|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 244/2024/HS-ST
Ngày: 14-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Viết Sáu, ông Lê Văn Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim A - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 206/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 297/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, Thông báo số: 310/2024/TB-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, Thông báo số: 314/2024/TB-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Đặng Đường P (tên gọi khác: B), sinh ngày 22 tháng 5 năm 1990 tại Bình Thuận
Nơi đăng ký thường trú: khu phố C, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn M (đã chết) và bà Đường Thị Minh M1; tiền án: Ngày 29/11/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 191/2018/HSST và 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 192/2018/HSST, tổng hợp hình phạt buộc chấp hành hình phạt chung hai Bản án là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù, chấp hành xong ngày 14/01/2023, chưa được xóa án tích; tiền sự: không; nhân thân:
- Ngày 16/8/2013, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P ra Quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng, theo Quyết định số 1242/QĐ-UBND, chấp hành xong ngày 19/7/2014
- Ngày 20/02/2017, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A1, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 15.000.000 đồng về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ không có giấy phép theo Quyết định số 21/QĐ-XPVPHC
- Ngày 04/3/2018, bị Công an phường L, thành phố P xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác
- Ngày 01/7/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P, tỉnh Bình Định khởi tố bị can về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 11/6/2024, chuyển tạm giam ngày 20/6/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P.
-
Đặng Đường T (tên gọi khác: L), sinh ngày 28 tháng 10 năm 1987 tại Bình Thuận
Nơi đăng ký thường trú: khu phố C, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn M (đã chết) và bà Đường Thị Minh M1; chung sống như vợ chồng với bà Trần Thị Kim T1; có 01 người con sinh năm 2008; tiền án: không; tiền sự: Ngày 24/8/2022, bị Công an phường Đ, thành phố P xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 0001493; nhân thân:
- Ngày 05/01/2017, bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 0005527, đã đóng phạt ngày 05/9/2017.
- Ngày 27/6/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 63/2019/HSST, chấp hành xong ngày 06/9/2020.
- Ngày 13/10/2022, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời gian 03 tháng theo Quyết định số 259/QĐ-XPTT, chấp hành xong ngày 13/01/2023.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 11/6/2024, chuyển tạm giam ngày 20/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 11/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên Đặng Đường P dùng điện thoại di động gọi cho một nam thanh niên qua ứng dụng Zalo lưu tên trong danh bạ là “Bi Xù” (không rõ nhân thân) hỏi mua 01 tép ma túy đá với giá 200.000 đồng thì người này đồng ý và hẹn P đến cây xăng gần hẻm I đường T thuộc khu phố F, phường Đ, thành phố P để nhận ma túy. Khoảng 30 phút sau, Bi Xù đến điểm hẹn rồi gọi qua ứng dụng Z cho P ra lấy ma túy đá. Tại đây, P đưa cho Bi Xù 200.000 đồng, Bi X nhận tiền rồi đưa cho P 01 gói nylon không màu hàn kín bên trong chứa ma túy đá. Mua được ma túy, P xóa hết các cuộc gọi và tin nhắn trong điện thoại rồi đem ma túy đi về nhà của bà Đường Thị Minh M1 (sinh năm 1965, là mẹ của P) ở hẻm I đường T thuộc khu phố F, phường Đ, thành phố P cất vào phòng ngủ của P. Sau đó, P lấy bộ dụng sử dụng ma túy tự chế của P ra đổ hết số ma túy đá mới mua vào nỏ thủy tinh, dùng bật lửa đốt ma túy lên để sử dụng. Khi P đang sử dụng ma túy thì Đặng Đường T (là anh ruột của P) đi vào phòng ngủ của P. Thấy vậy, P rủ T cùng sử dụng ma túy đá với P thì T đồng ý. Đến khoảng 14 giờ 35 phút cùng ngày, khi T và P đang sử dụng ma túy đá thì bị Tổ Công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy - Công an tỉnh B phối hợp Công an phường Đ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ từ P 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: 01 ống thủy tinh được thổi phồng và uốn cong một đầu, bên trong ống thủy tinh có chứa tinh thể màu trắng (ghi là ma túy) chưa sử dụng hết và 01 ống hút bằng nhựa.
Thấy lực lượng Công an, P sợ nên đã tự nguyện lấy từ trên trần nhà bằng la phông trong phòng ngủ của P ra 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, bên ngoài có dán băng keo màu đen, kích thước khoảng (04 x 07)cm, bên trong chứa 01 viên rưỡi ma túy loại kẹo (trong đó: có 01 viên còn nguyên, 01 viên bị bể làm hai). P khai nhận: P mua số ma túy trên khoảng 01 tháng trước (không nhớ rõ thời gian cụ thể), P đi đến dốc căn thuộc phường Đ, thành phố P gặp 01 nam thanh niên tên L1 (không rõ nhân thân) hỏi mua 02 viên ma túy loại kẹo, L1 đồng ý bán cho P với giá 400.000 đồng rồi P đem về nhà sử dụng được nửa viên, còn lại 01 viên rưỡi, P cất giấu trên trần nhà trong phòng ngủ của P để dành sử dụng dần.
Lúc này, Tổ Công tác tiếp tục kiểm tra người của Đặng Đường T thì phát hiện bên trong quần đùi, phía trước T đang mặc có 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước (9,5 x 5,5)cm, bên trong có chứa 01 gói nylon có nhíp kéo một đầu, được quấn kín bằng băng keo, kích thước (04 x 07)cm, bên trong chứa 10 đoạn ống hút bằng nhựa có nhiều màu, bên trong là ma túy loại Heroin. T khai nhận: Vào ngày 07/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy loại Heroin nên T đi đến khu vực xóm S, thị xã L, tỉnh Bình Thuận thì gặp một người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân) hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy loại Heroin thì T2 đồng ý bán. T đưa cho T2 1.000.000 đồng, T2 nhận tiền rồi đưa cho T 01 gói nylon có khóa nhựa kéo một đầu bên trong chứa ma túy loại heroin. Mua được ma túy, T đi về nhà của T tại hẻm I, đường T thuộc khu phố F, phường Đ, thành phố P chia ma túy thành 16 tép nhỏ rồi bỏ vào 16 đoạn ống hút bằng nhựa nhiều màu, hàn kín hai đầu để dành sử dụng dần. Từ ngày 08/6/2024 đến ngày 11/6/2024 T đã sử dụng hết 6 tép, còn lại 10 tép T cất trong túi quần đùi, phía trước T đang mặc thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và thu giữ.
Quá trình điều tra, P và T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng của vụ án:
- Thu giữ của Đặng Đường P:
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm có: 01 ống thủy tinh được thổi phồng và uốn cong một đầu, chiều dài 21cm, bên trong ống thủy tinh có chứa chất rắn màu vàng đục (ký hiệu M1 khi giám định) và 01 ống hút bằng nhựa (được thu giữ trên nền nhà trong phòng ngủ của P, là vị trí P và T đang ngồi sử dụng ma túy).
- + 01 gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, bên ngoài gói nylon có dán băng keo màu đen, kích thước (04×07)cm, bên trong có chứa 01 viên nén màu nâu (ký hiệu M2 khi giám định) và 02 mảnh viên nén bị vỡ (ký hiệu lần lượt M3 và M4 khi giám định), được thu giữ trên trần nhà trong phòng ngủ của P.
- + 01 chiếc điện thoại di động hiệu SAMSUNG, màu xanh, bên trong điện thoại không chứa sim, số IMEI1: 352233112671624, được thu giữ trên nền nhà cạnh vị trí P ngồi, đây là điện thoại của P.
- Thu giữ của Đặng Đường T:
- + 01 gói nylon không màu có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước (9,5×5,5)cm, bên trong chứa 01 gói nylon có nhíp kéo một đầu được quấn kín bằng băng keo, kích thước (04×07)cm, bên trong có 10 đoạn ống hút bằng nhựa có nhiều màu, hàn kín, bên trong các đoạn ống hút bằng nhựa này có chứa chất rắn không rõ hình dạng (ký hiệu M5 khi giám định), được thu giữ bên trong quần đùi, trước bụng của T.
- + 01 chiếc điện thoại di động hiệu SAMSUNG, bên trong điện thoại chứa sim số 0393.129.xxx và 0523470574, số IMEI1: 351580103674962, được thu giữ trên nền nhà cạnh vị trí T ngồi, đây là điện thoại của T.
Tại Kết luận giám định số 655/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận:
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,0991 gam là Methamphetamine.
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,4449 gam là MDMA.
- Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,1049 gam là MDMA.
- Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 0,0709 gam là MDMA.
- Mẫu M5 gửi giám định có khối lượng 0,3391 gam là Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
H lại đối tượng giám định:
- - 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu cùng 0,0693 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 655/1 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
- - 01 gói nylon không màu, có khóa kéo viền đỏ, bên ngoài được dán băng keo đen cùng 0,2319 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 655/2 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B (Mẫu M3 và M4 đã sử dụng hết trong công tác giám định).
- - 01 gói nylon không màu có khóa kéo viền đỏ; 01 gói nylon không màu có khóa kéo, bên ngoài được dán kín bằng băng keo; 10 đoạn ống nhựa nhiều màu đã cắt lấy mẫu cùng 0,3128 gam mẫu M5 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 655/3 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
Xử lý vật chứng:
- Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 03 phong bì số 655/1, 655/2, 655/3 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế; 01 chiếc điện thoại di động hiệu SAMSUNG, số IMEI1: 352233112671624 (thu giữ từ P), Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu SAMSUNG, bên trong điện thoại chứa sim số 0393.129.xxx và 0523470574 (thu giữ từ T), quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã trả lại cho T.
Tại Cáo trạng số 206/CT-VKSPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Đặng Đường P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Đặng Đường T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Đường P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với mức án từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù, tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Đường T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 03 phong bì số 655/1, 655/2, 655/3 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu SAMSUNG, số IMEI1: 352233112671624.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 14 giờ 35 phút ngày 11/6/2024, tại phòng ngủ của Đặng Đường P tại khu phố F, phường Đ, thành phố P, P đã có hành vi cung cấp ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy để P và T sử dụng thì bị Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy - Công an tỉnh B phối hợp Công an phường Đ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ một bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong ống thủy tinh còn lại 0,0991 gam là Methamphetamine. Ngoài ra, P còn tự nguyện lấy từ trên trần nhà trong phòng ngủ của P ra 0,6207 gam ma túy là MDMA (đây là ma túy P tàng trữ để sử dụng dần) giao nộp cho Cơ quan Công an.
Qúa trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện và thu giữ bên trong quần đùi, trước bụng của T đang mặc 0,3391 gam ma túy là H1 (đây là ma túy T mua về tàng trữ để sử dụng).
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo bị cáo Đặng Đường P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Đặng Đường T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Các bị cáo Đặng Đường P, Đặng Đường T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đặng Đường P có 01 tiền án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đặng Đường T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng: Hiện nay, tội phạm về ma túy đang là vấn nạn nhức nhối của xã hội, không những hủy hoại sức khỏe, làm ảnh hưởng đến giống nòi, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Các bị cáo đã từng bị xét xử, xử lý hành chính, xử phạt vi phạm hành chính nhưng không rèn luyện, tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết về mức áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 03 phong bì số 655/1, 655/2, 655/3 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế là vật liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu SAMSUNG, số IMEI1: 352233112671624 là công cụ dùng để phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ: khoản 1 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Đặng Đường P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Đặng Đường P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 11/6/2024.
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Đặng Đường T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Đặng Đường T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 11/6/2024.
-
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự
Tịch thu tiêu hủy:
- Số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 03 (ba) phong bì số 655/1, 655/2, 655/3 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
01 điện thoại di động loại cảm ứng, hiệu SAMSUNG, màu xanh, bên trong điện thoại không chứ sim, số IMEI1: 352233112671624.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 08 ngày 11 tháng 10 năm 2024).
-
Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Đặng Đường P, Đặng Đường T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Thảo Nguyên |
Bản án số 244/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 244/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
