|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 244/2024/HSST Ngày: 20/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hiền
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Đoàn – Ông Phan Thế Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Khắc Tân - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nguyên - chức vụ: kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 20/8/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 165/2024/HSST ngày 10/6/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Ngọc C - Sinh năm 1987; Nơi ĐKNKTT: Khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch:; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Tiến L và Con bà: Nguyễn Thị H; Vợ: Nguyễn Thị Q; Con Có 03 người, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, Tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 41 ngày 10/01/2004 của Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An, xử phạt 250.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp ngày 16/01/2004. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/3/2024 đến ngày 25/3/2024 được tại ngoại. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Lê Văn H1; Sinh năm 1965 ; Nơi ĐKNKTT: K, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn Đ và bà: Hoàng Thị X; Vợ: Cao Thị H2, đã chết; Con Có 02 người, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án: Bản án số 354/2017/HSST ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 15.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong bản án ngày 25/3/2024, Tiền sự, Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/3/2024 đến ngày 22/3/2024 được tại ngoại. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Lê Viết H3; Sinh năm 1984 ;Nơi ĐKNKTT: Xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Viết T và bà: Trần Thị L1; Vợ: Trần Thị Thanh H4; Con: Có 03 người, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, Tiền sự: không; Nhân thân: - Bản án số 381/2009/HSST ngày 27/7/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong bản án ngày 17/11/2009. - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18 ngày 31/10/2017 của Phòng C1 Công an tỉnh N, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp ngày 21/11/2017 Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/3/2024 đến ngày 25/3/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Họ và tên: Nguyễn Thiên T1; Sinh năm 1980; Nơi ĐKNKTT: Khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Tiến L và bà: Nguyễn Thị H; Vợ: Hoàng Thị Anh Đ1; Con: Có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/3/2024 đến ngày 22/3/2024, được tại ngoại. Hiện bị áp dụng biện pháp Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Đậu Thị T2; Sinh năm 1983; Nơi ĐKNKTT: Khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đậu Nhất T3 và bà: Thiều Thị L2; Chồng: Lưu Văn T4, sinh năm 1983, đã ly hôn; Con: Có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ tạm giam, được tại ngoại. Hiện bị áp dụng biện pháp Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 15 phút ngày 19/3/2024, Nguyễn Ngọc C đang ở nhà mình tại khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An thì có Nguyễn Thiên T1 (là anh ruột của C), Lê Viết H3 và Lê Văn H1 đến chơi. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, C, T1, Lê Viết H3 và Lê Văn H1 rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh "bài ba cây”, mỗi ván thắng thua từ 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) đến 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) tại chiếc chiếu trải trong phòng khách nhà Chung. Trước lúc đánh bạc, C lấy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, gồm 36 (ba mươi sáu) quân bài màu xanh có sẵn trong nhà mình ra để đánh bạc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Đậu Thị T2 đến chơi và đánh bạc với C, T1, Lê Viết H3 và Lê Văn H1. Vào hồi 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi C, T1, Lê Viết H3, Lê Văn H1 và T2 đang đánh bạc thì bị tổ công tác thuộc Đ2 Công an thành phố V kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ: Trên chiếu nơi các đối tượng ngồi đánh bạc 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, gồm 36 (ba mươi sáu) quân bài màu xanh và số tiền 6.800.000 đồng (sáu triệu tám trăm nghìn đồng). Kiểm tra, thu giữ: Trong túi quần bên phải mà Lê Viết H3 đang mặc số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng) và 1.550.000 đồng (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) trong ví; Trong túi quần bên phải mà Đậu Thị T2 đang mặc số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng); Trong túi quần bên trái mà Nguyễn Ngọc C đang mặc số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng); Trong túi quần bên phải mà Lê Văn H1 đang mặc số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) và 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) trong ví. Tổng cộng số tiền thu giữ của các đối tượng là 20.050.000 đồng (hai mươi triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra, số tiền các bị can khai sử dụng để đánh bạc như sau:
Số tiền Nguyễn Ngọc C sử dụng để đánh bạc là 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt quả tang, C thắng nhưng không biết rõ thắng cụ thể bao nhiêu, số tiền thắng bạc C vứt vào chiếu bạc. Cơ quan Công an thu giữ số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng) trong túi quần bên trái mà C đang mặc.
Số tiền Lê Văn H1 sử dụng để đánh bạc là 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt quả tang, Lê Văn H1 thắng nhưng không biết rõ thắng cụ thể bao nhiêu, số tiền thắng bạc Lê Văn H1 vứt vào chiếu bạc. Cơ quan Công an thu giữ của Lê Văn H1 số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) trong túi quần bên phải đang mặc và 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) trong ví.
Số tiền Lê Viết H3 sử dụng để đánh bạc là 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng). Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt quả tang, Lê Viết H3 thắng nhưng không biết rõ thắng cụ thể bao nhiêu, số tiền thắng bạc Lê Viết H3 vứt vào chiếu bạc. Cơ quan Công an thu giữ của Lê Viết H3 số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng) trong túi quần bên phải đang mặc và 1.550.000 đồng (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) trong ví.
Số tiền Nguyễn Thiên T1 sử dụng để đánh bạc là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt quả tang, T1 bị thua nhưng không biết rõ thua cụ thể bao nhiêu, số tiền đánh bạc còn lại T1 vứt vào chiếu bạc.
Số tiền Đậu Thị T2 sử dụng để đánh bạc là 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng). Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt quả tang, T2 thắng nhưng không biết rõ thắng cụ thể bao nhiêu, số tiền thắng bạc T2 vứt vào chiếu bạc. Cơ quan Công an thu giữ số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng) trong túi quần bên phải mà T2 đang mặc.
Như vậy, tổng số tiền các bị can khai sử dụng để đánh bạc là 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng). Bao gồm số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 6.800.000 đồng, trong người và trong ví là 5.700.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, Nguyễn Ngọc C, Lê Văn H1, Lê Viết H3, Nguyễn Thiên T1 và Đậu Thị T2 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản Cáo trạng số 180/CT-VKSTPV ngày 10/6/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc C, Lê Viết H3, Lê Văn H1, Nguyễn Thiên T1 và Đậu Thị T2 về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn H1 từ 6 tháng đến 09 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Viết H3 15 tháng cải tạo không giam giữ đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc C từ 15 tháng cải tạo không giam giữ đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thiên T1 từ 25 triệu đến 27 triệu đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i, n khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đậu Thị T2 từ 20 triệu đến 22 triệu đồng.
Buộc các bị cáo Viết H3, C phải chấp hành một số biện pháp lao động cộng đồng.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 12.500.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tu lơ khơ 36 quân đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Lê Văn H1 số tiền 6.000.000 đồng, bị cáo Lê Viết H3 số tiền 1.550.000 đồng
Buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Các bị cáo không có tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra – công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Lê Viết H3, Lê Văn H1, Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Thiên T1, Đậu Thị T2 hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã được thu giữ cũng như các chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ 30 phút đến 15 giờ 45 phút ngày 19/3/2024, tại khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Ngọc C, Lê Văn H1, Lê Viết H3, Nguyễn Thiên T1 và Đậu Thị T2 đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh "bài ba cây”, mỗi ván từ 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) đến 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc được xác định là 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng). Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đây là vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, các bị cáo đã tụ tập đông người để đánh bạc làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù các bị cáo cùng nhau đánh bạc nhưng sự liên kết trong hành vi phạm tội chỉ là sự đồng phạm giản đơn.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Văn H1 phạm tội về tội đánh bạc chưa được xóa án tích nên lần phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Lê Viết H3, Lê Văn H1, Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Thiên T1, Đậu Thị T2 thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Thiên T1, Đậu Thị T2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Đậu Thị T2 phạm tội trong thời gian mang thai quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xét vai trò, nhân thân của các bị cáo trong vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Lê Văn H1 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Lê Viết H3 và bị cáo Nguyễn Ngọc C đều đã bị xử phạt hành chính nhưng thời gian đã lâu và tang số tham gia đánh bạc không lớn nên cần xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị khấu trừ thu nhập. Tuy nhiên các bị cáo Viết H3, C không có công việc ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo. Theo quy định tại khoản 4 Điều 36 BLHS, trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Trong vụ án này, bị cáo Chung, Viết H3 đều bị tạm giữ 6 ngày nên theo quy định cứ một ngày tạm giữ bằng 3 ngày cải tạo không giam giữ nên cần trừ 18 ngày cải tạo không giam giữ cho các bị cáo.
Các Bị cáo Nguyễn Thiên T1 và Đậu Thị T2 có nhân thân tốt, chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án nào đưa ra xét xử nên xử phạt các bị cáo mức hình phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo T1 nên cần áp dụng hình phạt tiền thấp hơn bị cáo T1 là phù hợp.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này thì ngoài hình phạt chính các bị cáo còn phải bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét thấy các bị cáo hiện nay đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, tài sản riêng không có nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
[4]. Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 20.050.000 đồng, 1 bộ bài tu lơ khơ 36 quân. Xét số tiền 12.500.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước; Số tiền 1.550.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Viết H3 và số tiền 6.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Văn H1 không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho hai bị cáo. 01 bộ bài tu lơ khơ 36 quân là công cụ, phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[5]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Lê Văn H1 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/3/2024 đến ngày 22/3/2024. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Lê Viết H3 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ được trừ thời gian tạm giữ 06 ngày, từ ngày 19/3/2024 đến ngày 25/3/2024 (bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án Hình sự công an thành phố V nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
- Giao bị cáo Lê Viết H3 cho UBND xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An quản lý giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục đối với bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Điều 99 Luật thi hành án hình sự 2019.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i Khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc C 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ được trừ thời gian tạm giữ 06 ngày, từ ngày 19/3/2024 đến ngày 25/3/2024 (bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án Hình sự công an thành phố V nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
- Giao bị cáo Nguyễn Ngọc C cho UBND phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An quản lý giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục đối với bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Điều 99 Luật thi hành án hình sự 2019.
- “Trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.”
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i Khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thiên T1: 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i, n Khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đậu Thị T2: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: - Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài 36 quân bài tú lơ khơ có đặc điểm theo phiếu nhập kho số NK2024/196 ngày 13/6/2024 của chi cục thi hành án Dân sự thành phố Vinh.
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 12.500.000đ (mười hai triệu năm trăm đồng) hiện có tại kho bạc nhà nước theo biên bản giao nhận tài sản số 21/2024/BBBG-KBNA (VNĐ) ngày 16/4/2024 và phiếu nhập kho số TK: 9911 ngày 16/4/2024 của kho bạc Nhà nước tỉnh N.
- Trả lại cho bị cáo Lê Viết H3 số tiền 1.550.000đ (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng); trả lại cho bị cáo Lê Văn H1 số tiền 6.000.000đ (sáu triệu đồng). Số tiền này hiện có tại Kho bạc Nhà nước N theo Biên bản giao nhận tài sản số 21/2024/BBBG-KBNA (VNĐ) ngày 16/4/2024 và phiếu nhập kho số TK: 9911 ngày 16/4/2024 của kho bạc Nhà nước tỉnh N.
3. Về án phí:
Căn cứ điều 136 BLTTHS 2015; điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí: buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc C, Lê Viết H3, Lê Văn H1, Nguyễn Thiên T1, Đậu Thị T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí HSST.
4. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/8/2024) các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nơi nhận
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Minh H5 |
Bản án số 244/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH về hình sự: đánh bạc
- Số bản án: 244/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo rủ nhau đánh bạc và bị bắt quả tang
