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Vũ N. (Có mặt)

Địa chỉ: L03.08-09 KDC N, đường L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ(Văn bản uỷ quyền ngày 28/12/2018).

- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1967. (Có mặt)

Địa chỉ: B M (Nay là số A L), phường A, quận N, thành phố Cần Thơ

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1970 (có yêu cầu giải quyết vắng mặt);
  2. Ông Trần Quốc M, sinh năm 1992 (có yêu cầu giải quyết vắng mặt);
    Cùng địa chỉ: B M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Nay là số A L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
  3. Ông Trần Văn C, sinh năm 1965 (có đơn khởi kiện độc lập) - (Có mặt).
    HKTT: Khu vực T, phường L, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
    Địa chỉ liên hệ: 140 L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
    Đại diện theo ủy quyền của ông C: Ông Võ Minh Đ (GUQ ngày 23/5/2022); (Có mặt)
    Địa chỉ: F T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông C: Luật sư Trần Nguyễn Duy T1. Địa chỉ: A L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)
  4. Bà Trần Thị Tuyết M1, sinh năm 1955 (có đơn khởi kiện độc lập); (Vắng mặt)
    Địa chỉ: 2 đường M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
  5. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1965 (có đơn khởi kiện độc lập) – (Vắng mặt)
    Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
    Bà M1, ông T2 cùng ủy quyền cho: Ông Trần Văn C (GUQ ngày 05/01/2022) - (Có mặt)
  6. Ông Trần Văn N1, sinh năm 1963 (có yêu cầu giải quyết vắng mặt) ;
    Địa chỉ: Số A đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
  7. Ông Trần Văn T3, sinh năm 1961 (có đơn khởi kiện độc lập) – (Vắng mặt)
    Địa chỉ: Số A L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
    Đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Văn Đ1 (Hợpp đồng uỷ quyền ngày 06/12/2023) – (Có mặt)
    Địa chỉ: số A đường N, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
  8. Ủy ban nhân dân phường A (Vắng mặt).
    Địa chỉ: A N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
  9. Ông Chế Trần Phước H. (Vắng mặt)
    Địa chỉ: 3 đường B, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện ủy quyền: Ông Trần Văn C (Giấy uỷ quyền ngày 14/3/2022) – (Có mặt)
  10. Ông Trần Văn N2, sinh năm 1957. (Có mặt)
    Địa chỉ: A L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
  11. Ông Trần Minh N3, sinh năm 2004. (Vắng mặt)
    Địa chỉ: A L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
    Đại diện ủy quyền: Ông Trần Văn T, sinh năm 1967. (Có mặt)
    Địa chỉ: A L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
  12. Ông Lê Nhuận Đ2, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
    Địa chỉ: C đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Ông Trần Văn C và Trần Văn T3

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Theo Hợp đồng tín dụng số 9890710 ngày 22/07/2010 ký kết giữa ông Trần Văn T với Ngân hàng N4 - Chi nhánh quận B, thành phố Cần Thơ (gọi tắt là Ngân hàng). Ngày 23/07/2010 Ngân H1 đã giải quyết cho ông Trần Văn T nhận nợ số tiền 2.000.000.000đ, lãi suất 14,5%/năm (có điều chỉnh lãi suất theo từng giai đoạn), thời hạn đến ngày 21/07/2011, để sử dụng vào mục đích xây dựng nhà trọ. Thời hạn trả nợ như sau: Trả lãi: hàng tháng, Trả gốc: Ngày 21/07/2011: 2.000.000.000đ. Đến thời điểm hiện tại ông T đã đóng lãi đến ngày 24/04/2011 với số tiền là 177.194.445 đồng.

Để đảm bảo cho món vay trên, ông Trần Văn T và Ngân hàng đồng ý ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 989HDTC08 ngày 22 tháng 7 năm 2010, số chứng thực 3522 Quyển số 1/2010/TP/CC - SCC/HĐGD ngày 22 tháng 7 năm 2010 tại Phòng C2, thành phố Cần Thơ và được đăng ký thế chấp tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận N vào lúc 7h 35 phút ngày 23 tháng 7 năm 2010. Cụ thể tài sản thế chấp: Giấy chứng nhận QSDĐ số: K 376994 do UBND tỉnh C cấp ngày 23 tháng 4 năm 1998; Diện tích: 1882,50 m²; Địa chỉ: Đường M, P. A, Q. N, TP. Loại đất: NĐ, LNK +Thửa dất số: 24, 143; Tờ bản đồ số: 44 (Qua kết quả đo đạc theo bản trích đo địa chính số 913/TTKTTNMT ngày 23/8/2023 với diện tích thửa 143 còn lại 1705,0m², thửa 24: 59,6m²).

Đến nay, hợp đồng vay đã quá hạn kể từ ngày 22/07/2011 nhưng ông T vẫn không hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi phát sinh, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần cho ông T cam kết trả nợ. Để đảm bảo việc kinh doanh của Ngân hàng được lành mạnh, đồng thời thu hồi được tài sản về cho Ngân hàng. Ngân hàng làm đơn khởi kiện đến Toà án yêu cầu như sau: Gốc 2.000.000.000 đồng (hai tỉ đồng); Lãi trong hạn tính đến 16/10/2023 là: 1.058.670.000 đồng (một tỉ, không trăm năm mươi tám triệu, sáu trăm bảy mươi ngàn đồng). Phần lãi đã được xem xét miễn giảm lãi do các chế độ của Ngân hàng nên lãi giảm hơn so với lãi suất theo đơn khởi kiện và theo biên bản hòa giải ngày 15/02/2023. Trong trường hợp bị đơn ông T không trả được nợ đề nghị Tòa án tuyên phát mãi tài sản thế chấp vừa nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Buộc ông T tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng.

Đối với các yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Trần Văn T3, Trần Văn C, Trần Văn T2 và bà Trần Thị Tuyết M1 phía Ngân hàng không thống nhất bởi lẽ: Tại thời điểm Ngân hàng ký kết Hợp đồng thế chấp với ông T GCNQSDĐ do hộ ông T đứng tên hoàn toàn không có tranh chấp. Do vậy, đề nghị Tòa án công nhận Hợp đồng thế chấp nêu trên.

* Phía bị đơn ông Trần Văn T trình bày ý kiến:

Ông thống nhất theo trình bày vừa nêu trên của đại diện Ngân hàng. Thống nhất với Bản trích đo địa chính số 913/TTKTTNMT ngày 23/8/2023 của Trung tâm K – Sở tài nguyên và Môi trường thành phố C lập. Tuy nhiên, ông trình bày thêm, đối với diện tích đất của thửa đất số 135 do Trần Quốc M đứng tên theo GCN là 284m², qua đo đạc còn thiếu 70m². Phần còn thiếu này là phần diện tích nằm phía sau phần đất của ông M, hiện nay ông M và ông chưa phát sinh tranh chấp về ranh đất, sở dĩ đất thiếu là do khi làm đường L phía trước đã bị giảm trừ diện tích. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông thống nhất trả nợ gốc, về lãi đề nghị Ngân hàng miễn giảm một phần lãi vì thực tế đất ông bị quyết định thu hồi làm dự án kéo dài nên ông không trả được nợ, đây là lỗi khách quan.

* Ông Trần Quốc M trình bày:

Tại Thông báo thụ lý vụ án, ông biết là Ngân hàng đang khởi kiện ông Trần Văn T về vấn đề “Vay tiền”, vụ việc đã xảy ra gần hơn 08 năm qua. Nay, ông làm đơn khởi kiện, vì toàn bộ diện tích đất và quyền sử dụng đất thế chấp nói trên được cấp cho “Hộ Trần Văn T", trong đó có ông là người trong Hộ khi không có sự đồng ý của ông. Yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề sau đây: Quyền sử dụng đất đem đi thế chấp là quyền sử dụng đất của H2, không của riêng ai. Quyền sử dụng chung của H2, là một thể có giá trị thống nhất, không tách rời. Do vậy, yêu cầu đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của ông; cụ thể, là: Tuyên bố Hợp đồng thế chấp giữa ông T và Ngân hàng nói trên là vô hiệu và nên giải quyết theo đúng luật định. Ngày 16/10/2023 ông có đơn xin rút lại đơn khởi kiện độc lập vì: theo hồ sơ vụ án, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trần Văn T là cha của ông ghi là đất cấp cho “Hộ” nhưng thực tế là đất do cha của ông nhận chuyển nhượng từ bà nội của ông là bà Nguyễn Thị T4. Do vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên không còn là đối tượng tài sản chung của hộ gia đình.

* Ông Trần Văn T3 có đơn khởi kiện độc lập yêu cầu:

Yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Trần Văn T cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều O (vợ ông T) phải có nghĩa vụ trả lại quyền sử dụng đất diện tích 1.000m2 thuộc phần thửa đất số 24 và 19, tờ bản đồ số 113474- 7-(12), loại đất: Trồng cây lâu năm, thuộc Giấy chứng nhận QSD đất số: 00328 do UBND tỉnh C (cũ) cấp ngày 23/4/1998 đứng tên hộ ông Trần Văn T, đất tọa lạc tại: 2 M (nay là đường L), khu V, P. A, quận N, TP . cho ông (Trần Văn T3) đứng tên chủ sử dụng đất hợp pháp theo quy định pháp luật.

Lý do khởi kiện: Nguyên trước đây khi còn sống, cha mẹ ông, cụ ông Trần Văn P (chết năm 1989) và cụ bà Nguyễn Thị T4 (chết năm 2002) qua thời gian lao động cực khổ có tạo lập được thửa đất và xây cất nhà ở cặp rạch C (nay thuộc phường A, quận N, TP .).

Trong quá trình canh tác và sử dụng, mẹ ông là cụ Nguyễn Thị T4 đã kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công nhận phần đất tổng diện tích: 7.575m², đất thuộc các thửa đất số: 607, 608, 644 và 645, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại: 2 đường M (nay là đường L), khu vực 5, P. A, Q. N, TP . (theo Lược đồ giải thửa số: 740 do Sở địa chính tỉnh Cần Thơ cấp ngày 20/02/1997) Sau khi đăng ký, mẹ ông (cụ T4) được UBND tỉnh C (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00103 cấp ngày 21/3/1997, đất tọa lạc tại: 2 M, khu V, P. A, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là 2/53 M, khu V, P. A, Q. N, TP .. Ngày 24/3/1997, tại nhà số B M, khu V, P. A, mẹ ông cụ bà Nguyễn Thị T4 tự nguyện định đoạt lập “Giấy chia đất cho các con”, theo đó, mẹ các con, có tổng cộng 07 người con gồm: Trần Văn T2, sinh năm 1955; Trần Văn N2, sinh năm 1957; Trần Thị Tuyết M1, sinh năm 1959; Trần Văn T3, sinh năm 1961; Trần Văn N1, sinh năm 1963; Trần Văn C, sinh năm 1965 và Trần Văn T, sinh năm 1967. Theo đó, mỗi người con được chia 1.000m², riêng trường hợp ông Trần Văn T hưởng thêm của bà T4 575m², tổng cộng ông T được là 1.575m². Sau khi được cho đất, các anh em đều đã kê khai và được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ. Riêng đối với trường hợp của ông, do ông đi làm xa chưa đăng ký được nên ông Trần Văn T đã lén lút, âm thầm kê khai đăng ký bao trùm lên phần của ông được cụ T4 cho là 1.000m² nêu trên. Từ việc kê khai, ông T được UBND tỉnh C (cũ) cấp Giấy chứng nhận QSD đất số: 00328 ngày 23/4/1998, thuộc thửa đất số 24 và 19', tờ bản đồ số 113474-7-(12), diện tích: 2.721,4m² (cấp cho “Hộ: Trần Văn T”. Do đó, việc ông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện diện tích: 2.721,4m² là không có cơ sở, không đúng đối tượng, bởi lẽ ông T chỉ được cho đất diện tích tổng cộng 1.575m² (trong đó có phần cụ T4 cho riêng 575m²). Được biết, liên quan đến phần đất của cụ T4 cho nêu trên đã được Tòa án xem xét giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật (Bản án dân sự sơ thẩm số: 253/DSST ngày 28/4/2003 của Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (cũ)). Sau nhiều lần yêu cầu ông T trả lại đất cho ông nhưng ông T luôn né tránh không hợp tác. Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên buộc bị đơn ông T cùng vợ là bà O (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang quản lý trực tiếp phần đất tranh chấp phải có nghĩa vụ trả lại quyền sử dụng đất diện tích 1.000m² nêu trên cho ông.

Và có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu: Ông cho rằng, Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bên chuyển nhượng (Bên A) bà Nguyễn Thị T4 với Bên nhận chuyển nhượng (Bên B) ông Trần Văn T đối với quyền sử dụng đất 2.575m², thuộc thửa đất 607, 608, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: 2 đường M (nay là đường L), khu vực 5, P. A, TP ., tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là Q. N, TP . là trái pháp luật, không phát sinh hiệu lực pháp luật bởi các căn cứ sau:

  • - Hợp đồng không được công chứng hoặc chứng thực hợp pháp theo quy định pháp luật về hình thức Hợp đồng chuyển nhượng đối với bất động sản.
  • - Quyền sử dụng đất thuộc Giấy chứng nhận QSD đất số 00103 do UBND tỉnh C (cũ) cấp ngày 11/03/1997 cấp cho H2: Nguyễn Thị T4, tuy nhiên về chủ thể trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T4 với ông T chỉ thể hiện dấu lăn tay Nguyễn Thị T4.
  • - Trước khi phát sinh Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất nêu trên thì trong Hộ bà Nguyễn Thị T4 đã có lập “Giấy chia đất cho các con" gồm 07 thành viên, văn bản này được lập trước sự chứng kiến của ông Phạm Hữu V và được UBND phường A xác nhận ngày 31/3/1997. Do đó, việc chuyển nhượng là không hợp pháp.
  • - Vụ việc tranh chấp về quyền sử dụng đất liên quan đến Giấy chứng nhận QSD đất do UBND tỉnh C (cũ) cấp ngày 11/03/1997 cấp cho H2: Nguyễn Thị T4 số 00103 đã được Tòa án giải quyết rất nhiều vụ án và những tình tiết thể hiện trong bản án đã phát sinh hiệu lực pháp luật xác nhận về tính hợp pháp và tính hiệu lực của văn bản “Giấy chia đất cho các con" lập vào ngày 24/03/1997.
  • - Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T4 và ông T thể hiện ông Trần Văn T3 là người “Giám hộ" của bà Nguyễn Thị T4. Tuy nhiên, vào thời điểm này ông Trần Văn T3 không phải là người giám hộ hợp pháp của bà T4. Đồng thời ông Trần Văn T3 xác định không ký tên và ghi họ tên trên Hợp đồng chuyển nhượng giữa bà T4 và ông T.

Ông T3 vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung có phần liên quan đến chữ ký của ông T3 trong hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà Nguyễn Thị T4 với ông Trần Văn T, ông T3 xác định chữ ký trong hợp đồng không phải là chữ ký của ông.

* Ông Trần Văn C, bà Trần Thị Tuyết M1, ông Trần Văn T2 có đơn yêu cầu độc lập:

Mẹ của các ông, bà là bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1930. Khi còn sống, bà đứng chủ quyền thửa đất có diện tích 7.575m² tọa lạc tại số B M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp giấy số 00103.QSDĐ ngày 11/3/1997 của UBND tỉnh C (nay là số A L, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ).

Vào ngày 24/3/1997, mẹ của các ông, bà và 07 người con đều thống nhất làm "Giấy chia đất cho các con có tên dưới đây" để phân chia đất cho 07 người, gồm: ông Trần Văn T2, Trần Văn N2, Trần Thị Tuyết M1, Trần Văn T3, Trần Văn N1, Trần Văn C, Trần Văn T, mỗi người được 1.000m². Riêng ông Trần Văn T được sử dụng thêm 575 m² đất còn lại để thờ cúng ông bà. Đến năm 1998, ông T làm chủ quyền tách thửa cho ông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp giấy số 00328.QSDĐ ngày 23/4/1998 của UBND tỉnh C, cấp cho Hộ ông Trần Văn T có diện tích 2.721,4m²

Năm 2003, ông T đã chuyển nhượng đất cho 05 người với tổng diện tích là 1.390,4 m², còn lại 1.331m². Đồng thời ông làm hồ sơ chỉnh lý biến động, đo đạc thực tế lên đến 1.880m² (chênh lệch tăng 551,5m² diện tích chênh lệch là đất của các anh chị). Biết vậy nhưng ông T vẫn điều chỉnh diện tích 1.880m² trên Giấy CNQSDĐ bao trùm luôn đất của người khác để hộ của ông được sở hữu. Do đó, các ông, bà làm đơn khởi kiện này yêu cầu Tòa án xét xử vụ án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các ông, bà. Yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

  1. Buộc bị đơn phải trả cho các ông, bà phần đất có diện tích 448,6m² (trong đó Trần Văn C: 190 m²; Trần Văn T2: 250m²; Trần Thị Tuyết M1: 8,6 m²) tại thừa số 143 tờ bản đồ số 44 (chỉnh lý đo đạt ngày 24/12/2003) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào số cấp giấy số 00328.QSDĐ ngày 23/4/1998 của UBND tỉnh C, cấp cho Hộ ông Trần Văn T, ước tính 1.100.000đ/m².
  2. Buộc bị đơn phải tách riêng biệt phần đất có diện tích 575m² để làm nơi thờ cúng theo di nguyện của bà Nguyễn Thị T4 tại thửa số 24 có diện tích 59,60m² và tại thửa số 143 có diện tích 515,40m² tờ bản đồ số 44 (chỉnh lý đo đạc ngày 24/12/2003) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào số cấp giấy số 00328.QSDĐ ngày 23/4/1998 của UBND tỉnh C, cấp cho Hộ ông Trần Văn T.

* Ông Trần Văn C đại diện ủy quyền của ông C1 Trần Phước H trình bày:

Ông Chế Trần Phước H trước đây có 28 phòng trọ do bà Trần Thị Tuyết M1 xây dựng và giao cho ông H quản lý, hiện nay ông Trần Văn T đã đập toàn bộ 28 phòng trọ này, ông H sẽ có đơn khởi kiện thành một vụ kiện khác nếu vụ án này xét xử xong mà thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/12/2022 ông Trần Văn N1 trình bày ý kiến:

Lúc mẹ ông là bà Nguyễn Thị T4 còn sống đã lập di chúc cho ông, sau đó năm 1997 đã lập Văn bản chia đất cho tất cả các con. Khi mẹ ông lập văn bản trên, sau đó các anh em đã tiến hành chia đất trên thực địa. Mỗi người đều đã nhận đủ phần đất của mình. Riêng ông, khi chia đất ông có nhận mua đất của bà M1, sau đó bà M1 đã khởi kiện ông bằng một bản án do Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ (cũ) xét xử vào năm 2003, ông đã thi hành nghĩa vụ cho bà M1 xong. Các anh chị em đều đã nhận đủ phần, đã bán cho nhiều người khác từ rất lâu. Việc ông T được cấp đất nhiều hơn phần được cho bởi vì: Trước đây, khi nhà nước đo đất các phần có mương không được tính vào diện tích đất cho mẹ ông nhưng sau này khi đo đất lại các phần đất có mương này được công nhận và được cấp hết vào QSDĐ cho ông T.

Đất đã được chia xong, hiện nay quyền và nghĩa vụ của ông không còn nên ông đề nghị Tòa án không triệu tập ông tham gia tố tụng. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt đối với ông trong tất cả quá trình tố tụng tại tòa án các cấp của Việt Nam. Ông xin trình bày thêm, cách đây ít ngày khi ông vừa về Việt Nam, em của ông là Trần Văn C có dẫn ông đến một Văn phòng công chứng để ký một văn bản gì ông không được rõ, hôm nay ông trực tiếp đến làm việc với thẩm phán, ông khẳng định những lời khai phía trên đây theo biên bản lấy lời khai của thẩm phán là đúng sự thật, tất cả các ý kiến khác (nếu có) do ông C cung cấp sẽ bị hủy bỏ.

* Ông Trần Văn N2 trình bày ý kiến:

Ông là người con thứ 6 trong gia đình. Năm 1997 anh em của ông cùng thống nhất quyết định làm giấy chủ quyền đất cho mẹ của các ông đứng tên, UBND phường A yêu cầu gia đình cung cấp giấy tờ thửa đất, gia đình ông trích lục bằng khoán có nguồn gốc ông nội của ông tên Trần Văn T5 đứng chủ quyền thửa đất gốc với diện tích 8 sàu 88, tức 8888m² đất tọa lạc tại khu V, phường A, thành phố Cần Thơ - nay là số B đường M, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Địa chính phường A tiến hành xác minh đo đạc để làm giấy đỏ vào năm 1997.

Thửa đất trước đây có nghĩa trang và vườn tạp, ao mương cỏ dại mọc đầy nên việc đo đạc khó khăn, kết quả đo diện tích còn lại 7575m² và mẹ ông được cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất nói trên. Ngày 24/3/1997 mẹ ông chia đất cho các con mỗi người 1000m². Cụ thể:

  1. Trần Văn T2, ngày 24/3/1997 đã nhận diện tích 1.000m². Một ít cho con, một ít bán cho ông N1 và một ít trực tiếp bán. Bán theo kiểu giám hộ quyền sử dụng đất của bà T4. Tới thời điểm chuyển nhượng không còn phần nào.
  2. Trần Văn N2, cũng nhận đủ diện tích 1.000m². Một phần cho vợ con và bán hết. Bán theo kiểu chuyển nhượng giám hộ trên quyền sử dụng đất của bà T4.
  3. Trần Thị Tuyết M1, đã nhận đủ diện tích 1.000m² bán cho ông N1 25 lượng vàng, có bản án.
  4. Trần Văn C, ngày 24/3/1997 cũng cắm cột mốc và nhận đủ diện tích 1.000m² vợ chồng ông C bán không còn mét vuông nào, bán theo kiểu giám hộ chuyển nhượng trên quyền sử dụng đất của bà T4.
  5. Trần Văn N1, cũng nhận đủ 1.000m² vào ngày 24/3/1997. Trước đó ngày 04/12/1996 bà T4 đã làm di chúc cho ông N1. Do anh em ông đi làm ăn không hiểu biết nhiều pháp luật. Ông N1 cũng bán hết và bán theo kiểu chuyển nhượng giám hộ trên quyền sử dụng đất của bà T4 cho đến khi bà T4 mất, ông N1 tiếp tục mở di chúc của bà T4 thực hiện tiếp các quyền trên quyền sử dụng đất của bà T4 và thực hiện không còn mét vuông nào trên quyền sử dụng đất của bà T4, ông N1 đi xuất cảnh qua Mỹ.
  6. Trần Văn T, ngày 24/3/1997 ông cũng cắm mốc phần đất bà T4 cho ông. Lý do ông T nhận nhiều là nguồn gốc đất để lại tới 8.800m² theo di chúc chứ không phải 7575m² theo quyền sử dụng đất của bà T4. Khi ông T nhận thì có sự làm chứng của 7 anh em ông T cắm mốc ranh giới đàng hoàng và ông đi làm chuyển nhượng từ bà T4 chứ không phải cho tặng, có một phần anh em ông không hiểu luật nhiều nên thấy theo giấy phân chia là cứ đi kiện suốt 20 năm nay.

Đặc biệt là ông Trần Văn T3, sinh năm 1961. Ngày 24/3/1997 cũng cắm cột mốc ranh giới và giao cho ông Trần Văn T đứng luôn quyền sử dụng đất của bà T4 giao. Tại thời điểm đó ông T3 khoảng 36 tuổi công tác tại Nông trường S được ông Trần Ngọc H3 (5 Hoằng) chỉ đạo giao đất cho ông Trần Văn T hết.

Khi ông T làm quyền sử dụng đất xong thì ông T3 lấy quyền sử dụng đất của ông Tâm g cho ông (5 Hoằng xem) nói chung là tạo niềm tin cho ông 5 Hoằng. Thì ông 5 H4 ký toàn bộ tài sản của ba ông để lại khoảng 5ha, suất ngày xưa ba ông làm lò gạch. Từ 1998 - 2003 ông T3 yêu cầu ông T phải trả lại phần đất đó, ông T có ra ký trả lại và ông T3 kêu ông T chia ra làm 4 thửa cho: Trần Văn T3 02 thửa, Nguyễn Thị L (vợ) 01 thửa, Trần Thị Tố A (con) 01 thửa. Lý do ông T3 yêu cầu chuyển nhượng 04 thửa nhằm mục đích cho dự án bồi thường. Ông lúc đó là Tổ trưởng KV5, phường A, ông là người đo đạc cắm ranh giới cho ông T3 – T. Tổng diện tích 04 thửa khoảng 850m² còn 150m² đó là trừ vào nhà của bà Phan Thị P1 nay đã bán cho ông Lê Nhuận Đ2 – phần nhà ở, ông Đ2 bán lại cho ông T mua. Nói rõ hơn là 150m² bán cho bà P1, ông T3 nhận trước năm 1997 cất nhà. Trong quá trình đó ông T3 làm ăn thua lỗ, ông T3 trừ vào 100 triệu.

Thật ra anh em ông không hiểu luật nhiều nên T – T3 làm Hợp đồng chuyển nhượng chứ không phải làm hợp đồng tặng cho nên mới có sự việc như hôm nay. Ông cam kết tất cả anh em ông 7 người nhận đủ hết và đã bán theo kiểu chuyển nhượng giám hộ trên quyền sử dụng đất của bà T4, chỉ có ông Trần Văn T chuyển nhượng từ mẹ ông nên có giấy chủ quyền năm 1998 và đã rào tường cao 2m từ ao đìa mương lạn, ông đã bơm nạo vét suốt 24 năm. Ông cam kết trình bày ông làm, ông còn sáng suốt, không ai ép buộc ông, nếu sai ông hoàn toàn chịu trách nhiệm trước cơ quan pháp luật.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên Ủy ban nhân dân phường A trình bày:

Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 04/10/1997 bà Nguyễn Thị T4 chuyển nhượng cho ông Trần Văn T, đối với hợp đồng này hiện tại UBND phường không còn lưu trữ do sửa chữa trụ sở cơ quan và di dời trụ sở nhiều lần nên tài liệu 1997 đã thất lạc nên UBND phường không thể xác định tính hợp pháp của hợp đồng có xác nhận của UBND phường ngày 04/10/1997.

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên đưa ra xét xử, tại Bản án dân sự sơ thẩm số:298/2023/DS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên như sau:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N4 đối với bị đơn ông Trần Văn T. Buộc bị đơn ông Trần Văn T phải trả cho Ngân hàng N4 số nợ gốc và lãi của hợp đồng tín dụng, cụ thể:
    • - Gốc 2.000.000.000 đồng (hai tỉ đồng);
    • - Lãi trong hạn tính đến 16/10/2023 là: 1.058.670.000 đồng (một tỉ, không trăm năm mươi tám triệu, sáu trăm bảy mươi ngàn đồng).

    Bị đơn vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo số nợ gốc còn lại của Hợp đồng tín dụng tính từ ngày tiếp theo là ngày 17/10/2023 cho đến khi bị đơn trả xong nợ gốc cho nguyên đơn, lãi được tính theo mức lãi của Hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp bị đơn ông Trần Văn T không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng N4 có quyền yêu cầu Thi hành án phát mãi một phần tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 989/HDTC08 ngày 22 tháng 7 năm 2010, số chứng thực 3522 Quyển số 1/2010/TP/CC - SCC/HĐGD ngày 22 tháng 7 năm 2010 tại Phòng C2, thành phố Cần Thơ và được đăng ký thế chấp tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận N vào ngày 23 tháng 7 năm 2010 để thu hồi nợ, cụ thể:

    Được quyền phát mãi thửa đất số 143, tờ bản đồ số 44 tọa lạc tại phường A, quận N, thành phố Cần Thơ với diện tích 1822, 90m² theo GCNQSDĐ số K 376994 (vào sổ cấp GCN QSDĐ số 00328) do UBND tỉnh C cấp ngày 23/4/1998, chỉnh lý biến động ngày 24/12/2003 (qua kết quả đo đạc theo bản trích đo địa chính số 913/TTKTTNMT ngày 23/8/2023 với diện tích thửa 143 còn lại 1705,0m²).

    Giao thửa đất số 24 với diện tích 59,6m² - loại đất NĐ cho ông Trần Văn T quản lý, chăm sóc mồ mã gia đình. Đối với phần đường đi vào khu đất mộ, ghi nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn Ngân hàng N4 và bị đơn ông Trần Văn T về việc trong trường hợp phải phát mãi tài sản thế chấp tại thửa 143 để thu hồi nợ thì nguyên đơn ưu tiên cho bị đơn được mua lại phần đường đi vào khu mộ với giá tiền theo giá tại thời điểm thi hành án, về diện tích đường đi vào khu mộ do nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận tại giai đoạn thi hành án

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Trần Văn T3 đối với bị đơn ông Trần Văn T về việc: buộc bị đơn ông Trần Văn T cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều O (vợ ông T) phải có nghĩa vụ trả lại quyền sử dụng đất diện tích 1.000m2 thuộc một phần thửa đất số 24 và 143, tờ bản đồ số 44, loại đất trồng cây lâu năm, theo Giấy chứng nhận QSD đất số: 00328 do UBND tỉnh C (cũ) cấp ngày 23/4/1998 đứng tên hộ ông Trần Văn T, đất tọa lạc tại: 2 M (nay là đường L), khu V, P. A, Q. N, TP . và tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ký ngày 09/10/1997 giữa bà Nguyễn Thị T4 và ông Trần Văn T.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Trần Văn C, ông Trần Văn T2 và bà Trần Thị Tuyết M1 đối với bị đơn ông Trần Văn T về việc: Buộc bị đơn phải trả cho ông C, ông T2 và bà M1 phần đất có diện tích 448,6m2 (trong đó Trần Văn C: 190 m²; Trần Văn T2: 250 m²; Trần Thị Tuyết M1: 8,6 m²) tại thửa số 143 tờ bản đồ số 44 (chỉnh lý đo đạt ngày 24/12/2003) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp giấy số 00328.QSDĐ ngày 23 4 1998 của UBND tỉnh C, cấp cho hộ ông Trần Văn T, ước tính 1.100.000đ/m² và buộc bị đơn phải tách riêng biệt phần đất có diện tích 575m² để làm nơi thờ cúng theo di nguyện của bà Nguyễn Thị T4 tại thửa số 24 có diện tích 59,60m² và tại thửa số 143 có diện tích 515,40m² tờ bản đồ số 44 (chỉnh lý đo đạc ngày 24/12/2003) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp giấy số 00328.QSDĐ ngày 23/4/1998 của UBND tỉnh C, cấp cho hộ ông Trần Văn T.
  4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Trần Quốc M

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí định giá và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 27/12/2023: Ông Trần Văn C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ông cho rằng bản án chưa xem xét đánh giá chứng cứ toàn diện, khách quan nên xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông, ông đề nghị sửa bản án chấp nhận yêu cầu độc lập của ông, ông Nguyễn Văn T6 và bà Trần Thị Tuyết M1.

Ngày 04/01/2024: Ông Trần Văn T3 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ông cho rằng bản án chưa xem xét đánh giá chứng cứ toàn diện, khách quan nên xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông, ông đề nghị sửa bản án chấp nhận yêu cầu độc lập của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay,

* Quan điểm của luật sư Trần Nguyễn Duy T1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Văn C: Xuất phát từ sự thoả thuận cho đất năm 1997; sau đó có Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng theo đó xác định chữ ký của ông Trần Văn T3 người giám hộ của bà T4; chữ ký không phải của ông T3 nên không thể công nhận; hiện nay không sao lục được hồ sơ lưu nên tính pháp lý của hợp đồng là không có và chính phiên toà hôm nay ông T cũng thừa nhận ông đã làm hồ sơ qua dịch vụ để được cấp Giấy chứng nhận.

Đồng thời trong hồ sơ vụ án có công văn của Tòa án hỏi về tính pháp lý của Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ nhưng UBND phường A lại trả lời không còn lưu hồ sơ. Theo hồ sơ thể hiện thấy rằng năm 2010 ông C vẫn còn hộ khẩu tại phường A. Như vậy, đất là đất cấp cho hộ nên việc ông T tự ý ký hợp đồng thế chấp khi chưa có sự đồng ý của các thành viên trong hộ gia đình. Theo bản án năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, bị đơn ông T đã có lời khai nhận là nhà trọ do bà M1 xây dựng. Diện tích đất hiện nay của ông T biến động tăng lên nhưng không xác định được vì sao tăng. Đối với phần đất 575,5m2 theo Tờ chia đất là tặng cho có điều kiện; có đề cập đến phần đất thờ cúng thì không ai có quyền khiếu nại, nhưng ông T sử dụng đất không đúng như khi được nhận cho đất nên những người con khác có quyền yêu cầu ông Tâm g lại; Những căn cứ nêu trên luật sư đề nghị chấp nhận kháng cáo và đơn yêu cầu độc lập của ông C; buộc ông T tách thửa phần đất 575m² đất giao lại cho những người thừa kế khác gồm C, T6 và M1 quản lý chăm sóc, thờ cúng đúng theo Giấy chia đất năm 1997.

* Tranh luận của ông Đoàn Văn Đ1 - đại diện uỷ quyền của ông Trần Văn T3: Nguồn gốc đất của ông P và bà T4; quá trình sử dụng quản lý và được công nhận quyền sử dụng đất và bà T4 đã lập biên bản phân chia tài sản cho 7 người con vào ngày 24/3/1996: ông T3 thời điểm đó đi làm ăn xa nên chưa nhận đất và làm thủ tục tách thửa; năm 2003: ông T3 tiếp tục yêu cầu ông T tách thửa cho ông. Việc nhận chuyển nhượng giữa ông T và ông T3 năm 2003; ông T3 cũng giao cho ông T làm thủ tục. cùng thời điểm đó, ông T cho rằng đất đang thế chấp tại Ngân hàng ở Sóc Trăng nên không làm tách thửa cho ông T3 được. Điều này cho thấy tuy được phân chia tài sản nhưng ông T đã kê khai bao trùm lên đất của anh chị em nên diện tích đất của ông mới tăng lên nhiều sau khi đã cắt chuyển nhượng cho nhiều người nên diện tích đất đã tăng lên so với thời điểm được cho đất và đã chuyển nhượng cho nhiều người. Ông T3 chưa nhận được đất. Vì vậy, đề nghị hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 09/10/1997 giữa bà Nguyễn Thị T4 và ông Trần Văn T vì theo hợp đồng này có chữ ký của ông Trần Văn T3 là giám hộ là giả theo kết luận giám định chữ ký. Đồng thời, căn cứ vào Giấy chia đất cho các con lập ngày 24/3/1997 thì bà T4 có chia cho các con mỗi người 1000m², giấy chia đất này có xác nhận của chính quyền địa phương. Sau đó bà T4 tự ý ký chuyển nhượng cho ông T trong đó có 1000m² đất của ông T3. Hợp đồng chuyển nhượng về hình thức và nội dung đều không đúng quy định của luật đất đai vì không thể hiện giá tiền chuyển nhượng, không có xác nhận của cán bộ địa chính phường A vào thời điểm ký hợp đồng. Trên cơ sở hủy hợp đồng chuyển nhượng đề nghị ông Trần Văn T và vợ giao trả cho ông T3 1000m² thuộc thửa 24 và thửa 143.

Ngoài ra, phương án vay vốn ông T đề xuất cất nhà trọ nhưng Ngân hàng không kiểm tra được việc sử dụng nguồn vốn và vì vậy ông T vay không sử dụng đúng mục đích đã ghi nên đề nghị xem xét lại việc Ngân hàng cho vay có đúng quy trình hay không.

* Bị đơn ông Trần Văn T tranh luận: Tại sơ thẩm ông đề nghị giữ lại khu đất mồ mả của gia đình để thờ cúng và xin thỏa thuận mua lại lối đi vào khu đất mộ tại giai đoạn Thi hành án. Đối với các yêu cầu khởi kiện độc lập của ông C, ông T6, bà M1 và ông T3 ông không đồng ý, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu, bởi vì: Đối với yêu cầu của ông Trần Văn T3: Bà Nguyễn Thị T4 có quyền ký chuyển nhượng QSDĐ cho ông, bà T4 đã chuyển nhượng cho ông nên không có căn cứ chứng minh ông đang giữ 1000m² đất của ông Trần Văn T3. Đồng thời, năm 2003 ông đã ký chuyển nhượng cho ông T3 hơn 850m² đất cũng chính từ quyền sử dụng đất năm 1998 ông nhận chuyển nhượng từ mẹ ông, thời điểm ông ký chuyển nhượng QSDĐ cho ông T3 không có bất cứ khiếu nại hay tranh chấp đòi lại đất vì đứng tên dùm.

+ Đối với các yêu cầu khởi kiện của ông C, ông T6 và bà M1: Theo bản án 2003 đất mẹ ông đã chia, các anh em đã nhận đầy đủ theo bản án năm 2003 và 2006. Về ý kiến cho rằng năm 2003 ông cập nhật chỉnh lý đất đã cập nhật chồng lên QSDĐ của ông C, ông T6 và bà M1 là không có căn cứ vì năm 2003 ông C, ông T6 và bà M1 không có đất liền kề. Riêng bà M1 năm 2003 và 2006 có tranh chấp với ông N1 về Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, chính là phần đất khi bà M1 nhận chia từ mẹ đã bán cho ông N1 1000m² và trong bản án năm 2003 đã nhận định các anh em nhận xong phần đất theo Giấy chia đất ngày 24/3/1997 do mẹ ông lập.

* Đại diện ủy quyền của Ngân hàng tranh luận: Vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và giữ y như án sơ thẩm đã tuyên.

* Ông Trần Văn C tranh luận: Hợp đồng chuyển nhượng giữa bà T4 và ông T năm 1997 hoàn toàn không phù hợp với quy định của pháp luật, không có chữ ký thẩm tra của cán bộ địa chính phường nhưng ông chủ tịch UBND phường A vẫn ký xác nhận vào hợp đồng chuyển nhượng này.

* Ông Trần Văn N2 trình bay: Ông T là con út, sống chung nuôi dưỡng mẹ già cho đến cuối đời nên mẹ ông mới cho thêm T phần đất 575m², T đã có công sức rất lớn đối với gia đình đất cha mẹ đã phân chia các anh em đã nhận đủ nay quay lại tranh chấp thì ông không đồng ý.

*Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:

Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn kháng cáo của ông C và ông T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đều trong hạn luật định và đã nộp tiền án phí phúc thẩm hoặc thuộc trường hợp miễn án phí nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T thanh toán nợ theo Hợp đồng tín dụng và bị đơn ông T thừa nhận xác định còn nợ vốn gốc. Nguyên đơn chỉ áp dụng lãi trong hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và tự nguyện miễn lãi quá hạn cho bị đơn. Hợp đồng bảo đảm bằng tài sản thế chấp và được đăng ký thế chấp tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận N.

Xét kháng cáo của ông T3 và ông C đều có liên quan đến phần đất thế chấp nên vì thế cần đánh giá lại đối với quá trình cấp Giấy chứng nhận:

Căn cứ vào GCNQSDĐ số K376994 (vào sổ cấp GCN QSDĐ số 00328) do UBND tỉnh C cấp ngày 23/4/1998, chỉnh lý biến động ngày 24/12/2003 thể hiện GCNQSDĐ cấp cho hộ T, tuy nhiên qua xem xét hồ sơ cấp GCNQSDĐ thể hiện rằng, QSDĐ ông T được bà Nguyễn Thị T4 là mẹ ruột chuyển nhượng cho con. Xác định phần đất ông T đứng tên là tài sản do ông T được mẹ ruột cho tặng nên khi ông T ký Hợp đồng thế chấp vẫn đảm bảo đúng quy định về “Giao dịch đảm bảo".

Đối với yêu cầu xử lý toàn bộ tài sản thế chấp của Ngân hàng, trong đó có 59,6m² đất NĐ thuộc thửa đất số 24, đây là thửa đất mộ của gia đình ông T, 02 bên thống nhất xử lý phần tài sản thế chấp này và phần đường đi vào khu đất mộ, ông T yêu cầu nếu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì Ngân hàng ưu tiên cho ông được mua lại phần đường đi vào khu mộ với giá tiền theo giá tại thời điểm thi hành án.

Ông Trần Văn T3 yêu cầu ông T, bà O trả lại quyền sử dụng đất diện tích 1.000m² thuộc phần thửa đất số 24 và 143, tờ bản đồ số 44, loại đất trồng cây lâu năm cho ông Trần Văn T3 đứng tên chủ sử dụng đất hợp pháp theo quy định pháp luật, vị trí yêu cầu ông T, bà O trả lại là vị trí A,B,C theo Bản trích đo địa chính số 913/TTKTTNMT ngày 23/8/2023 của Trung tâm kỹ thuật, tài nguyên môi trường lập. Ông Trần Văn T3 cho rằng nguồn gốc đất ông yêu cầu trả lại do bà Nguyễn Thị T4 là mẹ ruột của ông T và ông T3 đã lập “Giấy chia đất cho các con” được lập ngày 24/3/1997, theo giấy chia đất này ông được cho 1000m² nhưng do thời điểm đó ông đi làm ăn xa nên phần đất này đã bị ông Trần Văn T làm thủ tục hợp thức hóa bao trùm lên.

Căn cứ kết luận giám định chữ ký của ông Trần Văn T3 trong “Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 09/10/1997 với tư cách người làm chứng là không phải do một người ký ra;

Căn cứ vào hồ sơ cấp GCNQSDĐ số 00328 ngày 23/4/1998 cho ông Trần Văn T thể hiện gồm: “Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất cho con ngày 25/9/1997; HĐCNQSDĐ ngày 09/10/1997, sơ đồ nhà ở và đất ở, biên bản đo đạc, thẩm tra xác minh nhà và đất...” đều có xác nhận của UBND phường A hồ sơ cấp cho ông Trần Văn T đã thất lạc.

Tuy nhiên, Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và Môi trường thành phố C xác nhận trình tự thủ tục chuyển nhượng - nhận chuyển nhượng và cấp GCNQSDĐ cho bị đơn ông Trần Văn T là hoàn toàn hợp pháp, phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 1993.

Căn cứ vào GCNQSDĐ số 00103 cấp ngày 11/3/1997 do bà Nguyễn Thị T4 đứng tên thì sau khi chuyển nhượng cho ông T, phần chỉnh lý trang 4 vẫn ghi nhận diện tích đất còn lại của bà Nguyễn Thị T4 là 4758,6m².

Căn cứ vào tờ phân chia đất nhận thấy: “... Như vậy tờ phân chia này coi như tờ di chúc sau này của bà T4 và căn cứ vào tờ phân chia này thì bà M1 được hưởng 1.000m² đất và quyền sử dụng trên phần đất này của bà M1. Phần các con khác sau khi phân chia đã ổn định không xảy ra tranh chấp...”.

Xét thấy, cấp sơ thẩm giải quyết vụ án trên là có căn cứ và hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, Ông T3 và ông C kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở xem xét và chấp nhận.

Từ những căn cứ phân tích như trên: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều không chấp nhận kháng cáo Trần Văn T3 và ông Trần Văn C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên; ý kiến của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp và hiện nay phía bị đơn không thực hiện việc trả nợ gốc, nợ lãi nên đã phát sinh tranh chấp; Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho rằng không ký hợp đồng thế chấp, đã bị bị đơn lấn chiếm đất nên khởi kiện và cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu nên có tranh chấp. Do vậy, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng thế chấp, đòi lại tài sản và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 2, khoản 11 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như án sơ thẩm nhận định là phù hợp.

Bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn quận N và tài sản tranh chấp là bất động sản có địa chỉ tại địa bàn quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kiều O, ông Trần Quốc M, ông Trần Văn N1 có yêu cầu xét xử vắng mặt; Ủy ban nhân dân phường A, ông Lê Nhuận Đ2 đã được triệu tập nhưng vắng mặt đến lần thứ 2, do đó Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự là phù hợp.

[3] Về nội dung kháng cáo:

Đối với số nợ gốc; tiền lãi trong hạn và quá hạn của nguyên đơn đối với bị đơn, các bên không ai đặt ra kháng cáo nên giữ y như án sơ thẩm đã tuyên.

[4] Xét các yêu cầu kháng cáo và là yêu cầu độc lập của ông Trần Văn T3:

[4.1] Xét Yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Trần Văn T cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều O (vợ ông T) phải có nghĩa vụ trả lại quyền sử dụng đất diện tích 1.000m² thuộc phần thửa đất số 24 và 143, tờ bản đồ số 44, loại đất: Trồng cây lâu năm, thuộc Giấy chứng nhận QSD đất số: 00328 do UBND tỉnh C (cũ) cấp ngày 23/4/1998 đứng tên hộ ông Trần Văn T, đất tọa lạc tại: 2 M (nay là đường L), khu vực 5, P. A, Q. N, TP . cho ông Trần Văn T3 đứng tên chủ sử dụng đất hợp pháp theo quy định pháp luật, vị trí yêu cầu ông T, bà O trả lại là vị trí A, B, C theo Bản trích đo địa chính số 913/TTKTTNMT ngày 23/8/2023 của Trung tâm K lập. Ông Trần Văn T3 cho rằng nguồn gốc đất ông yêu cầu trả lại do bà Nguyễn Thị T4 – là mẹ ruột của ông T và ông T3 đã lập “Giấy chia đất cho các con” được lập ngày 24/3/1997, theo giấy chia đất này ông được cho 1000m² nhưng do thời điểm đó ông đi làm ăn xa nên phần đất này đã bị ông Trần Văn T làm thủ tục hợp thức hóa bao trùm lên.

[4.2] Cấp sơ thẩm nhận định mặc dù có kết luận giám định chữ ký của ông Trần Văn T3 trong “Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 09/10/1997” với tư cách người làm chứng là không phải do một người ký ra nhưng căn cứ vào hồ sơ cấp GCNQSDĐ số 00328 ngày 23/4/1998 cho ông Trần Văn T thể hiện gồm có “đơn xin chuyển quyền sử dụng đất cho con ngày 25/9/1997, Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 09/10/1997, sơ đồ nhà ở và đất ở, biên bản đo đạc, thẩm tra xác minh nhà và đất...” đều có xác nhận của UBND phường A. Tòa án có Công văn yêu cầu UBND phường A xác định về tính pháp lý của Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ lập ngày 09/10/1997 giữa bà Nguyễn Thị T4 và ông Trần Văn T, mặc dù UBND phường A trả lời là đã làm thất lạc hồ sơ nhưng qua các chứng cứ nêu trên được trích lục tại Trung tâm K – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C thể hiện trình tự thủ tục chuyển nhượng - nhận chuyển nhượng và cấp GCNQSDĐ cho bị đơn ông Trần Văn T là hoàn toàn hợp pháp, phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 1993. Đồng thời, căn cứ vào GCNQSDĐ số 00103 cấp ngày 11/3/1997 do bà Nguyễn Thị T4 đứng tên thì sau khi chuyển nhượng cho ông T, phần chỉnh lý trang 4 vẫn ghi nhận diện tích đất còn lại của bà Nguyễn Thị T4 là 4758,6m². Ngoài ra, căn cứ vào Bản án số 253/DSST ngày 11/7/2003 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã nêu tại phần nhận định như sau: “...Như vậy tờ phân chia này coi như tờ di chúc sau này của bà T4. Và căn cứ vào tờ phân chia này thì bà M1 được hưởng 1.000m² đất và quyền sử dụng trên phần đất này của bà M1. Phần các con khác sau khi phân chia đã ổn định không xảy ra tranh chấp...” (bút lục 131).

[4.3] Ngoài ra, cấp sơ thẩm nhận định về chứng cứ khác đó là việc bị đơn ông Trần Văn T đã chuyển nhượng cho ông Trần Văn T3 và gia đình tổng cộng 04 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, việc chuyển nhượng và công nhận Hợp đồng chuyển nhượng được thể hiện tại Bản án dân sự phúc thẩm số 74/2021/DS-PT ngày 23/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ (bút lục số 237-240). Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của ông T3 cho rằng ông T3 không biết được bị đơn ông T được cấp GCNQSDĐ là không có cơ sở.

Từ những nhận định nêu trên, cấp phúc thẩm thấy rằng yêu cầu khởi kiện độc lập và yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T3 về việc đòi lại tài sản 1.000m² của ông Trần Văn T là không có cơ sở xem xét.

[4.4] Xét yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Trần Văn T3 về việc tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ký ngày 09/10/1997 giữa bà Nguyễn Thị T4 và ông Trần Văn T: Như phần nhận định nêu trên về trình tự thủ tục chuyển nhượng QSDĐ giữa bà T4 và ông T là đúng quy định của Luật Đất đai nên yêu cầu này của ông Trần Văn T3 cũng không có căn cứ chấp nhận.

[5] Xét các yêu cầu kháng cáo và là yêu cầu độc lập của ông Trần Văn C, ông Trần Văn T2 và bà Trần Thị Tuyết M1:

[5.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện độc lập, ông Trần Văn C yêu cầu ông Trần Văn T phải trả lại phần đất có diện tích 190 m² thuộc thửa đất số 143, vị trí A (một phần của vị trí A), ông Trần Văn T2 yêu cầu bị đơn ông Trần Văn T phải trả lại phần đất có diện tích 250 m² thuộc thửa đất số 143, vị trí A, C, E ; bà Trần Thị Tuyết M1 yêu cầu bị đơn ông Trần Văn T phải trả lại phần đất có diện tích 8,6 m² thuộc thửa đất số 143, vị trí C. Ông C yêu cầu tại 4 vị trí là A; C;D; E; Ông T3 yêu cầu tại 3 ví trí A; B; C. Tổng cộng các vị trí này sau khi trừ đi phần mộ là yêu cầu tổng cộng trả là 1.919,8 m2 trong đó có trừ đi phần đất mộ là 59,6m2; Như vậy diện tích đất ông T còn lại trong tổng số diện tích đất này chỉ còn lại 252,3m2.

Thấy rằng, như án sơ thẩm đã phân tích, các vị trí đất này ông T đang làm người đang quản lý sử dụng từ trước đến nay, là người quản lý và đăng ký kê khai được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, qua các Bản án 253/DSST ngày 11/7/2003 của Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ đã nhận định rõ bà M1 và kể cả các con khác sau khi phân chia đã ổn định không xảy ra tranh chấp do vậy nên bà M1, ông C, ông T2 và ông T3 có yêu cầu đòi lại đất là không có cơ sở xem xét.

[5.2] Đối với yêu cầu về việc buộc ông Trần Văn T phải tách thửa đối với phần nhà hương hỏa và đất mộ với diện tích là 575m² thuộc thửa 143, vị trí E, B (thửa 24) để làm nơi thờ cúng, phần này.

Như án sơ thẩm nhận định, “Giấy chia đất cho các con” được lập ngày 24/3/1997. Trong đó có đề cập đến phần diện tích đất 575m² bà Nguyễn Thị T4 có đề cập “giao cho ông T canh tác, nuôi bà T4 và giao cho ông T được toàn quyền sử dụng, thờ cúng ông bà các con không được quyền khiếu nại”. Trong giấy chia đất này chỉ nêu đến phần diện tích này giao cho ông T mà hoàn toàn không có điều kiện kèm theo là sẽ giao lại quyền quản lý cho các người con khác. Do đó, yêu cầu khởi kiện này của các ông C, T2 và bà M1 cũng không có căn cứ chấp nhận.

[6] Vấn đề người đại diện của ông C và ông T3 đặt ra việc sử dụng vốn không đúng mục đích khi vay; đây là việc các bên thoả thuận trong quá trình vay vốn không làm cơ sở để huỷ Hợp đồng tín dụng mà ông T đã ký với Ngân hàng, trong quá trình dài sử dụng vốn các bên không tranh chấp vấn đề này nên việc đặt lại vấn đề này không làm thay đổi việc các bên đã ký nhận nợ và đồng ý trả nợ. Án sơ thẩm đã phân tích Hợp đồng thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm nên có hiệu lực. Ngoài ra tại giai đoạn sơ thẩm các bên cũng đồng ý đối với phần đất mộ và dành cho nguyên đơn phần ưu tiên mua lại phần đường đi vào khu mộ tại giai đoạn thi hành án. Như án sơ thẩm nhận định đây là sự tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật nên ghi nhận là phù hợp; cấp phúc thẩm không đánh giá lại. Xét tranh luận của luật sư T1, đại diện uỷ quyền của ông C và đại diện uỷ quyền của ông T3 là chưa có căn cứ chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông T3 và ông C không được chấp nhận nên các đương sự kháng cáo phải chịu án phí. Ông T3 là người cao tuổi nên được miễn án phí.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ được chấp nhận do phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của Trần Văn C, Trần Văn T3. Giữ y bản án sơ thẩm;

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N4 đối với bị đơn ông Trần Văn T. Buộc bị đơn ông Trần Văn T phải trả cho Ngân hàng N4 số nợ gốc và lãi của hợp đồng tín dụng, cụ thể:
    • - Gốc 2.000.000.000 đồng (hai tỉ đồng);
    • - Lãi trong hạn tính đến 16/10/2023 là: 1.058.670.000 đồng (một tỉ, không trăm năm mươi tám triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng).

    Bị đơn vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo số nợ gốc còn lại của Hợp đồng tín dụng tính từ ngày tiếp theo là ngày 17/10/2023 cho đến khi bị đơn trả xong nợ gốc cho nguyên đơn, lãi được tính theo mức lãi của Hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp bị đơn ông Trần Văn T không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng N4 có quyền yêu cầu Thi hành án phát mãi một phần tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 989/HDTC08 ngày 22 tháng 7 năm 2010, số chứng thực 3522 Quyển số 1/2010/TP/CC - SCC/HĐGD ngày 22 tháng 7 năm 2010 tại Phòng C2, thành phố Cần Thơ và được đăng ký thế chấp tại Phòng T vào ngày 23 tháng 7 năm 2010 để thu hồi nợ, cụ thể:

    Được quyền phát mãi thửa đất số 143, tờ bản đồ số 44 tọa lạc tại phường A, quận N, thành phố Cần Thơ với diện tích 1822, 90m² theo GCNQSDĐ số K 376994 (vào sổ cấp GCN QSDĐ số 00328) do UBND tỉnh C cấp ngày 23/4/1998, chỉnh lý biến động ngày 24/12/2003 (qua kết quả đo đạc theo bản trích đo địa chính số 913/TTKTTNMT ngày 23/8/2023 với diện tích thửa 143 còn lại 1705,0m²).

    Giao thửa đất số 24 với diện tích 59,6m² - loại đất NĐ cho ông Trần Văn T quản lý, chăm sóc mồ mã gia đình. Đối với phần đường đi vào khu đất mộ, ghi nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn Ngân hàng N4 và bị đơn ông Trần Văn T về việc trong trường hợp phải phát mãi tài sản thế chấp tại thửa 143 để thu hồi nợ thì nguyên đơn ưu tiên cho bị đơn được mua lại phần đường đi vào khu mộ với giá tiền theo giá tại thời điểm thi hành án, về diện tích đường đi vào khu mộ do nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận tại giai đoạn thi hành án

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Trần Văn T3 đối với bị đơn ông Trần Văn T về việc: buộc bị đơn ông Trần Văn T cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều O (vợ ông T) phải có nghĩa vụ trả lại quyền sử dụng đất diện tích 1.000m2 thuộc một phần thửa đất số 24 và 143, tờ bản đồ số 44, loại đất trồng cây lâu năm, theo Giấy chứng nhận QSD đất số: 00328 do UBND tỉnh C (cũ) cấp ngày 23/4/1998 đứng tên hộ ông Trần Văn T, đất tọa lạc tại: 2 M (nay là đường L), khu V, P. A, Q. N, TP . và tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ký ngày 09/10/1997 giữa bà Nguyễn Thị T4 và ông Trần Văn T.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Trần Văn C, ông Trần Văn T2 và bà Trần Thị Tuyết M1 đối với bị đơn ông Trần Văn T về việc: Buộc bị đơn phải trả cho ông C, ông T2 và bà M1 phần đất có diện tích 448,6m2 (trong đó Trần Văn C: 190 m²; Trần Văn T2: 250 m²; Trần Thị Tuyết M1: 8,6 m²) tại thửa số 143 tờ bản đồ số 44 (chỉnh lý đo đạt ngày 24/12/2003) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp giấy số 00328.QSDĐ ngày 23 4 1998 của UBND tỉnh C, cấp cho hộ ông Trần Văn T, ước tính 1.100.000đ/m² và buộc bị đơn phải tách riêng biệt phần đất có diện tích 575m² để làm nơi thờ cúng theo di nguyện của bà Nguyễn Thị T4 tại thửa số 24 có diện tích 59,60m² và tại thửa số 143 có diện tích 515,40m² tờ bản đồ số 44 (chỉnh lý đo đạc ngày 24/12/2003) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ cấp giấy số 00328.QSDĐ ngày 23/4/1998 của UBND tỉnh C, cấp cho hộ ông Trần Văn T.
  4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Trần Quốc M
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bị đơn ông Trần Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 93.173.400 đồng (chín mươi ba triệu, một trăm bảy mươi ba nghìn, bốn trăm đồng).
    • - Nguyên đơn Ngân hàng N4 được nhận lại 56.450.500đ (năm mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi nghìn, năm trăm đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 002205, ngày 07/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
    • - Ông Trần Văn T3, ông Trần Văn T2 và bà Trần Thị Tuyết M1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Ông Trần Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.450.000 đồng (mười triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng), ông C đã nộp tạm ứng án phí 5.051.000 đồng (năm triệu, không trăm năm mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000628 ngày 07/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ được chuyển thành án phí, ông C còn phải nộp tiếp 5.399.000 đồng (năm triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn đồng).
    • - Ông Trần Quốc M được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 001794 ngày 12/9/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
  6. Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định, đo đạc và trưng cầu giám định chữ ký tổng cộng là 33.902.680 đồng (ba mươi ba triệu, chín trăm lẻ hai nghìn, sáu trăm tám mươi đồng), trong đó:
    • - Bị đơn ông Trần Văn T phải chi phí thẩm định ngày 19/8/2020 là 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng), nguyên đơn Ngân hàng N4 đã tạm ứng 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), bị đơn có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng), nguyên đơn được nhận lại 5.400.000 đồng (năm triệu bốn trăm nghìn đồng) tạm ứng chi phí tố tụng, nguyên đơn đã nhận xong.
    • - Ông Trần Văn T3 phải chịu chi phí đo đạc, thẩm định ngày 20/12/2022 là 7.360.000 đồng (bảy triệu, ba trăm sáu mươi nghìn đồng) và chi phí giám định chữ ký là 6.862.000 đồng (sáu triệu, tám trăm sáu mươi hai nghìn đồng). Ông Trần Văn T3 đã tạm ứng chi phí tố tụng tổng cộng là 14.500.000 đồng (mười bốn triệu, năm trăm nghìn đồng), ông T3 được nhận lại 272.000 đồng (hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng), ông T3 đã nhận xong.
    • - Ông Trần Văn C, ông Trần Văn T2 và bà Trần Thị Tuyết M1 phải chịu chi phí đo đạc, thẩm định ngày 05/7/2022 là 7.537.340 đồng (7.537.340 chia 3 = 2.512.446 đồng). Ông Trần Văn C đã tạm ứng 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), ông C được nhận lại 7.462.660 đồng (bảy triệu, bốn trăm sáu mươi hai nghìn, sáu trăm sáu mươi đồng) tạm ứng chi phí tố tụng, ông C đã nhận xong. Ông Trần Văn T2, bà Trần Thị Tuyết M1 mỗi người phải có trách nhiệm trả lại cho ông C số tiền 2.512.446 đồng (hai triệu, năm trăm mười hai nghìn, bốn trăm bốn mươi sáu đồng)
    • - Ông Trần Quốc M phải chịu chi phí đo đạc, thẩm định ngày 06/7/2023 là 7.537.340 đồng (bảy triệu, năm trăm ba mươi bảy nghìn, ba trăm bốn mươi đồng), ông Trần Quốc M đã nộp đủ.
  7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chuyển tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000721 ngày 27/12/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Ông Trần Văn T3 được miễn án phí do là người cao tuổi.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (ngày 04/6/2024).

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSNDTPCT;
  • - TAND Q. Ninh Kiều;
  • - CC THADS Q.Ninh Kiều;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Minh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 245/2024/DS-PT ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, đòi lại tài sản và tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng cnqsdđ

  • Số bản án: 245/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, đòi lại tài sản và tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng CNQSDĐ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger