|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 244/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-8-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Phương
Ông Ngô Văn Bê
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Ngọc A, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn R, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà B S, thị trấn N, thành phố N, tỉnh Oita, Nhật Bản.
Chị Ngọc A ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng của Tòa án cho Công ty L; Địa chỉ: Tầng A khu M, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội; Đại diện: ông Trần Văn Đ- Giám đốc (văn bản ủy quyền ngày 05/6/2024, không triệu tập ông Đ).
-
Bị đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn R, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Minh Đ1, sinh năm 1964 (vắng mặt)
- Bà Ngô Thị T, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn Đ, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai đề ngày 05/6/2024 (có xác nhận của T1 tại F - Nhật Bản), nguyên đơn chị Vũ Thị Ngọc A trình bày:
Chị và anh Phạm Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 18/7/2016 tại Ủy ban nhân dân xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Trong quá trình chung sống với nhau đã xảy ra nhiều mâu thuẫn và sống chung với nhau không có hạnh phúc. Vợ chồng không thống nhất, không cùng quan điểm sống, sinh hoạt, quan điểm nuôi dạy con. Hai bên không có tiếng nói chung. Đến thời điểm hiện nay, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau, người nào biết bổn phận của người đó. Nay chị xác định tình cảm không còn, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn N để chị có cuộc sống ổn định, tinh thần thoải mái để có thể tập trung làm việc và nuôi dạy con.
Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung là cháu Phạm Duy M, sinh ngày 14/10/2016. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng ông bà ngoại là ông Vũ Minh Đ1 và bà Ngô Thị T tại địa chỉ: thôn Đ, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao cháu M cho chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nhưng do chị ở xa nên chị đề nghị ủy quyền cho ông Vũ Minh Đ1 là cha đẻ chị giúp chị nuôi cháu M trong thời gian chị không ở Việt Nam.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị Ngọc A trình bày: Do điều kiện công việc nên chị không có thời gian đến Tòa án làm việc. Vì vậy chị đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại các phiên tòa xét xử. Chị ủy quyền cho Công ty L; Địa chỉ: Tầng A khu M, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội; Đại diện: ông Trần Văn Đ-Giám đốc thay mặt chị nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, nộp tạm ứng án phí và giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/8/2024, bị đơn anh Phạm Văn N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Quá trình tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng giống như chị Ngọc A trình bày là đúng. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng không đồng ý ly hôn với chị Vũ Thị Ngọc A vì muốn con có cả bố lẫn mẹ.
Về con chung: Anh và chị Ngọc A có 01 con chung là cháu Phạm Duy M, sinh ngày 14/10/2016. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng chị Ngọc A và ông bà ngoại. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao con cho chị Ngọc A và ông bà ngoại cháu M là ông Đ1, bà T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh N trình bày: Do điều kiện công việc nên anh không có thời gian đến Tòa án làm việc. Vì vậy anh đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa xét xử.
Theo bản tự khai ngày 09/8/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Minh Đ1 và bà Ngô Thị T trình bày:
Về hôn nhân của anh N, chị Ngọc A: Về quá trình tìm hiểu đi đến kết hôn, quá trình chung sống của vợ chồng và nguyên nhân, thời gian mâu thuẫn vợ chồng như chị Ngọc A trình bày.
Về con chung: Anh N, chị Ngọc A có 01 con chung là cháu Phạm Duy M, sinh ngày 14/10/2016. Cháu M sinh sống cùng chị Ngọc A và ông bà từ khi sinh ra cho đến cho đến nay. Nay cháu đang học lớp 02 tại địa phương, cháu phát triển bình thường và đi học đầy đủ. Ông, bà đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M thay cho chị Ngọc A cho đến khi chị Ngọc A về nước sinh sống. Ông, bà xác định đây là quyền cũng như nghĩa vụ của ông, bà đối với cháu nên không yêu cầu anh N, chị Ngọc A phải trích trả công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M trong thời gian cháu sinh sống cùng ông, bà. Ông, bà không yêu cầu anh N, chị Ngọc A phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Ngọc A hàng tháng vẫn gửi tiền cho ông, bà để nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung của anh N, chị Ngọc A: không có.
Ngoài ra, ông Đ1, bà T trình bày: Do bận công việc nên ông, bà không có thời gian đến Tòa án làm việc. Vì vậy ông, bà đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa xét xử.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 09/8/2024, cháu Phạm Duy M trình bày: Cháu hiện nay đang sinh sống cùng mẹ và ông, bà ngoại tại thôn Đ, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Cháu được ông, bà, mẹ chăm sóc chu đáo, được đi học đầy đủ. Mẹ cháu hiện đang đi lao động tại nước ngoài nhưng thường xuyên gọi điện về hỏi thăm sức khỏe và tình hình học tập của cháu. Do cháu sinh sống cùng mẹ và ông bà ngoại từ khi sinh ra cho đến nay nên nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn sinh sống cùng mẹ.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Vũ Thị Ngọc A, bị đơn anh Phạm Văn N, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Vũ Minh Đ1 và bà Ngô Thị T đều vắng mặt và xin xét xử vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Vũ Thị Ngọc A, Biên bản ghi lời khai của anh Phạm Văn N, ông Vũ Minh Đ1, bà Ngô Thị T và cháu Phạm Duy M và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Vũ Thị Ngọc A, bị đơn anh Phạm Văn N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Minh Đ1, bà Ngô Thị T xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Ngọc A, anh N, ông Đ1, bà T là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Ngọc A; xử:
Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị Ngọc A ly hôn anh Phạm Văn N.
Về con chung: Giao cháu Phạm Duy M, sinh ngày 14/10/2016 cho chị Vũ Thị Ngọc A là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. nhưng tạm giao cháu M cho ông Đ1, bà T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị Ngọc A về nước sinh sống.
Chị Vũ Thị Ngọc A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà,ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Chị Vũ Thị Ngọc A khởi kiện xin ly hôn anh Phạm Văn N và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Chị Ngọc A là nguyên đơn hiện đang lao động tại Nhật Bản. anh N là bị đơn có nơi thường trú tại thôn R, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có nguyên đơn là chị Vũ Thị Ngọc A đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về việc vắng mặt nguyên đơn chị Vũ Thị Ngọc A, bị đơn anh Phạm Văn N, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Vũ Minh Đ1, bà Ngô Thị T: các đương sự đều xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Vũ Thị Ngọc A, anh Phạm Văn N, ông Vũ Minh Đ1 và bà Ngô Thị Tuyết.
[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Ngọc A và anh Phạm Văn N kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 18/7/2016 tại Ủy ban nhân dân xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Chị Ngọc A khởi kiện xin ly hôn anh N.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Ngọc A đối với anh N, Hội đồng xét xử thấy: Chị Ngọc A và anh N kết hôn tự nguyện, theo trình bầy của chị Ngọc A trong quá trình chung sống đã xảy ra nhiều mâu thuẫn và vợ chồng chung sống với nhau không có hạnh phúc, không có tiếng nói chung. Anh N tại biên bản ghi lời khai anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng không đồng ý ly hôn chị Ngọc A vì muốn con có cả bố lẫn mẹ. Hiện nay mỗi người sống ở một nơi, chị Ngọc A đang ở nước ngoài xa cách địa lý, vợ chồng anh N, chị Ngọc A không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Ngọc A, xử cho chị Ngọc A được ly hôn anh N là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[6]. Về nuôi con chung: Chị Ngọc A và anh N đều trình bày vợ chồng anh, chị có 01 con chung là cháu Phạm Duy M, sinh ngày 14/10/2016, hiện đang sinh sống cùng bố mẹ chị Ngọc A là ông Đ1 và bà T. Sau khi ly hôn, chị Ngọc A đề nghị Tòa án giao con cho chị nuôi dưỡng, anh N đề nghị giao con cho chị Ngọc A là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu M có nguyện vọng được ở cùng mẹ và ông bà ngoại, ông Đ1, bà T đồng ý nuôi cháu M trong thời gian chị Ngọc A ở nước ngoài.
Xét yêu cầu của chị Vũ Thị Ngọc A về việc được nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy: Trong thời gian chị Ngọc A đi lao động ở nước ngoài, cháu Phạm Duy M vẫn sinh sống cùng ông Đ1, bà T. Cháu Phạm Duy M được ông, bà ngoại nuôi dưỡng, phát triển bình thường. Sau khi ly hôn chị Ngọc A đề nghị giao con cho chị nuôi dưỡng, anh N đề nghị giao con cho chị Ngọc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông Đ1, bà T đồng ý chăm sóc nuôi dưỡng con thay cho chị Ngọc A trong thời gian chị Ngọc A ở nước ngoài. Cháu M trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ và ông bà ngoại nếu bố mẹ ly hôn. Xét thấy, để tránh sự xáo trộn trong cuộc sống, nơi ở và việc học tập của cháu M và để đảm bảo sự phát triển tốt nhất của cháu M. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Ngọc A. Giao cháu Phạm Duy M, sinh ngày 14/10/2016 cho chị Ngọc A nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật, nhưng tạm giao cháu M cho ông Vũ Minh Đ1 và bà Ngô Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị Ngọc A về Việt Nam là có căn cứ theo quy định tại Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền vào lợi ích mọi mặt của con chung, nguyện vọng của cháu M cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về quyền thăm nom con chung: Sau khi ly hôn anh N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh N thực hiện quyền này theo quy định tại điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp anh N thay đổi nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, anh N có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[7]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do anh N, chị Ngọc A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[8]. Về tài sản chung, công nợ: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do anh N, chị Ngọc A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[9]. Về án phí: Chị Vũ Thị Ngọc A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[8]. Về quyền kháng cáo:
Chị Vũ Thị Ngọc A vắng mặt tại phiên tòa nhưng hiện đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Phạm Văn N, ông Vũ Minh Đ1, bà Ngô Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng hiện đang ở trong nước, nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Ngọc A.
- Về hôn nhân: Chị Vũ Thị Ngọc A được ly hôn anh Phạm Văn N.
-
Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Duy M, sinh ngày 14/10/2016 cho chị Vũ Thị Ngọc A nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Phạm Duy M cho ông Vũ Minh Đ1 và bà Ngô Thị T nuôi dưỡng cho đến khi chị Vũ Thị Ngọc A về nước sinh sống.
Sau khi ly hôn, anh Phạm Văn N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh N thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Vũ Thị Ngọc A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001408 ngày 26/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Ngọc A đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo bản án: Chị Vũ Thị Ngọc A có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Phạm Văn N, ông Vũ Minh Đ1, bà Ngô Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 244/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 244/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị A và anh N
