TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 245/2023/HSST. Ngày: 27/9/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Lương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lò Văn Sung;
- Ông Lù Văn Lả.
- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Đoản – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đ B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 252/2023/TLST- HS ngày 13/9/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2023/QĐXXST- HS ngày 15/9/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn D, tên gọi khác: Không, sinh năm: 2000, tại Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản T L, xã T A, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cà Văn Cường, sinh năm 1980 và bà: Lò Thị Út, sinh năm 1982; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: 01 tiền án (Ngày 21/01/2021 bị TAND huyện Đ B xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 09/8/2022 chấp hành xong, nay chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/5/2017 bị Công an huyện Đ B ra Quyết định xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 08/5/2017 chấp hành xong; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2023 cho đến nay. "Có mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 02/6/2023, bị cáo đi bộ từ nhà đến khu vực đường thuộc bản Xôm, xã T A, huyện Đ B với mục đích là mua ma túy về sử dụng. Bị cáo gặp và mua được 01 gói Heroine và 01 gói Methamphetamine với giá tiền là 3.000.000 đồng của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên và địa chỉ). Sau đó bị cáo cất số ma túy vào túi quần đang mặc rồi đi bộ về nhà. Hồi 20 giờ cùng ngày bị cáo lấy 03 viên Methamphetamine ra sử dụng, số còn lại cất giấu dưới đệm ngủ. Khoảng 12 ngày 03/6/2023 bị cáo lấy một ít Heroine ra sử dụng, khi vừa sử dụng xong tại nhà thì bị tổ công tác Công an huyện Đ B đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng là 01 gói Heroine và 01 gói Methamphetamine do bị cáo tự giao nộp.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 03/6/2023 đã xác định:
- Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 8,22 gam;
- Số viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 10,08 gam;
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số: 873/KL-KTHS ngày 10/6/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Cà Văn D gửi giám định là Heroine;
- Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của Cà Văn D gửi giám định là Methamphetamine;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 194/CT-VKSĐB ngày 13/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B đã truy tố bị cáo Cà Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm n Khoản 2 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm n Khoản 2 Điều 249/BLHS, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52/BLHS; Điều 38/BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 7,97 gam Heroine hoàn lại sau giám định và 8,08 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định. Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và Luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Tôi biết hành vi của tôi là vi phạm pháp luật, tôi xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của tôi, cho tôi xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi của bị cáo: Ngày 02/6/2023 bị cáo đi mua ma túy về sử dụng, bị cáo đã sử dụng 03 viên hồng phiến và một ít Heroine thì bị bắt quả tang ngày 03/6/2023 cùng 01 gói Heroine có khối lượng 8,22 gam và 01 gói Methamphetamine có khối lượng 10,08 gam, tổng khối lượng hai chất ma túy là 18,30 gam. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội qua tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm n Khoản 2 Điều 249/BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
[2]. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là rất nghiêm trọng, nên cần phải xử lý theo quy định của pháp luật.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52/BLHS.
Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS.
Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.
[4]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Đ B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ có được là do bị cáo mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi, do bị cáo không biết tên và địa chỉ nên CQĐT không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ được.
[7]. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
[8]. Vật chứng: 7,97 gam Heroine hoàn lại sau giám định và 8,08 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định) cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm n Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52/BLHS; Điều 38/BLHS.
1.Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Cà Văn D 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 03/6/2023.
3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
4. Về vật chứng: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 7,97 gam Heroine hoàn lại sau giám định và 8,08 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định.
(Vật chứng đã được công an huyện Đ B chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B ngày 13/9/2023).
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333/BLTTHS; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Lương |
HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TỌA | HỘI THẨM NHÂN DÂN |
Lò Văn Sung | Lường Văn Lương | Lù Văn Lả |
Bản án số 245/2023/HSST ngày 27/09/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 245/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 02/6/2023 bị cáo đi mua ma túy về sử dụng, bị cáo đã sử dụng 03 viên hồng phiến và một ít Heroine thì bị bắt quả tang ngày 03/6/2023 cùng 01 gói Heroine có khối lượng 8,22 gam và 01 gói Methamphetamine có khối lượng 10,08 gam, tổng khối lượng hai chất ma túy là 18,30 gam
