Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 244/2024/DS-ST

Ngày 31-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Tú Nhi;

2. Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 228/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 258/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 260/2024/QÐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Vũ Vinh Q, sinh năm 1982 - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung. Thường trú: số E, đường số B, khu dân cư A, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền:

1. Ông Nguyễn Tiến P, sinh năm 1990. Thường trú: xóm T, tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

2. Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1998. Thường trú: A4.02, Lô A, chung cư F, đường L, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn:

1. Bà Trần Thị N, sinh năm 1972.

2. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1970. Thường trú: số C, đường số I, tổ A, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2

Cùng cư trú tại: số E, đường D, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 3 năm 2024, lời khai trong quá trình tổ tụng, nguyên đơn ông Vũ Vinh Q - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc D và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 11/02/2022, vợ chồng ông bà Trần Thị N và Nguyễn Văn L có vay của ông Vũ Vinh Q – là chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung với số tiền vay là: 1.250.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 4%/tháng, trả lãi vào ngày 11 hàng tháng, thời hạn vay kể từ ngày 11/02/2022. Ông Q đã giao đủ tiền vay cho ông L, bà N thông qua tiền mặt/chuyển khoản vào tài khoản của bà Trần Thị N với chi tiết cụ thể như sau:

  • - Ngày 11 tháng 02 năm 2022, ông Q chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng TMCP Q1, số tài khoản 100007203068 của bà Trần Thị N số tiền 1.200.000.000 đồng (03 lần chuyển khoản, mỗi lần chuyển khoản 400.000.000 đồng).
  • - Ngày 11/02/2022, ông Q có giao cho bà N 10.000.000 đồng tiền mặt nhưng hai bên không làm giấy tờ giao nhận tiền.
  • - Ngày 07 tháng 3 năm 2022, ông Q chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng TMCP S, số tài khoản 060247652038 của bà Trần Thị N số tiền 40.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho việc trả nợ vay nêu trên, hai bên ký Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 11/02/2022, ông L, bà N cầm cố quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại thửa đất số 2297, tờ bản đồ số 8AB.4 tọa lạc tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 09/11/2010 cho bà Trần Thị N. Đồng thời, ông L, bà N ký Hợp đồng ủy quyền cho ông Q được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, cho thuê, góp vốn...đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 2297, tờ bản đồ số 8AB.4 nêu trên (theo Hợp đồng ủy quyền có số công chứng: 002410 do công chứng viên tại Văn phòng C chứng nhận vào ngày 11/02/2022). Các bên thỏa thuận trường hợp đến hạn trả nợ gốc mà bà N, ông L thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi cho ông Q thì hai bên cùng nhau ra Văn phòng công chứng để hủy Hợp đồng ủy quyền, ngược lại nếu ông L, bà N không trả hoặc trả không đầy đủ khoản vay thì ông Q có toàn quyền định đoạt đối với tài sản cầm cố.

Tuy nhiên, tới hạn ông L, bà N vẫn không hoàn trả tiền nợ gốc cho ông Q mặc dù ông Q đã nhiều lần liên hệ, yêu cầu thanh toán. Tính tới ngày 10/8/2023, ông L, bà N đã thanh toán cho ông Q tiền lãi tổng cộng: 250.000.000 đồng thông qua chuyển khoản vào tài khoản của Vũ Vinh Q, số tài khoản: 485078 mở tại Ngân hàng TMCP Á (A) với chi tiết cụ thể như sau:

  • - Ngày 06/5/2022, chuyển khoản 50.000.000 đồng.
  • - Ngày 12/5/2022, chuyển khoản 50.000.000 đồng.

3

  • - Ngày 19/7/2022, chuyển khoản 40.000.000 đồng.
  • - Ngày 23/9/2022, chuyển khoản 50.000.000 đồng.
  • - Ngày 16/02/2023, chuyển khoản 20.000.000 đồng.
  • - Ngày 09/3/2023, chuyển khoản 20.000.000 đồng.
  • - Ngày 10/8/2023, chuyển khoản 20.000.000 đồng.

Toàn bộ số tiền này tương ứng với tiền lãi trong hạn từ ngày 11/02/2022 đến ngày 10/08/2023.

Ngày 30/3/2024, ông Q có văn bản yêu cầu bà N, ông L thanh toán toàn bộ khoản vay nợ gốc, nợ lãi cho ông Q trước ngày 03/4/2024. Theo đó, theo B của bưu điện bà N, ông L đã nhận được văn bản yêu cầu thanh toán vào ngày 01/4/2024. Tuy nhiên, hết ngày 03/4/2024 ông L, bà N vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi cho ông Q.

Nay, nguyên đơn ông Vũ Vinh Q - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L trả cho ông Vũ Vinh Q - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung số tiền nợ gốc là 1.240.000.000 đồng theo Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 11/02/2022 (riêng đối với số tiền nợ gốc 10.000.000 đồng ông Q giao cho bà N bằng tiền mặt, trong quá trình lưu trữ hồ sơ ông Q đã làm thất lạc chứng từ giao dịch đối với số tiền này, bị đơn vắng mặt trong suốt toàn bộ quá trình tố tụng nên chưa thể đối chất, vì vậy nguyên đơn không yêu cầu giải quyết đối với số tiền nợ gốc 10.000.000 đồng giao tiền mặt trong vụ án này và sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác khi có đủ điều kiện khởi kiện).
  2. Buộc bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L trả cho ông Vũ Vinh Q - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung số tiền lãi như sau:
    • - Lãi suất trong hạn tính từ ngày 11/8/2023 đến ngày 03/4/2024 (236 ngày): 1.240.000.000 đồng x 10%/365 ngày x 236 ngày = 80.175.342 đồng.
    • - Lãi suất quá hạn tính từ ngày 04/4/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 31/7/2024 (119 ngày): 1.240.000.000 đồng x 150%x10%/365 ngày) x 119 ngày = 60.641.095 đồng.

Như vậy, tính tới ngày 31/7/2024, tổng số tiền ông L, bà N phải trả ông Q là: 1.240.000.000 đồng + 140.816.437 đồng = 1.380.816.437 đồng.

Đối với Hợp đồng ủy quyền số công chứng: 002410 ngày 11/02/2022 ông Vũ Vinh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 868602, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00528 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 09/11/2010 cho bà Trần Thị N đã cầm cố theo Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 11/02/2022 thì ông Q sẽ trả lại cho bà N và ông L ngay khi ông L, bà N thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi cho ông Q.

4

- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Vũ Vinh Q - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L, cùng cư trú tại số E, đường D, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thanh T vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Bị đơn bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L vắng mặt tất cả các lần Tòa án triệu tập là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[4] Về quan hệ vay tài sản: Xét thấy, theo Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 11/02/2022 giữa ông Vũ Vinh Q - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung với bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L có nội dung: Ông Q cho bà N và ông L vay số tiền 1.250.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận, hình thức trả lãi vào ngày 11 mỗi tháng bằng hình thức chuyển khoản hoặc tiền mặt. Bà N và ông L đồng ý cầm cố quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại thửa đất số 2297, tờ bản đồ số 8AB.4 tọa lạc tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 09/11/2010 cho bà

5

Trần Thị N. Đồng thời, ông L, bà N ký Hợp đồng ủy quyền cho ông Q được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, cho thuê, góp vốn...đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 2297, tờ bản đồ số 8AB.4 nêu trên theo Hợp đồng ủy quyền có số công chứng: 002410 tại Văn phòng C chứng nhận vào ngày 11/02/2022. Trường hợp bà N và ông L trả hết nợ gốc, tiền lãi thì hai bên sẽ hủy hợp đồng ủy quyền. Thực hiện Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 11/02/2022, ông Q đã chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng cho bà N 04 lần với số tiền 1.240.000.000 đồng, bà N cũng đã trả tiền lãi cho ông Q qua tài khoản Ngân hàng từ ngày 11/02/2022 đến ngày 10/8/2023 số tiền 250.000.000 đồng. Quá trình tố tụng, bị đơn bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L không có ý kiến hay cung cấp tài liệu, chứng cứ để phản bác phần trình bày cũng như chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, căn cứ vào Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 11/02/2022; các sao kê Ngân hàng chuyển tiền của ông Q cho bà N và lời khai của nguyên đơn có cơ sở xác định bà N và ông L có vay của ông Vũ Vinh Q - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung số tiền 1.240.000.000 đồng. Vì vậy, nguyên đơn ông Vũ Vinh Q - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L trả lại số tiền nợ gốc là 1.240.000.000 đồng theo Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 11/02/2022 là có cơ sở để chấp nhận.

[5] Về yêu cầu tính lãi: Theo nguyên đơn trình bày kể từ ngày 10/8/2023 đến nay thì bà N và ông L không còn trả lãi hàng tháng cho ông Q. Nay, ông Q yêu cầu bà N và ông L trả số tiền lãi là 140.816.437 đồng, trong đó:

  • - Lãi suất trong hạn tính từ ngày 11/8/2023 đến ngày 03/4/2024 (236 ngày): 1.240.000.000 đồng x 10%/365 ngày x 236 ngày = 80.175.342 đồng.
  • - Lãi suất quá hạn tính từ ngày 04/4/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 31/7/2024 (119 ngày): 1.240.000.000 đồng x 150%x10%/365 ngày x 119 ngày = 60.641.095 đồng.

Xét thấy, theo quy định tại Điều 1 của Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 11/02/2022 quy định về lãi suất là theo “thỏa thuận” mà không quy định mức lãi suất cụ thể. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu mức lãi suất từ 11/8/2023 đến ngày 03/4/2024 là 10%/năm và mức lãi suất từ ngày 04/4/2024 (ngày hết hạn yêu cầu thanh toán khoản nợ của nguyên đơn đối với bị đơn theo Văn bản ngày 30/3/2024 mà nguyên đơn đã gửi cho bị đơn) đến ngày xét xử sơ thẩm 31/7/2024 với mức lãi suất 15%/năm là phù hợp với thỏa thuận về lãi suất tại Điều 1 của Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 11/02/2022 và phù hợp với quy định của pháp luật tại khoản 5 Điều 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận.

[6] Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 868602, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00528 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 09/11/2010 cho bà Trần Thị N đã cầm cố theo Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 11/02/2022 thì ông Vũ Vinh Q đồng ý sẽ trả lại cho bà Trần Thị N và ông Nguyễn

6

Văn L ngay khi ông L, bà N thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi cho ông Q nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến này của nguyên đơn.

[7] Hợp đồng ủy quyền có số công chứng: 002410 ngày 11/02/2022 ký kết giữa ông Vũ Vinh Q với bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L nhằm đảm bảo cho việc trả nợ theo Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 11/02/2022 nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, nếu các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

[8] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[9] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Án phí dân sự: Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 và các Điều 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ các Điều: 280, 370, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án,
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Vinh Q - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung đối với bị đơn bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

    Buộc bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ trả lại cho ông Vũ Vinh Q - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung số tiền 1.380.816.437 đồng, trong đó: nợ gốc là 1.240.000.000 đồng và nợ lãi 140.816.437 đồng theo Hợp đồng cầm cố tài sản ngày 11/02/2022.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Buộc ông Vũ Vinh Q - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung trả lại cho bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 868602, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00528 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 09/11/2010 cho bà Trần Thị N.

7

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn L phải chịu 52.424.000 đồng. Hoàn trả cho ông Vũ Vinh Q - chủ hộ kinh doanh cầm đồ Quốc Dung 30.375.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002819 ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 244/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 244/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn Vũ Vinh Q với bị đơn Trần Thị N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger