|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 244/2023/HS-ST
Ngày: 27 - 10 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phan Thị Dòn
- Bà Trần Thị Nga
Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Đang – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại Phòng xét xử hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 251/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hoàng P, sinh năm 1984, tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B1/24 tổ H, ấp N, xã K, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Lê Văn C; họ và tên mẹ: Lê Thị M; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo có vợ tên Võ Thị Thùy T, có 01 người con sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1960 (vắng mặt).
Nơi cư trú: 708 đường X, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra như sau: Lê Hoàng P khai nhận nghiện ma túy loại Heroin được khoảng 6 năm nay, tính đến ngày bị bắt. Khoảng 10 giờ ngày 30/6/2023, P điều khiển xe mô tô biển số 51M3-2249 đến đường dẫn Cao tốc (Bình Thuận – Chợ Đệm) gặp một người phụ nữ tên Hiền (không rõ lai lịch) ở gần khu vực vòng xoay Nguyễn Văn Linh giao Quốc lộ 1A mua 01 gói Heroin với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, P điều khiển xe mô tô đến bãi đất trống gần cầu Rạch Tam, xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh để sử dụng. Tại đây, P lấy ra một ít Heroin từ trong gói ma túy vừa mua được và sử dụng ngay trên cầu, phần còn dư lại P bỏ vào nón kết màu đen rồi đội lên đầu để cất giấu. Sau đó, P tiếp tục điều khiển xe mô tô về nhà, khi đến trước địa chỉ D8/261A, ấp 4, xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh thì bị Tổ tuần tra 363 của Công an huyện Bình Chánh tiến hành kiểm tra bắt quả tang vào lúc 11 giờ 15 phút cùng ngày. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật, chuyển Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Bình Chánh thụ lý theo thẩm quyền.
Qua điều tra, P còn khai nhận cứ một tuần là P tới địa điểm trên gặp Hiền mua ma túy và đã mua ma túy của Hiền được 4-5 lần với giá từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng/01 gói ma túy (Heroin) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Tại Bản kết luận giám định số 7254/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Bột màu trắng trong 01 gói nylon hàn kín thu giữ của Lê Hoàng P qua giám định có khối lượng 1,5308g là ma túy ở thể rắn, loại Heroin.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
01 gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 1,5308gam là ma túy ở thể rắn, loại Heroin; 10 ống kim tiêm; 01 nón kết màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số Imei 1: 358475775923818; Imei 2: 359111895923813 cùng 01 sim thuê bao số 0916534757; 01 điện thoại di động hiệu Nokia có số Imei 1: 355760062133343; Imei 2: 355760062133353; 01 xe mô tô hiệu Honda Future, biển số: 51M3-2249, số máy: JC35E0001851, số khung: RLHJC350X5Y002014; 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình đối với bị cáo P (lưu theo hồ sơ vụ án).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thì bị cáo Lê Hoàng P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 247/CT-VKSBC ngày 09/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Hoàng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoàng P đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Hoàng P tại tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 57 - 69); phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, thu giữ vật chứng, kết quả giám định vật chứng, Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang ... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 30/6/2023, bị cáo Lê Hoàng P đã có hành vi tàng trữ ma túy có khối lượng là 1,5308g là ma túy ở thể rắn, loại Heroin (theo Kết luận giám định số 7254/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành Phố Hồ Chí Minh) với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang vào lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày tại trước địa chỉ số D8/261A, ấp 4, xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Với những tình tiết được chứng minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Hoàng P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.
[4] Tội phạm do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo biết rõ ma túy là loại biệt dược được Nhà nước thống nhất quản lý hết sức chặt chẽ, mọi hành vi liên quan đến ma túy từng mức độ sẽ bị xử lý hình sự. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn có ma tuý sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; hiện bị cáo đang bệnh HIV giai đoạn hai, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[6] Đối với người phụ nữ tên Hiền bán ma túy cho bị cáo, do không rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ làm rõ và xử lý sau.
[7] Qua điều tra xác định: Bị cáo khai nhận đã mua ma túy của đối tượng Hiền được 4 - 5 lần với giá từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng/01 gói ma túy (Heroin) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo thì không có chứng cứ nào khác để chứng minh vấn đề này nên không có cơ sở xử lý bị cáo thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên.
[8] Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với xe mô tô hiệu Honda Future, biển số: 51M3-2249, số máy: JC35E0001851, số khung: RLHJC350X5Y002014. Qua xác minh xe mô tô trên là do ông Lương Văn T đứng tên chủ sở hữu. Ngày 07/10/2020 ông T đã chết và để lại xe mô tô trên cho chị dâu là bà Huỳnh Thị T quản lý, sử dụng. Ngày 30/6/2023, bị cáo mượn xe đi công việc, không nói cho bà T biết đi đâu làm gì. Việc bị cáo dùng xe mô tô trên để làm phương tiện phạm tội bà T không biết nên không có lỗi, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã ra Quyết định trao trả xe trên cho bà T vào ngày 22/9/2023, Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với 01 gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 1,5308gam là ma túy ở thể rắn, loại Heroin; 10 ống kim tiêm; 01 nón kết màu đen, những vật chứng này là vật cấm tàng trữ, vật không có giá trị sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số Imei 1: 358475775923818; Imei 2: 359111895923813 cùng 01 sim thuê bao số 0916534757; 01 điện thoại di động hiệu Nokia có số Imei 1: 355760062133343; Imei 2: 355760062133353. Đây là tài sản của bị cáo, qua kiểm tra điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên xét trả lại cho bị cáo nhưng cần giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình đối với bị cáo Lê Hoàng P tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ vụ án.
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích là để sử dụng cho bản thân, hiện bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng P 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2023.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 1,5308g là ma túy ở thể rắn, loại Heroin (sau giám định còn lại là 1,3171g); 10 ống kim tiêm; 01 nón kết màu đen.
Tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số Imei 1: 358475775923818; Imei 2: 359111895923813 cùng 01 sim thuê bao số 0916534757; 01 điện thoại di động hiệu Nokia có số Imei 1: 355760062133343; Imei 2: 355760062133353 để đảm bảo thi hành án.
(các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập vào 09 giờ 30 phút ngày 05 tháng 10 năm 2023 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh).
Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD (đang lưu hồ sơ vụ án).
Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Sơn |
Bản án số 244/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 244/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
