|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số:244/2024/HS-ST Ngày 29/11/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư.
- Bà Hoàng Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án thành phố Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 233/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo: Lành Việt M, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; con ông Lành Văn Đ, sinh năm 1961 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là thứ tư; Vợ: Chưa có; Có 01 con sinh năm 2014.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 47 ngày 05/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
Tiền sự: Ngày 21/02/2024 bị Công an xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Nhân thân:
- + Ngày 07/12/2017 bị Công an xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 20 ngày 02/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xoá án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
(Có mặt tại phiên toà)
- * Bị hại: Chị Vũ Thị H1, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Số nhà B, ngõ D, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Vũ Văn K, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 12/9/2024, Lành Việt M, sinh năm 1989, trú tại thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đi bộ quanh khu vực thành phố B xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đi đến trước cửa số nhà H đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, M nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen- đỏ, biển kiểm soát 98B1-944.83 của chị Vũ Thị H1, sinh năm 1981, trú tại số nhà B, ngõ D, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đang đỗ ở rìa đường, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện, trên xe có 01 chiếc giá thồ hàng bằng kim loại màu đen. Lúc này, M nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên để bán lấy tiền chi tiêu.
Quan sát thấy xung quanh không có người trông coi, Mạnh tiến lại gần chiếc xe, ngồi lên yên xe và mở khóa điện. Sau đó, M tăng ga, điều khiển xe mô tô đi về phía thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang để tìm nơi tiêu thụ chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được. Khi đi đến khu vực ngã tư thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, M gặp một người thanh niên (M không biết tên, tuổi và địa chỉ của người này, đến nay không xác định được là ai). Người thanh niên này rủ M cùng sử dụng ma túy Heroine tại một bãi đất trống thuộc địa phận thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sử dụng ma túy xong, M điều khiển xe mô tô 98B1-944.83 chở người thanh niên đến nhà trọ Hải Khanh do anh Vũ Văn K, sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố số A, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang làm chủ. Tại đây, M nói với anh K là đang cần tiền gấp nên đặt vấn đề vay anh K 1.000.000 đồng và để lại chiếc xe mô tô 98B1-944.83 để làm tin. Anh K hỏi về nguồn gốc xe thì M nói là xe mô tô của M. Sau khi xem xét chiếc xe mô tô và không thấy có dấu hiệu cậy phá khóa, tin tưởng là xe mô tô của M nên anh K đồng ý cho M vay số tiền 1.000.000 đồng và giữ chiếc xe lại để làm tin. Nhận số tiền 1.000.000 đồng từ anh K, M đã sử dụng vào việc chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 12/9/2024, chị Vũ Thị H1 có đơn trình báo đến Công an phường L, thành phố B về việc bị mất trộm tài sản. Cùng ngày, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Lành Việt M đã đến Công an phường L, thành phố B để đầu thú.
Ngày 12/9/2024, anh Vũ Văn K giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen- đỏ, biển kiểm soát 98B1-944.83, trên xe có 01 giá thồ hàng bằng kim loại màu đen.
Tại Kết luận định giá tài sản số 239/KL-HĐ ngày 17/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen - đỏ, biển kiểm soát 98B1-944.83, đăng ký lần đầu ngày 13/01/2014, đã qua sử dụng trị giá 6.500.000 đồng; 01 giá thồ hàng bằng kim loại màu đen, đã qua sử dụng trị giá 145.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Lành Việt Mạnh trộm cắp là 6.645.000 đồng.
Ngày 19/9/2024, Cơ quan điều tra cho Lành Việt M thực nghiệm điều tra tại hiện trường. M thực hiện thuần thục động tác trộm cắp chiếc xe mô tô 98B1-944.83 của chị H1 như đã khai.
Ngày 12/9/2024, anh Vũ Văn K giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đĩa DVD bên trong có 01 file video trích xuất từ camera an ninh của nhà trọ H2. Cơ quan điều tra trưng cầu giám định 01 file video nêu trên.
Kết luận giám định số 2323/KL-KTHS ngày 01/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 (một) file video có tên “20240912203014.dav", dung lượng: 23.7MB, thời lượng: 02 phút 50 giây lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định”.
Cơ quan điều tra cho L Việt Mạnh xem 01 file video nêu trên. Kết quả, M xác định có hình ảnh của M khi đang trao đổi vay tiền và để lại xe mô tô làm tin cho anh K.
Cơ quan điều tra cho anh Vũ Văn K và L Việt Mạnh nhận dạng ảnh của nhau. Kết quả, anh K và M nhận đúng ảnh và xác định M để lại chiếc xe mô tô 98B1-944.83 tại nhà anh K làm tin để vay số tiền 1.000.000 đồng ngày 12/9/2024.
Tại Cáo trạng số 234/CT-VKS ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Lành Việt M về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo M khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
1.Về tội danh và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lành Việt M từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 12/9/2024.
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo: Không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này, nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi của bị cáo theo Cáo trạng truy tố: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 11 giờ ngày 12/9/2024, tại khu vực trước cửa số nhà H, đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Lành V có hành vi trộm cắp của chị Vũ Thị H1, sinh năm 1981, trú tại số nhà B, ngõ D, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen- đỏ, biển kiểm soát 98B1-944.83, trên xe có 01 giá thồ hàng bằng kim loại màu đen có tổng giá trị là 6.645.000 đồng. Sau đó, M đến nhà anh Vũ Văn K, sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố số A, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang vay 1.000.000 đồng và để lại xe mô tô làm tin.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Bản cáo trạng số 234/CT-VKS ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Lành Việt M là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định trật tự an ninh tại địa phương, bị dư luận và quần chúng nhân dân lên án. Bị cáo đã từng bị xử lý bằng pháp luật hình sự nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để trở thành công dân tốt có ích cho xã hội mà bị cáo còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, để giáo dục riêng và phòng ngừa chung với loại tội này.
[5] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”; 02 lần bị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi trộm cắp tài sản.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47 ngày 05/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt bị cáo 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích bị cáo lại phạm tội mới, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[9] Về trách nhiệm dân sự:
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen- đỏ, biển kiểm soát 98B1-944.83, trên xe có 01 giá thồ hàng bằng kim loại màu đen. Kết quả xác minh là xe của anh Vũ Đức V, sinh năm 1991, ở tổ I, đường P, thành phố B là em họ của chị H1. Cơ quan điều tra trả lại cho chị Vũ Thị H1. Chị H1 không yêu cầu bị cáo M bồi thường, do vậy không đặt ra xem xét.
- - Đối với anh Vũ Văn K cho M vay tiền và nhận chiếc xe mô tô 98B1-944.83 để làm tin nhưng không biết là tài sản do M phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý. Anh K không yêu cầu M trả anh số tiền 1.000.000 đồng, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[10] Về Vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen- đỏ, biển kiểm soát 98B1-944.83, trên xe có 01 giá thồ hàng bằng kim loại màu đen đã được trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[11] Các vấn đề khác trong vụ án: Ngày 14/9/2024, Cơ quan điều tra tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với Lành Việt M. Kết quả M dương tính với chất ma tuý Heroine. Ngày 06/11/2024, Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng đối với Lành Việt M về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Đối với người thanh niên rủ M cùng sử dụng ma túy Heroine, M khai không biết tên, tuổi và địa chỉ của người này, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không xem xét.
[12] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Ngoài ra cần áp dụng quy định tại Điều 329, Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án và tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị.
[14] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: các vấn đề về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng đối với bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về tội danh và hình phạt: Xử phạt bị cáo Lành Việt M 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12/9/2024.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Thắng |
Bản án số 244/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm về tội "trộm cắp tài sản"
- Số bản án: 244/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Trộm cắp tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mạnh. trộm cắp TS
