|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 244/2024/DS-PT
Ngày: 23, 26-4-2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng
đất, đòi lại tài sản và yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Tô Ngọc |
| Các Thẩm phán: | Ông Vũ Ngọc Huynh |
| Ông Phan Nhựt Bình |
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân
cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng- Kiểm sát viên cao cấp.
Trong các ngày 23, 26 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 590/2022/TLPT-DS ngày 29 tháng 11 năm 2022 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2022/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo;
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 581/2024/QĐPT-DS ngày 05 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1 Ông Lâm Sơn Đ, sinh năm 1935, cư trú tại: Số A, đường T, khu phố A, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm Sơn Đ:
- Ông Huỳnh Văn Â, sinh năm 1969, cư trú tại: Số A, hẻm H, đường C, khu phố H, phường H, Tp T, tỉnh Tây Ninh (có mặt, vắng mặt khi tuyên án);
1.2 Bà Lâm Ánh N, sinh năm 1937, cư trú tại: Số H, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Đã chết ngày 10/02/2023)
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà N:
1.2.1 Bà Trần Ánh T, sinh năm 1960; địa chỉ: 8, Tôn Thất H, phường A, quận A, TP Hồ Chí Minh
1.2.2 Bà Trần Thị Ánh T1, sinh năm 1963; địa chỉ: 8, Tôn Thất H, phường A, quận A, TP Hồ Chí Minh
1.2.3 Ông Trần Bửu L, sinh năm 1964; địa chỉ: A B T, phường X, thành phố L, Đồng Nai
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Ánh T, Trần Thị Ánh T1, ông Trần Bửu L: Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1959, cư trú tại: Số F, đường P, khu phố A, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (có mặt, vắng mặt khi tuyên án).
1.3 Bà Lâm Tuyết N1, sinh năm 1951, cư trú tại: Số A, đường T, khu phố A, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1: Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1959, cư trú tại: Số F, đường P, khu phố A, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (có mặt, vắng mặt khi tuyên án).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Lâm Tuyết N1: Luật sư Nguyễn Thị L1, của Công ty L5 Tạ Nguyệt T2, Chi nhánh T9, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt, vắng mặt khi tuyên án).
2. Bị đơn: Chùa N4, địa chỉ: Khu phố A, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Liêu Văn H2 (Pháp danh Thích Tịnh D) là Trụ trì.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Liêu Văn H2: Ông Vương Sơn H3, sinh năm 1974, cư trú tại: Số G, đường T, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Lâm Kim C, sinh năm 1927, cư trú tại: A S . B # 353 W, C, Hoa Kỳ. Đã chết trong quá trình tham gia tố tụng, vợ đã chết, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Lâm Kim C là 06 người con, gồm:
3.1.1 Bà Lâm Mỹ N2 (My L), sinh năm 1951, cư trú tại: H W. Louise D, AZ 85383-USA.
3.1.2 Ông Lisa T3, sinh năm 1951, cư trú tại: 519.W-550.N Logan-Utah 84321-USA.
3.1.3 Ông Lâm Ngọc C1, sinh năm 1952, cư trú tại: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
3.1.4 Ông Lâm Ngọc Q sinh năm 1954, cư trú tại: Ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
3.1.5 Ông Lâm Ngọc C2 (Tony Lam), sinh năm 1956, cư trú tại: A E, F, CA92708-USA.
3.1.6 Ông Lâm Ngọc C3 (joe L2), sinh năm 1966, cư trú tại: A B, W, CA. 92683-USA.
3.2 Ông Lâm Nguyệt C4, sinh năm 1932, cư trú tại: A S # 104, S, C, Hoa Kỳ. (chết 01-4-2023)
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C4:
3.2.1 Lâm Thanh T4, sinh năm 1959; địa chỉ: A, đường T, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
3.2.2 Ông Lâm Ngọc T5, sinh năm 1960; địa chỉ: tổ A, ấp C, phường V, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt, vắng mặt khi tuyên án).
3.2.3 Ông Lâm Hùng P, sinh năm 1962; địa chỉ: A, đường T, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
3.2.4 Ông Lâm Hồng P1, sinh năm 1964; địa chỉ: A, đường T, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
3.2.5 Bà Lâm Thị Chiêu H4, sinh năm 1967; địa chỉ: A, đường T, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
3.2.6 Bà Lâm Thị Tuyết H5, sinh năm 1969; địa chỉ: A, đường T, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm Thanh T4, ông Lâm Ngọc T5, ông Lâm Hùng P, ông Lâm Hồng P1,bà Lâm Thị Chiêu H4, bà Lâm Thị Tuyết H5: ông Nguyễn Thanh H1; địa chỉ: B P, KP1, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (có mặt, vắng mặt khi tuyên án).
3.3 Ông Lâm Sơn Đ1, sinh năm 1947, cư trú tại: H Durham Run L. Richmond, TX G, Hoa Kỳ.
3.4 Ông Lâm Ngọc T6 (James Lam), sinh năm 1953, cư trú tại: H T, C, Hoa Kỳ.
3.5 Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh T, địa chỉ trụ sở: Số C, đường H, khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Hòa thượng Thích Niệm T7, là Trưởng Ban Trị sự.
Người đại diện theo ủy quyền của Hòa thượng Thích Niệm T7: Ông Vương Sơn H3, sinh năm 1974, cư trú tại: Số G, đường T, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
3.6 Ủy ban nhân dân tỉnh T (vắng mặt).
Người kháng cáo : nguyên đơn, bị đơn Chùa N4.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05-12-2018, đơn khởi kiện bổ sung ngày 16-5-2019, ngày 27-8-2019, và trong quá trình giải quyết vụ án, các nguyên đơn, gồm: Ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1 và người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thanh H1 trình bày:
Các nguyên đơn khởi kiện Chùa N4 yêu cầu trả lại 3.012,5 m² đất thửa số 12, tờ bản đồ 51, tọa lạc tại : Khu phố A, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Nguồn gốc là đất của bà nội của các nguyên đơn là cụ Võ Thị C5 tạo lập vào năm 1902, đến năm 1930, cụ C5 xây dựng một ngôi chùa nhỏ trên đất để tu niệm tại gia và đặt tên là Chùa N4 (còn gọi là Chùa Ông C6).
Cụ C5 chết, để thừa kế lại cho cha của nguyên đơn là cụ Lâm Văn H6 và mẹ của nguyên đơn là cụ Nguyễn Thị H7.
Năm 1969 cụ H6 chết, cụ H7 thừa kế, tiếp tục sử dụng đất và quản lý ngôi chùa.
Từ sau giải phóng, chùa không còn trụ trì, gia đình cụ H7 tự quản lý.
Đến năm 1989, cụ H7 biết ông Liêu Văn H2 là thợ sửa xe trước cổng chùa, có thời gian tu tập, biết nghi lễ cúng kiếng nên cụ H7 gửi đơn đến Ủy ban Mặt trận tổ quốc và Ủy ban nhân dân Phường A, thị xã T (nay là thành phố T) xin cho ông H2 nhập hộ khẩu vào chùa ở và làm nhiệm vụ cúng kiếng hàng ngày thay cho gia đình cụ H7.
Ngày 11-12-1989, ông Liêu Văn H2 đến ở và trông coi việc thờ cúng cho đến nay.
Phần đất có ngôi chùa cụ H7 kê khai đăng ký và được cấp Giấy Chứng nhận đã đăng ký ruộng đất số: 283/ĐKRĐ ngày 15-7-1992, trong đó ghi: 720 m² là đất ông bà (Chùa N4); 1.480 m² là đất ông bà”.
Năm 2000, ông H2 có quyết định bổ nhiệm làm Trụ trì Chùa N4.
Ngày 02-10-2001, cụ H7 lập di chúc, có chứng thực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường A, thị xã T, trong đó có nội dung:
“...+ Phần 720 m² có ngôi chùa và tài sản thuộc ngôi chùa giành riêng cúng phật, 03 người con được giao đồng sở hữu có nhiệm vụ liên hệ cùng chính quyền, Hội Phật giáo để xin tu sĩ thánh thiện thừa hành kễ đạo tại chùa, vĩnh viễn không được chuyển mục đích sử dụng làm chùa.
+ Khu vực có nghĩa trang G tại: Số C, đường T, dùng làm nơi an nghỉ của tổ tiên và người họ L3....”
Đến năm 2006, theo chủ trương của Nhà nước, cụ H7 làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do tuổi đã cao và đang bị tai nạn không đi lại được nên cụ H7 nhờ ông H2 đi làm thủ tục. Ông H2 tự ý kê khai đăng ký chủ sử dụng đất là Chùa N4 và khai nguồn gốc đất là đất của tôn giáo, không ai tranh chấp.
Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: T00785 ngày 23-11-2006, ghi chủ sử dụng đất là Chùa N4. Ông H2 mang giấy chứng nhận về giao cho cụ H7, giải thích với cụ H7 là theo quy định pháp luật phải để tên người sử dụng đất là Chùa N4 nhưng tài sản vẫn thuộc quyền của cụ H7, do tin tưởng ông H2 và do không hiểu biết pháp luật nên cụ H7 không thắc mắc khiếu nại gì, cụ H7 qua đời vào ngày 15-02-2008.
Cụ H7 sử dụng đất và chăm sóc ngôi chùa này từ khi cụ C5 chết, hài cốt, bàn thờ họ hàng nhà họ L3 đều thờ trong chùa này.
Việc xây dựng, tu bổ, sửa chữa, mua sắm vật dụng trong chùa từ trước đến nay đều do cụ H7 và các con thực hiện.
Các con cụ H7, người thì ở nước ngoài, người thì ở Việt Nam nhưng có nhà nơi khác nên không sống trực tiếp trên đất, từ khi cụ H7 qua đời các con cụ H7 vẫn tới lui trông coi đất và ngôi chùa.
Năm 2012, ông H2 lấy tư cách là Trụ trì, gửi đơn khiếu nại tại Ủy ban nhân dân Phường A, thị xã T, yêu cầu giải quyết buộc các con cụ H7 giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để nộp cho Giáo hội Phật giáo Việt nam tỉnh T, các con cụ H7 không đồng ý nên phát sinh tranh chấp, ông H2 thay khóa cổng, khóa cửa không cho các con cụ H7 vào chùa trong khi chùa là nơi thờ cúng họ hàng nhà họ L3.
Cũng trong năm 2012, các con cụ H7 khiếu nại yêu cầu trả đất, trả chùa, Ủy ban nhân dân Phường A, thị xã T hòa giải không thành, họ tiếp tục khiếu nại đến Ủy ban nhân dân tỉnh T, Sở T10, được trả lời bằng văn bản là có quyền khởi kiện tại Tòa án vì đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng.
Cụ H7 có 08 người con, gồm:
+ Ông Lâm Ngọc D1, là liệt sĩ, không có vợ con.
+ Ông Lâm Kim C, chết vào ngày 30-01-2020, vợ đã chết, có 06 người con, gồm: Lâm Mỹ N2, Lâm Ngọc C1, Lâm Ngọc Q, Lâm Ngọc C2, Lâm Ngọc C3, Lisa T3.
+ Ông Lâm Nguyệt C4, ông Lâm Sơn Đ1, ông Lâm Ngọc T6, định cư ở Hoa Kỳ.
+ Ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1 ở Việt Nam cũng là nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Chùa N4 trả lại đất, trả lại ngôi chùa và tất cả tài sản trên đất vì là của cụ H7.
Sau khi đo đạc thẩm định, xác định được diện tích thực tế sử dụng là 2.998,6 m² và 205,4 m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng
Nhà nước đã trưng dụng làm mương thoát nước công cộng, đã bồi thường cho gia đình cụ H7 45.000.000 đồng nên các nguyên đơn chỉ kiện đòi 2.998,6 m² và ngôi chùa trên đất.
Việc Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Chùa N4 chỉ căn cứ vào lời khai của ông H2, không kiểm tra nguồn gốc đất, cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng quy định của Luật Đất đai nên yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: T00785 ngày 23-11-2006 đã cấp, ghi tên chủ sử dụng đất là Chùa N4.
- Bị đơn Chùa N4 do ông Vương Sơn H3 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 20-02-1990, cụ Nguyễn Thị H7, là mẹ ruột của ông Đ, bà Á và bà N1, có đơn xin thỉnh thầy Thích Minh L4 (tên gọi khác là Thích Tịnh D, thế danh là Liêu Văn H2) về làm trụ trì Chùa N4, được Tỉnh Hội Phật giáo lâm thời và Ủy ban M Phường 1, Ủy ban nhân dân Phường A, thị xã T lúc bấy giờ chấp thuận, thầy Thích Tịnh D được bổ nhiệm làm trụ trì Chùa N4 từ năm 2000.
Năm 2006, Ủy ban nhân Phường A, thị xã T yêu cầu gia đình cụ H7 kê khai đăng ký để chùa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ H7 và các con là Lâm Sơn Đ, Lâm Ánh N, Lâm Tuyết N1 thống nhất giao cho thầy Thích Tịnh D liên hệ cơ quan chức năng thực hiện các thủ tục để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Chùa N4 theo quy định. Ngày 23-11-2006, Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Chùa N4 đứng tên, diện tích 3.012,5 m².
Ngay sau khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: T00785 ngày 23-11-2006, thầy Thích Tịnh D đã giao lại cho con cụ H7 là bà N1 cất giữ từ đó cho đến nay.
Chùa N4 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn vì gia đình cụ H7 đã giao cho thầy Thích Tịnh D đăng ký, là đất tôn giáo và đã được Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo đúng quy định của pháp luật về đất đai đối với tổ chức tôn giáo.
Chùa N4 hiện tại có thờ các vị phật, tro cốt của ông bà, cha mẹ của nguyên đơn, đồng thời có rất nhiều lọ tro cốt của bá tánh gửi vào đây để nhờ thờ cúng, theo thông lệ thì khi gửi tro cốt của người thân, người gửi ủng hộ cho chùa một khoản phí để nhang khói, tụng kinh hàng ngày, số tiền này cũng được dùng để sửa chữa chùa khi cần.
Nguồn tiền tôn tạo, sửa chữa Chùa N4 do gia đình của các nguyên đơn ủng hộ và tiền của người dân cúng chùa, chỉ cải tạo, không xây dựng gì thêm.
Đối với số tiền 45.000.000 đồng do Nhà nước đền bù phần diện tích đất dùng làm mương thoát nước, Chùa N4 không biết việc này, không tranh chấp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh T, do ông Vương Sơn H3 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh T thống nhất theo ý kiến của Chùa N4.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là những người thừa kế của cụ Nguyễn Thị H7 trình bày như sau:
+ Ông Lâm Nguyệt C4 có văn bản trình bày:
Ông là con của cụ Lâm Văn H6 và cụ Nguyễn Thị H7, thống nhất với các nguyên đơn về quan hệ nhân thân của cụ H6, cụ H7; về nguồn gốc đất và Chùa N4 trên đất là của nội ông, đất có từ năm 1902, chùa lập từ năm 1930, sau khi nội ông chết, cha mẹ ông là người thừa kế. Khi mẹ ông lập di chúc, ông và những người con ở nước ngoài không có mặt nhưng đều thuận theo di chúc. Ngôi chùa, tiền xây dựng, tôn tạo, sữa chửa chùa và toàn bộ tài sản khác trên đất, các trang thiết bị, vật dùng trong chùa đều là của gia đình ông mua sắm, không nhận tiền của bất cứ tổ chức hay cá nhân nào. Đất và chùa là tài sản của gia đình ông, không thuộc giáo hội.
Ông thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1, yêu cầu Chùa N4 trả lại đất, ngôi chùa và toàn bộ tài sản khác trên đất cho các nguyên đơn đứng tên, quản lý thực hiện theo di chúc, yêu cầu Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nguyên đơn đứng tên.
+ Ông Lâm Sơn Đ1 có văn bản trình bày: Thống nhất theo yêu cầu của các nguyên đơn, không tranh chấp gì đối với di chúc của cụ H7, yêu cầu Chùa N4 trả đất cho các nguyên đơn đứng tên theo di chúc của cụ H7.
+ Ông Lâm Ngọc T6 có văn bản trình bày: Thống nhất với lời trình bày của các nguyên đơn về nguồn gốc đất, những người thừa kế của cha mẹ. Cha mẹ ông có thừa hưởng nhiều tài sản của ông bà nội trong đó có phần đất và tài sản trên đất tại Chùa N, là tài sản hợp pháp của gia đình đã hàng trăm năm qua. Cha ông là cụ H6 qua đời vào năm 1967, không để lại di chúc, vào năm 2001 mẹ ông là cụ H7 có lập di chúc với sự đồng thuận của tất cả các con, tuy những người con gồm : Ông C, ông C4, ông Đ1 và ông không có mặt tại Việt Nam nhưng đều biết và hiểu rõ nội dung di chúc của cụ H7, hoàn toàn không tranh chấp gì đối với nội dung di chúc. Theo ý nguyện của cụ H7 trong di chúc thì Chùa N4 được sử dụng làm nơi thờ cúng phật và nơi an nghỉ của ông bà tổ tiên, dòng họ L3, giao lại cho ông Đ, bà N, bà N1 đứng tên và quản lý nên ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
+ Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Lâm Kim C, gồm: Bà Lâm Mỹ N2, ông Lisa T3, ông Lâm Ngọc C1, ông Lâm Ngọc Q, ông Lâm Ngọc C2, ông Lâm Ngọc C3 đều yêu cầu xét xử vắng mặt, có văn bản trình bày giống nhau như sau:
Cha là Lâm Kim C đã chết vào ngày 30-01-2020, mẹ là Trần Thị V đã chết vào năm 2013, người thừa kế của ông C là 06 người con, gồm : Bà Lâm Mỹ N2, ông Lisa T3, ông Lâm Ngọc C1, ông Lâm Ngọc Q, ông Lâm Ngọc C2, ông Lâm
Ngọc C3, thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, thống nhất đòi lại đất và ngôi chùa để cho các nguyên đơn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo di chúc của cụ H7.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Ủy ban nhân dân tỉnh T do ông Văn Tiến D2, ông Lương Nguyễn Đằng D3, ông Võ Xuân T8, ông Trần Quang K làm người đại diện theo ủy quyền, có văn bản trình bày như sau:
Nguồn gốc Chùa N4 có từ năm 1930, hoạt động hợp pháp cho đến nay, trong quá trình sử dụng đất, Chùa N4 đã thực hiện việc đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo quy định pháp luật. Ủy ban nhân dân tỉnh T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: T00785 ngày 23-11-2006, cho Chùa N4, diện tích 3.012,5 m², thửa 12, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại: Khu phố A, Phường A, thị xã T (nay là thành phố T), mục đích sử dụng là đất tôn giáo. Việc cấp giấy chứng nhận là đúng quy định của pháp luật đất đai. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
- Đất tranh chấp qua đo đạc, thẩm định có tổng diện tích 3.012,5 m², trong đó 205,4 m² Nhà nước dùng làm mương thoát nước, đã bồi thường 45.000.000 đồng, phần diện tích làm mương các nguyên đơn không tranh chấp, chỉ tranh chấp 2.998,6 m². Đất có chiều ngang mặt tiền hướng đông giáp đường T 32,9 m, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: T00785 ngày 23-11-2006, do Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp, Chùa N4 đứng tên, giá trị thực tế là 26.987.400.000 đồng (9.000.000 đồng/m²). Tài sản trên đất là chùa, Nhà Địa tạng trong đó có nhiều lọ tro cốt, hàng rào xung quanh đất, gồm hàng rào có từ trước và hàng rào Chùa N4 mới làm do người dân hiến tiền, nhà khung sắt lợp tole do Chùa N4 mới làm và các tài sản khác, các đương sự không tranh chấp, không định giá.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2022/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ Điều 34, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 153, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 166 của Luật Đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1 đối với Chùa N4 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Buộc Chùa N4 phải trả lại cho những người thừa kế của cụ Nguyễn Thị H7 quyền sử dụng 1.940,6 m² đất, thuộc một phần thửa số 12, tờ bản đồ 51 (bản đồ địa chính chính quy-V-2000), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: T00785 ngày 23-11-2006, do Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp, Chùa N4 đứng tên, đất có hình chữ “L”, tứ cận như sau: Đông giáp đường T 11,18 m (0,39 + 10,79), giáp khuôn viên Chùa N4 21,41 m; Tây giáp các thửa 35, 40, 39, 38, 37, 5
dài 50,1 m (0,2 + 28,13 + 21,77); Nam giáp mương bê tông 80,26 m; Bắc giáp khuôn viên Chùa N4 49,22 m (44,55 + 4,67), giáp thửa số 10 dài 15 m (5,29 + 9,71), giáp thửa 11 dài 19,89 m.
Những người thừa kế của cụ H7 được sở hữu hàng rào, Nhà Địa tạng, cây trồng và toàn bộ tài sản khác trên đất.
Chùa N4 có nghĩa vụ di thỉnh tất cả lọ tro cốt trong Nhà Đ2 tạng đi nơi khác để giao đất và tài sản trên đất cho những người thừa kế của cụ H7.
Ghi nhận những người thừa kế của cụ H7 gồm: Bà Lâm Mỹ N2, ông Lisa T3, ông Lâm Ngọc C1, ông Lâm Ngọc Q, ông Lâm Ngọc C2, ông Lâm Ngọc C3, ông Lâm Nguyệt C4, ông Lâm Sơn Đ1, ông Lâm Ngọc T6, thống nhất giao cho ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1 đại diện đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: T00785 ngày 23-11-2006, do Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp, Chùa N4 đứng tên đối với 1.940,6 m² đất nêu trên.
Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 1.940,6 m² đấtnêu trên cho ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1 là đại diện của những người thừa kế của cụ Nguyễn Thị H7 đứng tên theo bản án.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1 về việc đòi lại tài sản là Chùa N4 và tranh chấp quyền sử dụng phần đất 1.058 m² thuộc khuôn viên ngôi chùa.
Chùa N4 được tiếp tục sử dụng 1.058 m², thuộc một phần thửa số 12, tờ bản đồ 51, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: T00785, có tứ cận: Đông giáp đường T 21,58 m (16,17 + 5,41; Tây giáp phần đất giao trả cho những người thừa kế của cụ H7 dài 21,41 m; Nam giáp phần giao trả dài 49,22 m; Bắc giáp hẻm bê tông và thửa số 10 dài 49,24 m (26,43 + 15,15 + 7,66). Ngôi chùa, các công trình phụ, cây trồng và các tài sản khác trên 1.058 m² đất này thuộc quyền sở hữu của Chùa N4.
3. Ghi nhận các bên đương sự không tranh chấp phần diện tích 205,4 m² làm mương thoát nước, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ cấp GCN: T00785.
Đất tranh chấp tọa lạc tại: Khu phố A, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo bản án.
Ngoài ra án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, nghĩa vụ chấp hành bản án.
Ngày 26, 27/01/2022, nguyên đơn ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Ánh N3 có đơn kháng cáo yêu cầu công nhận toàn bộ phần đất có diện tích 2.998,6 m2 thửa đất số 12, tờ bản đồ 51, tọa lạc tại phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh và tài sản trên đất là ngôi chùa, các công trình phụ là di sản của cụ Nguyễn Thị H7 để lại cho ba con là Lâm Sơn Đ, Lâm Ánh N, Lâm Tuyết N1.
Ngày 07/02/2022, đại diện hợp pháp của bị đơn là ông Liêu Văn H2 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông lý do cấp sơ thẩm tuyên giao trả cho nguyên đơn gần 2.000m², tuy nhiên trên phần đất
này có nhà thờ cúng hơn 50 năm là chưa phù hợp, phần đất đã được chứng nhận quyền sử dụng đất cho chùa N4, vì vậy đề nghị sửa án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Ông Huỳnh Văn Á và ông Nguyễn Thanh H1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đồng nguyên đơn thống nhất trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên những lời trình bày tại cấp sơ thẩm. Về nguồn gốc phần diện tích đất đang tranh chấp đã rõ ràng, các bên đương sự đều thống nhất thừa nhận. Chùa N4 trên đất là của nội các nguyên đơn, đất có từ năm 1902, chùa lập từ năm 1930, sau khi ông nội chết, cha mẹ các đồng nguyên đơn là người thừa kế. Khi mẹ lập di chúc, các người con đều thuận theo di chúc. Ngôi chùa, tiền xây dựng, tôn tạo, sữa chửa chùa và toàn bộ tài sản khác trên đất, các trang thiết bị, vật dùng trong chùa đều là của gia đình nguyên đơn mua sắm, không nhận tiền của bất cứ tổ chức hay cá nhân nào. Đất và chùa là tài sản của gia đình nguyên đơn, không thuộc giáo hội.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chùa N4 là không đúng, UBND tỉnh T đã không xem xét thực tế Chùa trước đây là do bà H7 xây dựng, khi cấp giấy đã không kiểm tra nguồn gốc cũng như gia đình không có tài liệu nào thể hiện việc hiến tặng.
Các ông cũng thống nhất với các nhận định từ mục [1] đến mục [5] của bản án sơ thẩm. Chỉ riêng mục [6] phần nhận định của bản án sơ thẩm, các ông không đồng ý. Cụ thể: theo Tờ Di chúc ngày 02-10-2001, cụ H7 ghi: Phần 720 mét vuông cùng ngôi chùa N4 trên phần đất này và tài sản thuộc ngôi chùa; Khu vực có nghĩa trang G tại: Số C, đường T, dùng làm nơi an nghỉ của tổ tiên và người họ L3, chỉ dành riêng cho việc thờ cúng phật và là nơi an nghỉ của ông bà tổ tiên.... giao cho 03 người con ở Việt Nam là Lâm Sơn Đ, Lâm Tuyết N1, Lâm Ánh N sở hữu... Như vậy cần phải hiểu di chúc của cụ H7 để lại ngôi chùa cho các con. Ngoài ra, theo di chúc, diện tích chùa N4 chỉ có 720 m² mà cấp sơ thẩm lại giao cho bị đơn hơn 1.058 m² là không phù hợp.
Đề nghị chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các đồng nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu kháng cáo của phía bị đơn, chúng tôi không đồng ý vì toàn bộ diện tích phần đất này là của gia đình nguyên đơn. Mặt khác, phần nhà địa táng hoàn toàn có thể di dời và thực tế chỉ chứa hơn 100 hũ tro cốt.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Vương Sơn H3 trình bày: giữ nguyên lời trình bày tại cấp sơ thẩm. Thay đổi nội dung kháng cáo. Mặc dù toàn bộ diện tích đất đã được hiến cho chùa, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho chùa N4. Chùa N4 thành lập từ năm 1930, có sinh hoạt tôn
giáo, có trụ trì. Chùa N4 là Cơ sở Tôn giáo thuộc Giáo hội P. Khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006, chùa cũng giao Giấy cho cụ H7 và các con giữ, trong Giấy chứng nhận ghi rõ người sử dụng đất là chùa N4. Như vậy cụ H7 và các con đều biết và không có ý kiến phản đối, thể hiện ý chí của cụ H7 hiến đất cho chùa, không phản đối việc cấp giấy chứng nhận toàn bộ diện tích đất cho chùa N4. Nay bản án sơ thẩm tuyên trả phần diện tích đất 1.940,6 m² đất ngoài khuôn viên Chùa N4, và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: T00785 ngày 23-11-2006, do Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp, Chùa N4 đứng tên, đối với diện tích 1.940,6 m² đất nêu trên thì Chùa N4, Giáo Hội Phật giáo Việt Nam tỉnh T cũng đồng ý. Tuy nhiên trên phần diện tích này có căn” nhà địa tạng” diện tích khoảng 20 m² để hàng trăm hũ tro cốt, việc di dời tro cốt không thể thực hiện vì lý do tâm linh và đạo lý.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên toà phát biểu:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định chùa N4 đã được hình thành từ năm 1930, thuộc Giáo hội P. Theo di chúc ngày 02/10/2001 thì cụ H7 có ý nguyện để lại chùa để làm phật sự. Cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Chùa N4 phải trả cho các nguyên đơn và những người thừa kế của cụ H7 phần diện tích đất nằm ngoài khuôn viên ngôi chùa; giữ nguyên hiện trạng ngôi chùa theo khuôn viên thực tế có chiều ngang mặt tiền 21,58 m, chiều dài khoảng 50 m, hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ. Tuy nhiên đối với căn nhà địa tạng chứa di cốt của những người đã khuất, không thể di dời vì lý do tâm linh. Đề nghị bác toàn bộ kháng cáo của các đồng nguyên đơn, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giao phần căn nhà địa tạng cho chùa N4 quản lý sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài tiệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Ánh N3; bị đơn Chùa N4 làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
UBND tỉnh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Xét kháng cáo của ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1, Hội đồng xét xử nhận định:
Như cấp sơ thẩm đã nhận định: Năm 1990, cụ Nguyễn Thị H7 có đơn xin thỉnh thầy Thích Minh L4 làm trụ trì Chùa N4. Năm 2006, cụ H7 yêu cầu ông Liêu Văn H2, Trụ trì Chùa N4 đi kê khai đăng ký đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi người sử dụng là chùa N4, được giao cho cụ H7 và các con giữ, cụ H7 và các con đều không phản đối, khiếu nại, thể hiện ý chí của cụ H7 là dùng ngôi chùa và khuôn viên đất có ngôi chùa để làm chùa V1, phù hợp với di chúc cụ H7 lập vào năm 2001. Đo đạc thực tế thì ngôi chùa nằm trong khuôn viên 1.058 m² đất, tuy không đúng theo diện tích 720 m² cụ H7 ghi trong di chúc nhưng thực tế từ trước đến nay Chùa N4 hoạt động trên khuôn viên này, tại cấp sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm Sơn Đ cũng thừa nhận khuôn viên chùa từ trước đến nay không thay đổi. Kết quả đo vẽ, các bên đều không khiếu nại.
Theo quy định tại Điều 12 của Luật Tín ngưỡng tôn giáo thì: “Hoạt động tín ngưỡng của cơ sở tín ngưỡng phải được đăng ký, trừ cơ sở tín ngưỡng là nhà thờ dòng họ”. Chùa N4 đã được đăng ký hợp pháp, đủ điều kiện hoạt động theo Luật Tín ngưỡng tôn giáo và theo Hiến chương Giáo hội P, đúng theo di nguyện của cụ H7. Theo lời trình bày của đại diện những người khởi kiện thì phần diện tích đất 1.480 m² đất cụ H7 đăng ký năm 1992 là ở vị trí khác, chỉ có 720 m² đăng ký tại vị trí chùa. Như vậy, phần diện tích đất còn lại không ai đăng ký mà vẫn được cấp Giấy chứng nhận. Cấp sơ thẩm chấp nhận cho các đồng nguyên đơn sử dụng 1.940,6 m², chùa N4 sử dụng 1.058 m² là hài hòa quyền và lợi ích hợp pháp các bên, có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, đại diện các đồng nguyên đơn và luật sư không cung cấp được lý lẽ gì mới, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.
[3.2] Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại đơn kháng cáo ngày 07/02/2022 ông Liêu Văn H2 kháng cáo không đồng ý nội dung giao trả nguyên đơn gần 2.000 m² đất và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đề nghị không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Tại phiên Tòa phúc thẩm, ông Liêu Văn H2 thay đổi kháng cáo, chỉ đề nghị Tòa án công nhận phần diện tích có căn “nhà địa tạng” thuộc quyền sử dụng của chùa N4, hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích “nhà địa tạng” do việc di dời các lọ tro cốt không thể thực hiện vì lý do tâm linh và đạo lý. Xét thấy việc thay đổi nội dung kháng cáo không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về yêu cầu công nhận phần diện tích có căn nhà địa tạng: Căn nhà địa tạng nằm hoàn toàn trong phần diện tích đất được tuyên trả cho gia đình các đồng
nguyên đơn, đại diện bị đơn cũng không nêu được diện tích cụ thể yêu cầu công nhận. Việc di dời các lọ tro cốt cũng không có gì trái đạo lý và không phải không thể thực hiện về mặt tâm linh. Do đó kháng cáo của bị đơn không có căn cứ để chấp nhận.
[3]. Về án phí: Do không được chấp nhận kháng cáo, nguyên đơn là ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1; bị đơn Chùa N4 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, nguyên đơn là ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1 thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ nghị nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1; không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn Chùa N4. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2022/DSST ngày 25-01-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1 đối với Chùa N4 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Buộc Chùa N4 phải trả lại cho những người thừa kế của cụ Nguyễn Thị H7 quyền sử dụng 1.940,6 m² đất, thuộc một phần thửa số 12, tờ bản đồ 51 (bản đồ địa chính chính quy-V-2000), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: T00785 ngày 23-11-2006, do Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp, Chùa N4 đứng tên, đất có hình chữ “L”, tứ cận như sau: Đông giáp đường T 11,18 m (0,39 + 10,79), giáp khuôn viên Chùa N4 21,41 m; Tây giáp các thửa 35, 40, 39, 38, 37, 5 dài 50,1 m (0,2 + 28,13 + 21,77); Nam giáp mương bê tông 80,26 m; Bắc giáp khuôn viên Chùa N4 49,22 m (44,55 + 4,67), giáp thửa số 10 dài 15 m (5,29 + 9,71), giáp thửa 11 dài 19,89 m.
Những người thừa kế của cụ H7 được sở hữu hàng rào, Nhà Địa tạng, cây trồng và toàn bộ tài sản khác trên đất.
Chùa N4 có nghĩa vụ di thỉnh tất cả lọ tro cốt trong Nhà Đ2 tạng đi nơi khác để giao đất và tài sản trên đất cho những người thừa kế của cụ H7.
Ghi nhận những người thừa kế của cụ H7 gồm: Bà Lâm Mỹ N2, ông Lisa T3, ông Lâm Ngọc C1, ông Lâm Ngọc Q, ông Lâm Ngọc C2, ông Lâm Ngọc C3, ông Lâm Nguyệt C4, ông Lâm Sơn Đ1, ông Lâm Ngọc T6, thống nhất giao cho ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1 đại diện đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: T00785 ngày 23-11-2006, do Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp, Chùa N4 đứng tên đối với 1.940,6 m² đất nêu trên.
Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 1.940,6 m² đấtnêu trên cho ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1 là đại diện của những người thừa kế của cụ Nguyễn Thị H7 đứng tên theo bản án.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1 về việc đòi lại tài sản là Chùa N4 và tranh chấp quyền sử dụng phần đất 1.058 m² thuộc khuôn viên ngôi chùa.
Chùa N4 được tiếp tục sử dụng 1.058 m², thuộc một phần thửa số 12, tờ bản đồ 51, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: T00785, có tứ cận: Đông giáp đường T 21,58 m (16,17 + 5,41; Tây giáp phần đất giao trả cho những người thừa kế của cụ H7 dài 21,41 m; Nam giáp phần giao trả dài 49,22 m; Bắc giáp hẻm bê tông và thửa số 10 dài 49,24 m (26,43 + 15,15 + 7,66). Ngôi chùa, các công trình phụ, cây trồng và các tài sản khác trên 1.058 m² đất này thuộc quyền sở hữu của Chùa N4.
3. Ghi nhận các bên đương sự không tranh chấp phần diện tích 205,4 m² làm mương thoát nước, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ cấp GCN: T00785.
Đất tranh chấp tọa lạc tại: Khu phố A, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo bản án.
4. Về chi phí tố tụng khác:
- Chi phí ủy thác tư pháp:
+ Ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Tuyết N1, bà Lâm Ánh N phải chịu 5.644.000 đồng, trong đó: Được trừ vào 800.000 đồng tiền tạm ứng chi phí thực hiện ủy thác tư pháp đã nộp theo các Biên lai thu số: 0020363, 0020364, 0020365, 0020366, cùng ngày 25-9-2019, của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh và 4.844.000 đồng đã nộp xong.
+ Chùa N4 phải chịu 11.290.000 (mười một triệu hai trăm chín chục nghìn) đồng, nộp trả cho ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Tuyết N1, bà Lâm Ánh N.
- Về chi phí đo đạc, định giá:
+ Ông Ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Tuyết N1, bà Lâm Ánh N phải chịu 6.000.000 (sáu triệu) đồng, đã nộp xong.
+ Chùa N4 phải chịu 12.000.000 (mười hai triệu) đồng, nộp trả cho ông Đ, bà N1, bà N.
Kể từ ngày ông Đ, bà N1, bà N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Chùa N4 chưa thi hành xong số tiền như đã nêu trên thì hàng tháng Chùa N4 còn phải trả cho ông Đ, bà N1, bà N tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
5. Về án phí:
+ Ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Tuyết N1, bà Lâm Ánh N được miễn. Hoàn trả cho ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Tuyết N1, bà Lâm Ánh N 28.500.000 (hai mươi tám triệu năm trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số: 0006345 ngày 12-12-2018, của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
+ Chùa N4 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
6. Án phí dân sự phúc thẩm:
+ Nguyên đơn là ông Lâm Sơn Đ, bà Lâm Ánh N, bà Lâm Tuyết N1 được miễn.
+ Bị đơn Chùa N4 phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0000115 ngày 14-02-2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Tô Ngọc |
| Các thẩm phán | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa | |
| Vũ Ngọc Huynh | Phan Nhựt Bình | Phan Tô Ngọc |
Bản án số 244/2024/DS-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 244/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm
