|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 244/2024/HS - ST Ngày 26 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Nhung – ông Trần Xuân Giới
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thái Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 214/2024/TLST - HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2024/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Triệu Đức T; sinh ngày 15 tháng 5 năm 1989; tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn K, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Phú C (đã chết) và bà Triệu Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q; có mặt.
- Bị hại: Anh Ngọc Văn D (đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Ngọc Văn T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang – có mặt
Người làm chứng: Anh Lý Tài M, anh Triệu Đức V, anh Triệu Đức N, anh Ngô Văn H1, anh Bàn Đức T2, anh Triệu Đức Q – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Triệu Đức T và anh Lý T3 M là hàng xóm của nhau tại thôn K, xã T, thành phố H và cùng làm nghề thợ xây tự do. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13/4/2024, sau khi làm xong việc, T và anh M về nhà anh M để tự nấu ăn trưa. Đến khoảng
10 giờ cùng ngày, khi cả 02 dọn mâm bát ra phòng khách để ăn cơm thì anh Ngọc Văn D (sinh năm 1973; trú tại huyện S, tỉnh Bắc Giang) là chồng chị họ của anh M đến chơi trong trạng thái giọng nói lè nhè, đi không vững, có biểu hiện say rượu. T và anh M mời anh D ngồi ăn cơm, uống rượu cùng. Khi 03 người ngồi ăn và uống hết khoảng 500ml rượu, thì anh D nói về việc có nhiều quan hệ với anh em xã hội và nói chuyện về bố T thì anh D có gọi tên bố T là “Cao hấp”. Thấy vậy, T liền nói: “bố cháu chết rồi, đừng có lôi bố cháu ra đây”, thì anh D không nói nữa. Lúc này, T có chút bực tức nhưng do nghĩ anh D say nên không để bụng. Sau đó, anh D khoe mình có võ và nói với T: “cỡ mày tao chỉ lấy hai ngón tay là móc được mắt, chỉ cần cầm một phát là lấy được chân mày luôn”, vừa nói anh D vừa có hành động diễn tả và túm vào đầu gối của T, nhưng T không phản ứng gì. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, T đứng dậy đi ra ngoài hiên để hút thuốc và tránh việc tiếp tục lời qua tiếng lại tranh luận với anh D. Lúc này, anh D vẫn trong nhà nói khoe mình giỏi võ. Nghe vậy, T nói: “Chú làm sao khỏe bằng cháu được, chú nhìn cháu còn chống đẩy một tay đây này”, rồi cúi người xuống chống đẩy khoảng 02 cái bằng tay phải. Sau đó, anh D nói “thích thì ra tay đôi”, thì T nói “ra đây tay đôi”, rồi T đi ra ngoài sân trước nhà đứng. Anh D cũng đi ra ngoài sân, rồi đứng đối diện cách T khoảng 01m. Anh M1 cũng ra ngoài hiên đứng xem. T và anh D vung tay khua chân múa một số động tác võ. Ngay sau đó anh D bảo T: “mày giỏi thì xông vào đánh”, thì T nói: “chú làm gì đánh được cháu, chú nhìn cháu bế phát chú lên luôn”. Dứt lời, T áp sát anh D, rồi dùng tay phải ôm sau lưng, tay trái bế nhấc bổng 02 chân anh D lên khỏi mặt đất, rồi xoay tròn khoảng 03 vòng trên không tiến về hướng bờ gạch (cao 12cm) bên phải sân nhà anh M1. Khi đến cách bờ gạch khoảng 02m, thì T buông tay đặt anh D đứng xuống sân, đồng thời T dùng 02 tay đẩy vào vùng bụng anh D, khiến anh D lảo đảo lùi khoảng 02 bước về phía sau rồi ngã ngửa, đập vùng chẩm đầu bên phải vào bờ gạch ngất lịm. Thấy vậy, T và anh M1 đến cùng dìu anh D ngồi tựa lưng vào bồn hoa cạnh bậc tam cấp trước cửa nhà, rồi gọi nhưng không thấy anh D trả lời; kiểm tra đầu anh D phát hiện có vết sưng đỏ ở phía sau đầu bên phải. Khoảng 05 phút sau, anh D tỉnh lại thì T hỏi anh D: “chú có đau không, có việc gì không”, anh D nói: “chú không sao” và bảo anh M1 đi sạc điện thoại giúp. Anh M1 lấy điện thoại của anh D đi sạc nhưng không được nên đưa lại điện thoại và chiếc áo dài tay, màu xanh do anh D cởi ra lúc ăn cơm cho anh D. Sau đó, anh D vẫn tiếp tục ngồi nghỉ ở vị trí cũ, còn T và anh M1 ngồi uống nước ở trước hiên nhà. Khoảng 12 giờ cùng ngày, nghĩ anh D không sao, T nói: “thế chú D không việc gì thì cháu đi làm”; anh D nói: “hai thằng mày cứ đi làm đi”, nên cả T và anh M1 đi về nhà T ngủ. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, do chủ nhà nơi T và M1 làm thuê hết vật liệu không phải đi làm, nên cả 02 đến quán bi-a nhà anh Triệu Đức Q, ở cùng thôn chơi bi-a cùng các anh Ngô Văn H1 và Bàn Đức T2.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, T về nhà anh M1 để lấy dao đi chặt củi thì thấy anh D nằm ngửa ở sân cạnh bồn hoa, đầu gối chiếc áo dài tay, màu xanh, 02 tay để trên bụng, chân duỗi thẳng. T gọi nhưng không thấy anh D trả lời, kiểm tra thì thấy anh D ngừng thở, nên T quay lại quán bi-a báo cho anh M1 biết. Thấy vậy, các anh M1, H1, T2, Q cùng T về nhà anh M1 để kiểm tra thì thấy anh D đã chết, T liền báo cáo sự việc cho Trưởng thôn Khe M2 là anh Triệu Đức V biết, sau đó anh V đã trình báo Cơ quan Công an.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: hiện trường vụ án là sân trước cửa nhà anh Lý Tài M, thuộc thôn K, xã T, thành phố H. Bề mặt sân được láng xi măng bằng phẳng; xung quanh mép sân có xây hàng gạch bao cao 12cm, rộng 12cm; có bậc tam cấp dẫn từ sân lên thềm nhà; sát mặt phía Đông Bắc và ở bên trái bậc tam cấp tại sân có 01 bồn cây rộng 0,6m. Tử thi anh Ngọc Văn D nằm ngửa tại sân trước nhà anh M, đầu sát mép ngoài bồn cây và cách hàng gạch bao phía Đông Nam 1,68m; tử thi mặc quần vải dài màu xanh, áo ba lỗ vải màu nâu, hai chân duỗi thẳng hướng Bắc, hai tay co đặt trên hông, phần gáy tử thi kê trên chiếc áo vải dài tay màu xanh. Quá trình khám nghiệm phát hiện tại hàng gạch bao phía Đ, cách phòng ngủ phía ngoài 4,25m có vết tì trượt, bong tróc bề mặt xi măng ở góc trong sân, diện (2,5x0,5)cm, hướng từ trên xuống dưới; 01 chiếc điện thoại Nokia màu xanh đen tại khu vực chân phải tử thi, cách hàng gạch bao phía Đông Nam 2,3m. Đã thu giữ chiếc điện thoại và đoạn gạch có vết tì trượt, bong tróc trên;
Kết quả khám nghiệm tử thi xác định: Vùng đỉnh chẩm phải ngang phía sau đỉnh tai phải 05cm có vết sưng nề trong diện (6x5)cm, trong diện này có vết bầm tím, xước da trong diện (3,5x2,5)cm hướng từ dưới lên trên, từ trái sang phải, điểm thấp nhất của vết cách gót chân phải 160cm; Vùng góc ngoài xương bả vai trái có vết bầm tím, sưng nề, xước da trong diện (6x4)cm, hướng từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, điểm thấp nhất cách gót chân trái 141cm; Vùng mặt mu khớp bên ngón ngoài 2 của bàn tay phải có vết trợt xước thượng bì trong diện (3x2)cm, hướng từ trên xuống dưới. Vết xước da đầu gối chân trái trong diện (1x0,8)cm hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Xương tứ chi không gãy. Mổ tử thi: Tụ máu dưới da đầu tương ứng vết sưng nề, bầm tím, xước da vùng chẩm phải trong diện (4x2,5)cm, xương hộp sọ không nứt vỡ. Không có tụ máu ngoài màng cứng, tụ máu dưới màng cứng vùng bán cầu não phải khối lượng khoảng 200g, tụ máu dưới màng mềm vùng mặt trước thùy trán trái trong diện (5x4)cm. Các cuộn não bè, vùng bán cầu não trái các cuộn não tương đối phẳng, các rãnh cuộn não mờ. Tụt kẹt hạnh nhân tiểu não hai bên.
Tại Bản kết luận giám định số 531 và Công văn số 251 cùng ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, xác định: Nguyên nhân chết của anh Ngọc Văn D: Suy hô hấp, tuần hoàn cấp do chấn thương sọ não gây chảy máu
dưới màng cứng, chảy máu khoang dưới nhện, phù não, tụt kẹt hạnh nhân tiểu não. Thời gian chết sau bữa ăn cuối cùng dưới 02 giờ, tính đến thời điểm khám nghiệm trong khoảng 08-12 giờ. Thương tích vùng đỉnh - chẩm phải hình thành do tác động tương hỗ với vật tày, cứng, tương đối phẳng, có diện tích tiếp xúc nhỏ nhất (3,5x2,5)cm, hướng từ dưới lên trên, từ trái sang phải. Thương tích này là nguyên nhân dẫn đến anh D tử vong. Việc anh Ngọc Văn D ngã ngửa ra sân, phần phía sau đầu của anh D đập vào khu vực bờ gạch (cao 12cm, rộng 12cm) của sân có thể gây ra được thương tích trên đầu anh D;
Kết luận giám định số 138 ngày 15/4/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y, kết luận: có tìm thấy Ethanol trong máu của anh Ngọc Văn D, với hàm lượng 303,31mg/100ml.
Kết luận giám định số 661 ngày 14/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: trên đoạn bờ gạch (có vết tì trượt, bong tróc thu giữ tại hiện trường) gửi giám định có vi vết máu người, kiểu gen phân tích không đủ yếu tố truy nguyên cá thể;
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Triệu Đức T ngày 14/4/2024, phát hiện: trên lưng phải có 01 vết xước tấy đỏ theo chiều từ dưới lên trên, từ trái qua phải kích thước (05x01)cm. T khai: Vết xước trên là do anh D bám tay vào lưng T khi Tôm anh D.
Quá trình điều tra, Triệu Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. T khai không có thù tức gì với anh D. Do anh D khoe có võ và thách thức đấu võ thì T bế xoay anh D lên để trêu đùa, không cố ý gây thương tích hay tước đoạt tính mạng anh D. Việc T dùng 02 tay đẩy vào vùng bụng anh D khi đặt anh D xuống đất là vì muốn tách anh D ra chứ không có mục đích gì khác.
Bản Cáo trạng số: 4129/CT-VKSHL ngày 03/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, đã truy tố bị cáo Triệu Đức T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 07 năm tù đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2024.
- + Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên toà giữa bị cáo Triệu Đức T và người đại diện hợp pháp của bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 250.000.000 đồng cho gia đình bị hại anh Ngọc Văn D
- * Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Ngọc Văn T1 có quan điểm: tại cơ quan điều tra, đại diện gia đình bị hại và bị cáo thoả thuận mức bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 753.000.000 đồng. Bị cáo đã tác động gia
đình bồi thường số tiền 20.000.000 đồng chi phí mai táng cho bị hại. Nhận thấy, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên tại phiên toà đại diện hợp pháp của bị hại thay đổi quan điểm yêu cầu bị cáo bồi thường các chi phí về tiền cấp dưỡng, tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho người thân tích thuộc hàng thừa kế thứ nhất...số tiền 250.000.000 đồng (không bao gồm số tiền 20.000.000 đồng gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại). Về hình phạt: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện bị hại không có ý kiến tranh luận với quan điểm Luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
* Những người làm chứng: anh Lý T3 Minh xác nhận toàn bộ diễn biến việc bị cáo Triệu Đức T gây thương tích dẫn đến anh Ngọc Văn D tử vong đúng như lời khai của bị cáo tại phiên toà đã trình bày. Anh M khai biết T không có thù tức gì với anh D, việc anh D tử vong là ngoài mong muốn của bị cáo.
Các anh Ngô Văn H1, anh Bàn Đức T2, anh Triệu Đức Q đều có lời khai xác nhận sự việc bị cáo Triệu Đức T và anh Lý T3 M có đến nhà anh Triệu Đức Q chơi bị a từ khoảng 13 giờ 45 phút ngày 13/4/2024. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì T về nhà anh M mượn dao đi chặt cây thì quay lại nhà anh Q thông báo việc ông D hình như không thở nữa nên các anh H1, M, Q cùng bị cáo T quay lại nhà anh Lý Tài M kiểm tra thì thấy đúng ông D đã tử vong tại sân nhà anh Lý Tài M.
Tại phiên tòa, bị cáo công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội và không có quan điểm tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát; bị cáo đồng ý bồi thường thêm số tiền 250.000.000 đồng cho gia đình bị hại; lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai phạm, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, bản kết luận giám định pháp y về tử thi cùng chứng cứ, tài liệu khác có trong
hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 11 giờ 30 ngày 13/4/2024, tại khu vực sân nhà anh Lý Tài M ở thôn K, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, do trêu đùa và thách thức đấu võ đánh nhau, Triệu Đức T đã có hành vi bế, nhấc bổng anh Ngọc Văn D lên, quay 03 vòng trên không, rồi đặt xuống sân và dùng 02 tay đẩy vào bụng, làm anh D bị mất đà ngã ngửa ra sau, vùng chẩm đầu bên phải đập vào bờ gạch của sân gây thương tích chấn thương sọ não, dẫn đến tử vong.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự như Đại diện Viện kiểm sát kết luận tại phiên tòa là có căn cứ
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động anh trai là anh Triệu Đức N bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho gia đình bị bị để khắc phục một phần hậu quả; bị cáo đầu thú; gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính: hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền được bảo vệ về sức khoẻ, tính mạng của công dân mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo không có mâu thuẫn gì với bị hại nhưng vì nhận thức kém, chỉ vì những lời nói thách thức nhau đấu võ, thỏa mãn sự sĩ diện của bản thân, bị cáo cũng nhận thức được việc bị hại đã uống rượu, việc bế xoay anh D trên không, đẩy anh D có thể làm anh D ngã gây thương tích, nhưng bị cáo vẫn thực hiện dẫn đến hậu quả anh D tử vong. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ của người khác, vì vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử cũng xem xét: bị cáo phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, gia đình bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 250.000.000 đồng, bị cáo đồng ý với yêu cầu bồi thường của đại diện bị hại. Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận bồi thường của bị cáo và gia đình bị hại. Do đó, bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình anh Ngọc Văn D số tiền 250.000.000 đồng.
[6] Về xử lý tài sản, vật chứng của vụ án: đoạn gạch có vết tì trượt, bong tróc thu giữ tại sân nhà anh Lý T3 Minh hoàn lại sau giám định, Cơ quan điều tra
đã trả cho anh M; 01 chiếc điện thoại Nokia màu xanh đen của anh Ngọc Văn D, Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện gia đình anh D là ông Ngọc Văn T1 nên không xem xét xử lý.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử thấy đề nghị này phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Triệu Đức T 07 (bảy) năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2024
-
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 351, 357, 468, 584, 585, 586, 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015, công nhận sự thoả thuận của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên toà: buộc bị cáo Triệu Đức T phải bồi thường cho gia đình bị hại anh Ngọc Văn D số tiền 250.000.000đ (Bằng chữ: hai trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Triệu Đức T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 12.500.000đ (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
Bản án số 244/2024/HS - ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về cố ý gây thương tích (theo điểm a khoản 4 điều 134 bộ luật hình sự)
- Số bản án: 244/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T phạm tội cố ý GTT
