Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 244/2024/HS-ST

Ngày: 26-9-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.
  2. Ông Lê Thành Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 165/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2024/QĐXXST-HS ngày 15/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/HSST-QĐ ngày 28/8/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đào Xuân H, sinh ngày 08/11/1991, tại Thành phố Hà Nội. Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã N, huyện P, Thành phố Hà Nội; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Xuân L và bà Nguyễn Thị D; vợ: Nguyễn Thị Tuyết L1 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 28/8/2008, Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 18/2008/HSST; ngày 10/12/2013, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án hình sự phúc thẩm số 992/2013/HSPT; ngày 28/5/2014, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Đánh bạc”, tổng hợp với hình phạt 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án hình sự phúc thẩm số 992/2013/HSPT, buộc chấp hành hình phạt chung là 54 tháng tù, theo bản án hình sự sơ thẩm số 35/2014/HSST; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/10/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Đức T, sinh ngày 22/12/1995, tại Thành phố Hà Nội. Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã S, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Đ; vợ: Lâm Ngọc B, có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/10/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Đào Xuân H, Nguyễn Đức T: Ông Trịnh Văn S, luật sư công tác tại Công ty L3, thuộc đoàn luật sư thành phố H; có mặt.

Bị hại: Bà Trần Thị Cẩm L2, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tiệm B, đường D, Khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Ông Hoàng Xuân H1, sinh năm 1990; nơi cư trú: số B, Tổ E, Ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Trần Thị Cẩm L2, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tiệm B, đường D, Khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1984; nơi cư trú: Nhà C, Tổ A, ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Xuân HNguyễn Đức T có quan hệ bạn bè với nhau. Khoảng tháng 4/2022, HT đến khu vực thuộc khu phố G, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương thuê phòng trọ ở chung. Tại đây, H rủ T cùng góp tiền cho người khác vay với lãi suất cao để lấy tiền lời chia nhau tiêu xài.

Khoảng tháng 9/2022, bà Trần Thị Cẩm L2 gọi điện thoại hỏi vay tiền của H. Sau đó, HT đã 07 lần cho chị L2 vay tiền, mỗi lần cho vay 20.000.000 đồng, với hình thức: Trả góp mỗi ngày 1.000.000 đồng, trả trong vòng 24 ngày, tổng số tiền phải trả là 24.000.000 đồng, lãi suất 300%/năm; ngày giao tiền vay thì HT lấy tiền phí 500.000 đồng và tiền góp ngày đầu tiên 1.000.000 đồng nên chị L2 chỉ nhận được số tiền 18.500.000 đồng. Chị L2 trả góp xong thì tiếp tục vay lại của HT khoản vay tiếp theo. Tổng số tiền vay của 07 lần là 20.000.000 đồng x 7 = 140.000.000 đồng; Tổng số tiền mà chị L2 phải trả cho HT đối với 07 lần vay là (24.000.000 đồng + 500.000 đồng) x 7 = 171.500.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự, tổng tiền lãi của 07 lần vay không quá 1.841.000 đồng (24 ngày x 20%/365 ngày x 20.000.000 đồng x 7). Số tiền thu lợi bất chính theo quy định của pháp luật mà HT phải chịu trách nhiệm là 29.659.000 đồng (171.500.000 đồng – 140.000.000 đồng – 1.841.000 đồng).

Đối với khoản vay lần thứ 7 ngày 28/4/2023, chị L2 vay HT số tiền 20.000.000 đồng. H sử dụng tài khoản số 19038714491014 Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (T3) chuyển số tiền 14.500.000 đồng vào tài khoản số 0841000094519 Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (V) của chị L2, do H trừ 4.000.000 đồng của lần vay trước mà chị L2 chưa trả, 500.000 đồng tiền phí và 1.000.000 đồng trả góp ngày đầu tiên. Như thỏa thuận, chị L2 còn phải trả góp cho HT số tiền còn lại là 23.000.000 đồng, mỗi ngày trả 1.000.000 đồng trong vòng 23 ngày tiếp theo. Tuy nhiên sau đó, chị L2 không có tiền trả góp cho HT đúng hạn (mỗi ngày) nhưng chị L2 đã trả góp được 04 lần, tổng số tiền 11.500.000 đồng (lần thứ nhất chuyển khoản 5.000.000 đồng, lần thứ hai chuyển khoản 3.000.000 đồng, lần thứ ba trả tiền mặt 2.000.000 đồng và lần thứ tư trả tiền mặt 1.500.000 đồng), còn nợ 11.500.000 đồng.

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/10/2023, chị L2 không có tiền trả nợ nên điện thoại xin trả 8.000.000 đồng cho H. H bực tức chị L2 chậm trả nợ mà còn xin không tính lãi, than vãn và trình báo Công an phường T. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số: 86B2-321.42 chở H đến tiệm B1 cạnh đường D thuộc khu phố F, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương của chị L2, để đòi nợ. Tại đây, HT dựng xe trước cửa rồi đi vào bên trong tiệm gặp chị L2 đang đứng tại quầy bán hàng. Lúc này, H yêu cầu chị L2 phải trả số tiền 14.500.000 đồng (gồm tiền gốc 8.000.000 đồng và tiền chậm trả 6.500.000 đồng) nhưng chị L2 chỉ xin trả tiền gốc 8.000.000 đồng. H liền dùng tay nắm cổ áo rồi liên tục chửi, đe dọa sẽ móc mắt, giết chị L2 nhằm uy hiếp tinh thần buộc chị L2 phải trả 14.500.000 đồng cho H. Chị L2 hoảng sợ nhưng vẫn không trả tiền nên H dùng tay phải nắm tóc lôi chị L2 đi ra trước cửa tiệm rồi thách thức chị L2 kêu cứu thì bị lực lượng Công an phường T đến bắt quả tang.

Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B giải quyết theo thẩm quyền. Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số: 86B2-321.42; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 009906 mang tên Phạm Văn T2; 5.600.000 đồng của Nguyễn Đức T; 2.000.000 đồng của Đào Xuân H; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu Gold của Nguyễn Đức T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím của Đào Xuân H; 01 điện thoại di động hiệu Vivo S1 màu xanh của Trần Thị Cẩm L2.

Tại Cơ quan điều tra, Đào Xuân HNguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của HT phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. HT khai: Ngoài việc cho bà Trần Thị Cẩm L2 vay lãi nặng, từ ngày 22/5/2023 đến ngày 03/10/2023, HT còn cho ông Hoàng Xuân H1 vay 19 khoản vay, trong đó 14 khoản vay lãi nặng với lãi suất tương đương 300%/năm và 05 khoản vay không tính lãi. Khi cho vay thì H sử dụng tài khoản số 19038714491014 Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (T3) chuyển tiền vào tài khoản số 1011591358 ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 (S2) của anh H1. 14 khoản vay cụ thể như sau:

  • Khoản vay thứ nhất: Ngày 22/5/2023, anh H1 vay H số tiền 50.000.000 đồng, trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 2.500.000 đồng. Tổng tiền gốc và lãi anh H1 phải trả cho H là 60.000.000 đồng. H lấy trước tiền gốc và lãi của 02 ngày (Ngày đầu và ngày cuối), anh H1 chỉ nhận được số tiền 45.000.000 đồng, gồm: 25.000.000 đồng thông qua chuyển khoản và 20.000.000 đồng nhận tiền mặt. Đến ngày 05/6/2023, H và anh H1 đã tất toán khoản vay này. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ nhất là: 10.000.000 đồng – (50.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 24 ngày) = 9.342.465 đồng.
  • Khoản vay thứ hai: Đến ngày 05/6/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 50.000.000 đồng trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 2.500.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 60.000.000 đồng). Do khoản vay thứ nhất anh H1 còn nợ số tiền 20.000.000 đồng và H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này 5.000.000 đồng nên anh H1 chỉ nhận được số tiền 25.000.000 đồng, gồm: 15.000.000 đồng thông qua chuyển khoản và 10.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 25/6/2023, H và anh H1 đã tất toán khoản vay này. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ hai là: 10.000.000 đồng – (50.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 24 ngày) = 9.342.465 đồng.
  • Khoản vay thứ ba: Đến ngày 25/6/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 50.000.000 đồng trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 2.500.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 60.000.000 đồng). Do khoản vay thứ hai anh H1 còn nợ số tiền 5.000.000 đồng và H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này là 5.000.000 đồng nên anh H1 chỉ nhận được số tiền 40.000.000 đồng thông qua chuyển khoản. Đến ngày 10/7/2023, H và anh H1 đã tất toán khoản vay này. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ ba là: 10.000.000 đồng – (50.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 24 ngày) = 9.342.465 đồng.
  • Khoản vay thứ tư: Đến ngày 10/7/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 50.000.000 đồng trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 2.500.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 60.000.000 đồng). Do khoản vay thứ ba anh H1 còn nợ số tiền 17.500.000 đồng và H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này là 5.000.000 đồng nên anh H1 chỉ nhận được số tiền 27.500.000 đồng, gồm: 20.000.000 đồng thông qua chuyển khoản và 7.500.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 23/7/2023, H và anh H1 đã tất toán khoản vay này. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ tư là: 10.000.000 đồng – (50.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 24 ngày) = 9.342.465 đồng.
  • Khoản vay thứ năm: Cũng trong ngày 10/7/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 500.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 12.000.000 đồng). Do H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này là 500.000 đồng nên anh H1 chỉ nhận được số tiền 9.000.000 đồng gồm: 8.500.000 đồng thông qua chuyển khoản và 500.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 16/7/2023, H và anh H1 đã tất toán khoản vay này. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ năm là: 2.000.000 đồng – (10.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 24 ngày) = 1.868.493 đồng.
  • Khoản vay thứ sáu: Đến ngày 16/7/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 30.000.000 đồng, trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 1.500.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 36.000.000 đồng). Do H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này là 1.500.000 đồng nên anh H1 chỉ nhận được số tiền 27.000.000 đồng, gồm: 16.000.000 đồng thông qua chuyển khoản và 11.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 09/8/2023, H và anh H1 đã tất toán khoản vay này. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ sáu là: 6.000.000 đồng – (30.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 24 ngày) = 5.605.479 đồng.
  • Khoản vay thứ bảy: Đến ngày 23/7/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 50.000.000 đồng, trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 2.500.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 60.000.000 đồng). Do khoản vay thứ tư anh H1 còn nợ số tiền 22.500.000 đồng và H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này là 5.000.000 đồng nên anh H1 chỉ nhận được số tiền 22.500.000 đồng, gồm: 13.500.000 đồng thông qua chuyển khoản và 9.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 14/8/2023, H và anh H1 đã tất toán khoản vay này. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ bảy là: 10.000.000 đồng – (50.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 24 ngày) = 9.342.465 đồng.
  • Khoản vay thứ tám: Đến ngày 11/8/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 40.000.000 đồng, trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 2.000.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 48.000.000 đồng). Do H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này là 2.000.000 đồng nên anh H1 chỉ nhận được số tiền 36.000.000 đồng, gồm: 16.000.000 đồng thông qua chuyển khoản và 20.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 24/8/2023, H và anh H1 đã tất toán khoản vay này. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ tám là: 8.000.000 đồng – (40.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 24 ngày) = 7.473.972 đồng.
  • Khoản vay thứ chín: Đến ngày 24/8/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 120.000.000 đồng, trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 6.000.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 144.000.000 đồng). Do khoản vay thứ tám anh H1 còn nợ số tiền 18.000.000 đồng và H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này là 12.000.000 đồng nên anh H1 chỉ nhận được số tiền 90.000.000 đồng, gồm: 36.000.000 đồng thông qua chuyển khoản và 54.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 15/9/2023, H và anh H1 đã tất toán khoản vay này. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ chín là: 24.000.000 đồng – (120.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 24 ngày) = 22.421.917 đồng.
  • Khoản vay thứ mười: Đến ngày 16/9/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 50.000.000 đồng, trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 2.500.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 60.000.000 đồng). Do H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này là 5.000.000 đồng nên anh H1 chỉ nhận được số tiền 45.000.000 đồng, gồm: 30.000.000 đồng thông qua chuyển khoản và 15.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 23/9/2023, H và anh H1 đã tất toán khoản vay này. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ mười là: 10.000.000 đồng – (50.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 24 ngày) = 9.342.465 đồng.
  • Khoản vay thứ mười một: Đến ngày 17/9/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 20.000.000 đồng, trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 1.000.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 24.000.000 đồng). Do H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này là 2.000.000 đồng nên anh H1 chỉ nhận được số tiền là 18.000.000 đồng, gồm: 14.000.000 đồng thông qua chuyển khoản và 4.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 09/10/2023, H và anh H1 đã tất toán khoản vay này. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ mười một là: 4.000.000 đồng – (20.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 24 ngày) = 3.736.986 đồng.
  • Khoản vay thứ mười hai: Ngày 20/9/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 50.000.000 đồng, trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 2.500.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 60.000.000 đồng). Do H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này là 5.000.000 đồng, nên anh H1 chỉ nhận được số tiền 45.000.000 đồng, gồm: 14.000.000 đồng thông qua chuyển khoản và 31.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 03/10/2023, H và anh H1 đã tất toán khoản vay này. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ mười hai là: 10.000.000 đồng – (50.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 24 ngày) = 9.342.465 đồng.
  • Khoản vay thứ mười ba: Đến ngày 23/9/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 50.000.000 đồng, trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 2.500.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 60.000.000 đồng). Do khoản vay thứ mười, anh H1 còn nợ số tiền 37.500.000 đồng và H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này là 5.000.000 đồng nên anh H1 chỉ nhận được số tiền 7.500.000 đồng thông qua chuyển khoản. Đến ngày 09/10/2023 (ngày H bị bắt), anh H1 đã trả được số tiền gốc và lãi cho H 18 ngày của khoản vay thứ mười ba là 45.000.000 đồng (trong đó tiền gốc là 37.500.000 đồng, tiền lãi là 7.500.000 đồng). Anh H1 còn nợ tiền gốc là 15.000.000 đồng. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ mười ba tính đến ngày bị phát hiện và ngăn chặn (ngày 09/10/2023) là: 7.500.000 đồng – (50.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 18 ngày) = 7.006.849 đồng.
  • Khoản vay thứ mười bốn: Đến ngày 03/10/2023, anh H1 tiếp tục vay H số tiền 50.000.000 đồng, trong thời hạn 24 ngày, mỗi ngày trả gốc và lãi số tiền 2.500.000 đồng (tổng số tiền phải trả là 60.000.000 đồng). Do khoản vay thứ mười hai anh H1 còn nợ số tiền 22.500.000 đồng và H lấy trước ngày đầu và ngày cuối của khoản vay này là 5.000.000 đồng nên anh H1 chỉ nhận được số tiền 22.500.000 đồng, gồm: 17.500.000 đồng thông qua chuyển khoản và 5.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 09/10/2023 (ngày H bị bắt), anh H1 đã trả được số tiền gốc và lãi cho H 08 ngày của khoản vay thứ mười bốn là 20.000.000 đồng (trong đó tiền gốc là 16.666.667 đồng, lãi là 3.333.333 đồng). Anh H1 còn nợ tiền gốc là 33.333.333 đồng. Như vậy, H thu lợi bất chính của khoản cho vay thứ mười bốn tính đến ngày bị phát hiện và ngăn chặn (ngày 09/10/2023) là: 3.333.333 đồng – (50.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 08 ngày) = 3.114.154 đồng.

Như vậy, HT đã cho anh H1 vay lãi nặng (lãi suất 300%/năm), 14 khoản vay với tổng số tiền là 670.000.000 đồng (trong đó: 570.000.000 đồng của 12 khoản vay đầu đã tất toán xong, còn 100.000.000 đồng của 02 khoản vay cuối (khoản vay thứ mười ba và mười bốn) chưa hết thời hạn vay thì HT bị Công an bắt giữ), với thời hạn vay trong vòng 24 ngày, trả góp mỗi ngày. Tổng số tiền thực tế mà HT đưa cho anh H1 vay là 460.000.000 đồng do HT trừ tiền lấy trước ngày đầu và ngày cuối của mỗi khoản vay và tiền nợ của khoản vay trước (khi tất toán còn nợ lại). Tổng số tiền lãi 14 khoản vay mà anh H1 đã trả cho HT là 124.833.333 đồng (12 khoản vay đầu là 114.000.000 đồng, 02 khoản vay cuối là 10.833.333 đồng), trong đó: tiền lãi tương ứng với lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 8.208.218 đồng, tiền thu lợi bất chính là 116.625.115 đồng. Anh H1 còn chưa trả lại tiền gốc đã vay cho HT đối với 02 khoản vay cuối với tổng số tiền là 45.833.333 đồng. Như vậy, anh H1 đã trả lại tiền gốc cho HT là 414.166.667 đồng (460.000.000 đồng – 45.833.333 đồng).

Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số: 86B2-321.42 do anh Phạm Văn T2 đứng tên đăng ký. Khoảng cuối năm 2020, anh Phạm Văn T2 cầm cố xe cho tiệm cầm đồ (không rõ tên, địa chỉ) thuộc khu vực thành phố T, tỉnh Bình Dương. Năm 2022, Nguyễn Đức T mua xe mô tô biển số: 86B2-321.42 của tiệm cầm đồ (không rõ tên, địa chỉ) thuộc khu vực khu công nghiệp M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Về xử lý vật chứng: Ngày 30/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra C (nay là thành phố) Bến Cát ra Quyết định xử lý vật chứng đã giao trả: 01 điện thoại di động hiệu Vivo S1 màu xanh cho bà Trần Thị Cẩm L2.

Cáo trạng số 174/CT-VKSBC ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đào Xuân H, Nguyễn Đức T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự và tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đào Xuân H mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đào Xuân H mức hình phạt từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù.
  • Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc Đào Xuân H chấp hành hình phạt chung từ 01 năm 11 tháng tù đến 02 năm 04 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T mức hình phạt từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T mức hình phạt từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù.
  • Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc Nguyễn Đức T chấp hành hình phạt chung từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 11 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát quyết định:

  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số: 86B2-321.42 cùng 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 009906 mang tên Phạm Văn T2.
  • Buộc Đào Xuân H, Nguyễn Đức T, Hoàng Xuân H1Trần Thị Cẩm L2 nộp lại tổng số tiền 600.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước, trong đó: Buộc HT liên đới nộp số tiền 546.166.667 đồng, ông Hoàng Xuân H1 nộp số tiền 45.833.333 đồng, bà Trần Thị Cẩm L2 nộp số tiền 8.000.000 đồng;
  • Buộc Đào Xuân HNguyễn Đức T liên đới nộp số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 10.049.218 đồng (HT đã nhận của ông Hoàng Xuân H1 8.208.218 đồng, bà Trần Thị Cẩm L2 1.841.000 đồng) để sung ngân sách nhà nước.
  • Buộc Đào Xuân HNguyễn Đức T liên đới trả lại số tiền thu lợi bất chính (thực tế đã thu) là 116.625.115 đồng cho ông Hoàng Xuân H1, số tiền 29.659.000 đồng cho bà Trần Thị Cẩm L2.
  • Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu Gold của Nguyễn Đức T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím của Đào Xuân H; số tiền 7.600.000 đồng thu giữ của Đào Xuân H, Nguyễn Đức T.
  • Các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận.
  • Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Thống nhất tội danh, điểm, khoản, điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình, nhân thân, nguyên nhân, mục đích, động cơ phạm tội cũng như áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà xử phạt các bị cáo mức hình phạt thấp nhất nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, lời luận tội và mức hình phạt đề nghị.
  • Lời nói sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất ăn năn hối lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo, chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2022 đến tháng 4/2023, Đào Xuân HNguyễn Đức T đã thực hiện cho vay tiền với lãi suất vượt 15 (mười lăm) lần so với mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật dân sự 2015 đối với 02 (hai) người trên địa bàn thành phố B, tỉnh Bình Dương, thu lợi bất chính số tiền 146.284.115đ (một trăm bốn mươi sáu triệu hai trăm tám mươi tư nghìn một trăm mười lăm đồng). Ngoài ra, vào khoảng 14 giờ ngày 09/10/2023, tại tiệm B1, cạnh đường D thuộc khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Đào Xuân HNguyễn Đức T có hành vi đe dọa uy hiếp tinh thần bà Trần Thị Cẩm L2 nhằm chiếm đoạt số tiền 14.500.000 đồng nhưng chưa chiếm đoạt được thì bị lực lượng Công an phường T phát hiện, bắt giữ. Do đó, hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đối với các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ảnh hưởng trật tự, trị an của xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi mà các bị cáo đã lợi dụng hoàn cảnh, nhu cầu về kinh tế của những người đi vay, thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, để có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo cũng như đấu tranh phòng chống tội phạm chung trong xã hội, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà mỗi bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Vụ án có tính chất đồng phạm, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội tuy nhiên bị cáo H có nhân thân xấu. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo H mức hình phạt cao hơn bị cáo T.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tuy các bị cáo thực hiện hành vi cho vay lãi nặng với 02 bị hại và trên 02 lần. Tuy nhiên, số tiền thu lợi bất chính đối với bà Trần Thị Cẩm L2 và tiền thu lợi trong từng lần cho vay đối với ông Hoàng Xuân H1 đều dưới 30.000.000 đồng. Do đó, căn cứ Nghị quyết số số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo T có ông nội là liệt sĩ; bản thân bị cáo H, T đều là lao động chính của gia đình, trực tiếp chăm sóc cha mẹ già, riêng bị cáo H hiện đã ly hôn, đang trực tiếp nuôi dưỡng con nhỏ bị bệnh thận (được địa phương xác nhận). Mặt khác, các bị cáo đều đã nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính nhằm khắc phục hậu quả. Trong hành vi cưỡng đoạt tài sản, các bị cáo phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại về tài sản cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Căn cứ nhân thân, vai trò, từng bị cáo, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo T là phù hợp. Đối với bị cáo H, nhận thấy quá trình chuẩn bị xét xử đã tác động gia đình nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả, hoàn cảnh gia đình khó khăn (hiện đã ly hôn, trực tiếp nuôi con nhỏ bị bệnh hư thận). Do đó, Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo H mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập xã hội. Xét ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo là có căn cứ để xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Buộc Đào Xuân H, Nguyễn Đức T có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án số tiền lãi thu vượt quá mức lãi suất 20%/năm. Cụ thể: Hoàn trả cho bà Trần Thị Cẩm L2 số tiền 29.659.000 đồng, hoàn trả cho ông Hoàng Xuân H1 số tiền 116.625.115 đồng.

[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước phương tiện dùng thực hiện tội phạm gồm: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số: 86B2-321.42 cùng 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 009906 mang tên Phạm Văn T2.

Buộc Đào Xuân H, Nguyễn Đức T liên đới nộp vào ngân sách nhà nước số tiền dùng cho vay và tiền lãi tương ứng mức lãi suất 20%/năm đã thu từ những người đi vay là 556.215.885 đồng.

Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nộp lại số tiền vay đã nhận từ các bị cáo nhưng chưa thanh toán để sung ngân sách nhà nước, cụ thể: bà Trần Thị Cẩm L2 nộp số tiền 8.000.000 đồng, ông Hoàng Xuân H1 nộp số tiền 45.833.333 đồng.

Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu Gold của Nguyễn Đức T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím của Đào Xuân H.
  • Số tiền 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) trong đó bao gồm số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) của Đào Xuân H và 5.600.000đ (năm triệu sáu trăm nghìn đồng) của Nguyễn Đức T.
  • Số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) của Đào Xuân H theo biên lai thu tiền số 0001903 ngày 24/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
  • Số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) của Nguyễn Đức T theo biên lai thu tiền số 0001904 ngày 24/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

[9] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đào Xuân H, Nguyễn Đức T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Về hình phạt:
    1. 2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đào Xuân H 01 (một) năm 01 (một) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

      Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đào Xuân H 07 (bảy) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

      Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Đào Xuân H phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 08 (tám) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/10/2023.

    2. 2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

      Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

      Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/10/2023.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 589 của Bộ luật dân sự 2015.

    Buộc Đào Xuân H, Nguyễn Đức T có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Trần Thị Cẩm L2 số tiền 29.659.000đ (hai mươi chín triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn đồng), liên đới hoàn trả cho ông Hoàng Xuân H1 số tiền 116.625.115đ (một trăm mười sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn một trăm mười lăm đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
    • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 86B2-321.42, số máy 5C6K323328, số khung RLCS5C6K0GY323327 (xe không gương bên phải, không khóa, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 009906 mang tên Phạm Văn T2.
    • Buộc Đào Xuân H, Nguyễn Đức T liên đới nộp vào ngân sách nhà nước số tiền dùng cho vay và tiền lãi tương ứng mức lãi suất 20%/năm đã thu từ những người đi vay là 556.215.885₫ (năm trăm năm mươi sáu triệu hai trăm mười lăm nghìn tám trăm tám mươi lăm đồng).
    • Buộc bà Trần Thị Cẩm L2 nộp số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng), ông Hoàng Xuân H1 nộp số tiền 45.833.333đ (bốn mươi lăm triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) sung ngân sách Nhà nước.
    • Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án:
      • 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax màu Gold (bị nứt màn hình, không kiểm tra được model, số E, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) của Nguyễn Đức T; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax màu tím (bị nứt lưng máy, không kiểm tra được model, số E, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) của Đào Xuân H.
      • Số tiền 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 13/8/2024 trong đó bao gồm số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) của Đào Xuân H và 5.600.000đ (năm triệu sáu trăm nghìn đồng) của Nguyễn Đức T.
      • Số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) của Đào Xuân H theo biên lai thu tiền số 0001903 ngày 24/9/2024 của chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
      • Số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) của Nguyễn Đức T theo biên lai thu tiền số 0001904 ngày 24/9/2024 của chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

      (Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/8/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát và Công an thành phố B; Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 13/8/2024).

  5. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo liên đới chịu 7.314.200đ (bảy triệu ba trăm mười bốn nghìn hai trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng hồ sơ-Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Cổng Thông tin điện tử của TANDTC (nếu có);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Đạo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 244/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (cưỡng đoạt tài sản và cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 244/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cưỡng đoạt tài sản và Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H cùng đồng phạm cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger