Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 244/2024/DS-PT

Ngày 13 tháng 12 năm 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang và ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Giang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết- Kiểm sát viên trung cấp.

Trong các ngày 22/11/2024 và ngày 13/12/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2024/TLPT- DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 35/2024/DS- ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 266/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 11 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 161/2024/QĐ-PT ngày 22/11/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Xuân V năm 1973. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Tạ Quang M, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị H năm 1979. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  • + Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang(Vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà HÔng Bùi Xuân V năm 1973. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Pông M1 bà Lê Thị L năm 1962. Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)

Người kháng cáo: Bị đơn

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai tiếp theo ông Bùi Xuân V1 bày: Do có mối quan hệ là người cùng phố với nhau nên nhiều lần vợ chồng anh M có vay tiền của vợ chồng anh để làm ăn, kinh doanh những lần vay mượn trước hai bên đã thanh toán trả cho nhau xong, còn hai khoản vay chưa trả cụ thể. Ngày 09/6/2021 anh M2 vay của vợ chồng anh số tiền 500.000.000đồng (năm trăm triệu đồng) thời hạn vay 02 năm, lãi suất 1,5%/1 tháng, anh M3 trả lãi cho anh 6 tháng. Đến ngày 26/01/2022 anh M4 vay thêm 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng), thời gian vay 2 ngày để đáo hạn ngân hàng nhưng không giải quyết được nên anh Mđề nghị gia hạn cho vay 01 năm. Vì những lần vay trước anh M5 trả sòng phẳng nên anh đồng ý cho gia hạn vay, lãi suất hai bên thoả thuận 1,5%/1 tháng. Sau đó anh M3 trả lãi cho anh thêm khoảng 10 tháng lãi nữa, những lần trả lãi hai bên chỉ đưa tiền cho nhau không có giấy tờ gì anh tự ghi vào giấy và nhớ anh M3 trả lãi đến hết tháng 12/2022 âm lịch. Từ đầu năm 2023 anh M8 Pkhông thanh toán trả lãi cho anh theo thoả thuận, anh đã đến đòi nhiều lần vợ chồng anh Mchị P1 khất nợ. Nay đã quá hạn trả nợ gốc vợ chồng anh M6 trả tiền cho anh. Anh làm đơn khởi kiện yêu cầu anh M8 Ptrả vợ chồng anh số tiền gốc là 800.000.000đồng (tám trăm triệu đồng) trong đó số tiền vay ngày 09/6/2021 là 500.000.000đồng, số tiền vay ngày 26/01/2022 là 300.000.000đồng .

Tiền lãi theo lãi suất 1,5%/1 tháng tính từ ngày 10/10/2022 đến ngày làm đơn 13/5/2024 là 220.000.000đồng.

Tại phiên toà hôm nay ông V2 cầu cả 2 khoản vay đều tính lãi 10%/1 năm thời điểm tính lãi từ ngày 01/02/2023 đến ngày 21/8/2024.

Tại bản khai của bà Nguyễn Thị H1 bày: Bà là vợ ông Nguyễn Văn V3, bà cũng nhất trí ý kiến trình bày của ông V3, bà không bổ sung gì thêm.

Tại bản khai của anh Tạ Quang M7 bày: Do có mối quan hệ quen biết cùng ở tổ dân phố C, thị trấn NNgày 09/6/2021 vợ chồng anh có vay của ông V3, bà H2 tiền 500.000.000đồng, lãi suất 1,5%/1 tháng. Thời hạn vay 2 năm, mục đích vay phát triển kinh tế gia đình, tiếp đó ngày 26/01/2022 anh vay tiếp vợ chồng ông V1bà Hsố tiền 300.000.000đồng, lãi suất 1,5%/1 tháng, hạn vay đến 26/01/2023 trả. Sau khi vay anh đã trả cho ông V1một số tiền lãi nhưng đến nay anh không nhớ trả được bao nhiêu tiền lãi, khi trả tiền lãi không có giấy tờ gì. Tiền gốc đến nay vợ chồng anh chưa trả được đồng nào. Đến hạn trả nợ do vợ chồng anh chưa trả được cho ông V1bà HNay ông V1bà H kiện đòi vợ chồng anh số tiền của hai giấy vay là 800.000.000đồng. Anh xác định đây là nợ chung của vợ chồng anh, anh xin chịu trách nhiệm trả số tiền 800.000.000 đồng và xin trả dần; tiền lãi do khó khăn nên vợ chồng anh xin không trả tiền lãi.

Tại bản trình bày ý kiến của chị Nguyễn Thị P2 bày. Chị đã nhận được đơn khởi kiện của ông V1yêu cầu vợ chồng chị trả số tiền 02 giấy vay ngày 09/6/2021 là 500.000.000đồng (năm trăm triệu đồng); giấy vay ngày 26/01/2022 số tiền là 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng). Ông Vlkiện buộc hai vợ chồng chị trả số tiền trên là không đúng vì trong giấy vay không có chữ ký của chị nên chị đề nghị Toà án không đưa chị vào tham gia tố tụng trong vụ kiện này.

Với nội dung trên, Bản án dân sự số 35/2024/DS- ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 271; Điều 273; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 463; Điều 466; Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân gia đình; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân V4 anh Tạ Quang M8 Nguyễn Thị P3 đới chịu trách nhiệm trả cho ông Bùi Xuân V5 Nguyễn Thị H3 số tiền gốc, tiền lãi tính đến ngày 21/8/2024 là 924.439.467 đồng; (trong đó số tiền 800.000.000đồng; Tiền lãi 124.439.467 đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 05/9/2024, bị đơn là anh Tạ Quang M9 chị Nguyễn Thị P4 bà Lê Thị Lkháng C bản án sơ thẩm, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Bùi Xuân V6 nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn là anh Tạ Quang M9 chị Nguyễn Thị P do bà Lê Thị L1 diện theo ủy quyền thay đổi yêu cầu kháng cáo, yêu cầu sửa bản án theo hướng buộc một mình anh M2 nghĩa vụ trả nợ cho ông Bùi Xuân V7. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thư ký, HĐXX và các đương sự đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Tạ Quang M9 chị Nguyễn Thị P, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của anh Tạ Quang M9 chị Nguyễn Thị P, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Anh Tạ Quang M9 chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí DSPT.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Xét kháng cáo của anh Tạ Quang M9 chị Nguyễn Thị P:

Về nội dung vụ án: Ông Vbà H4 cầu anh Mchị P5 tổng số tiền vay là 800.000.000 đồng, trong đó 500.000.000 đồng vay ngày 09/6/2021 và 300.000.000 đồng vay ngày 26/01/2022; yêu cầu trả lãi 10%/1 năm tính từ ngày 01/02/2023 đến nay.

HĐXX xét thấy: Căn cứ tài liệu, chứng cứ giấy vay tiền ngày 09/6/2021; giấy vay tiền ngày 26/01/2022 do ông V8 cấp; Lời khai của anh M10 nhận ngày 09/6/2021 anh M11 của ông V, bà H số tiền 500.000.000 đồng; ngày 26/01/2022 anh M11 tiếp số tiền của ông Vbà H6 300.000.000 đồng tổng hai lần vay là 800.000.000 đồng đến nay chưa trả. Chị P6 nhận anh M2 nợ nhưng là nợ riêng của anh M12 anh V9 kiện yêu cầu trả số tiền gốc đã vay là 800.000.000 đồng là có căn cứ cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh V

Đối với yêu cầu của ông V4 cả vợ chồng anh Mchị P7 trách nhiệm trả số tiền trên cho ông. Chị P8 bà L1 diện theo uỷ quyền của chị P9 rằng đây là nợ riêng của anh M13 chị P10 phải chịu trách nhiệm trả nợ. Tại bản tự khai đề ngày 28/5/2024 của anh M, anh M14 định vợ chồng anh có vay tiền của ông Vbà H7 phát triển kinh tế gia đình và thừa nhận là công nợ chung của vợ chồng. Qua xác minh tại địa phương thì thấy anh Mchị P11 trước đến nay vợ chồng vẫn chung sống, làm ăn phát triển kinh tế chung, anh M15 xưởng cơ khí, khung nhôm, sắt thép chứng tỏ số tiền anh M11 để nhằm phát triển kinh tế chung của gia đình, vay trong thời kỳ vợ chồng hôn nhân hợp pháp do vậy có căn cứ xác định là đây là công nợ chung của anh M8 P. Do đó, cần buộc anh M9 chị P12 liên đới chịu trách nhiệm trả cho ông V5 Hsố tiền gốc đã vay là 800.000.000 đồng theo quy định tại Điều 27- Luật hôn nhân gia đình, Điều 463; Điều 466 của Bộ luật Dân sự.

Ông V yêu cầu tính lãi suất 10%/1 năm tính từ ngày 01/02/2023 đến ngày 21/8/2024. HĐXX nhận thấy mức lãi suất ông V2 cầu không vượt quá lãi suất quy định của pháp luật, cần chấp nhận yêu cầu đòi tiền lãi của ông V4 anh M8 Ptrả tiền lãi cho ông Vbà H8 mức lãi suất 10%/năm, thời hạn tính từ ngày 01/02/2023 đến ngày 21/8/2024 là 124.439.467 đồng phù hợp với quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Bản án sơ thẩm tuyên buộc anh Tạ Quang M8 Nguyễn Thị P3 đới trả cho ông Bùi Xuân V5 Nguyễn Thị H3 số tiền 924.439.467 đồng (trong đó số tiền 800.000.000đồng; Tiền lãi 124.439.467 đồng) là có căn cứ.

[2]. Từ những lập luận trên đây, thấy anh Tạ Quang M8 Nguyễn Thị Pkháng cáo bản án, đề nghị sửa bản án theo hướng buộc một mình anh M16 nợ cho ông V5 Hlà không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 35/2024/DS- ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Tạ Quang M8 Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Tạ Quang M8 Nguyễn Thị P, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 35/2024/DSST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

2. Về án phí: Anh Tạ Quang M8 Nguyễn Thị P mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 600.000 đồng theo các Biên lai thu số 0007115 ngày 15/10/2024 và số 0007114 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Toà án nhân dân huyện Tân Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Chuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 244/2024/DS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 244/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger