Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 244/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18-7-2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con".


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
  2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Nguyên phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.


Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 569/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/3/2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 275/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1987.

Địa chỉ thường trú: Xóm T, xã L, huyện H, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1983.

Địa chỉ thường trú: Xã H, huyện H, tỉnh Nam Định

Hiện cư trú tại: 2 khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà D có đơn xin vắng mặt, ông N vắng mặt không có lý do)


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Văn N tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số: 01/2005 ngày 05 tháng 07 năm 2005.

Tuy nhiên trong quá trình chung sống chúng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, bất đồng quan điểm, không có hạnh phúc. Chúng tôi đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả.

Nay tôi nhận thấy tình trạng hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Tôi đã không còn tình cảm với ông N nên tôi đề nghị Tòa án cho ly hôn với ông Nguyễn Văn N

Về con chung: Tôi và ông N có ba con chung là: Nguyễn Văn V, sinh ngày 17/10/2006, Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 31/3/2008 và Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 09/8/2016. Khi ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có bản tự khai nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông N.


Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà D, ông N không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà D yêu cầu ly hôn với ông N là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Bà D và ông N có ba con chung là: Nguyễn Văn V, sinh ngày 17/10/2006, Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 31/3/2008 và Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 09/8/2016. Giao cháu V, cháu M, cháu Y cho bà D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông N không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông N nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà N phải nộp án phí theo quy định pháp luật.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà Nguyễn Thị D yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn N và giải quyết vấn đề con chung. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; Bà Nguyễn Thị D là nguyên đơn, ông Nguyễn Văn N là bị đơn.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị D nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn N có đang cư trú tại địa chỉ số nhà B khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[3] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Văn N đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà D, ông N theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn Văn N tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số: 01/2005 ngày 05 tháng 07 năm 2005 nên áp dụng Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà D, quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, bất đồng quan điểm, không có hạnh phúc. Hai vợ chồng đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay bà nhận thấy tình trạng hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Bà không còn tình cảm với ông N nên đề nghị Tòa án cho ly hôn với ông Nguyễn Văn N.

Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập ông N đến Tòa làm việc nhưng ông N vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi thể hiện việc ông N không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng, không thiết tha cuộc sống hôn nhân với bà D. Qua kết quả xác minh tại nơi cư trú ngày 17/4/2024 thì địa phương không nắm được mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông N do không trình báo.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà D và ông N là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D, giải quyết cho bà D được ly hôn với ông N để trả tự do cả hai là phù hợp.

[5] Về con chung: Bà D và ông N có ba con chung là: Nguyễn Văn V, sinh ngày 17/10/2006, Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 31/3/2008 và Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 09/8/2016. Bà D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, ông N không đến Tòa làm việc nên không ghi nhận được ý kiến. Hiện nay, bà D đang làm phụ bếp tại Trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông Đinh Tiên H, thu nhập bình quân 7.000.000đ/tháng, ngoài ra còn làm tạp vụ buổi tối, thu nhập khoảng 4.500.000đ/tháng nên đủ điều kiện và khả năng để nuôi con. Các con đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu V, cháu M và cháu Y cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Tạm thời, ông N không cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông N nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

[7] Về án phí: Bà D phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D. Bà Nguyễn Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
  2. Về con chung: Giao ba con chung là: Nguyễn Văn V, sinh ngày 17/10/2006, Nguyễn Thị Thu M, sinh ngày 31/3/2008 và Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 09/8/2016 cho bà Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời ông Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Ông N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị D phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002625 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS ND tỉnh Đồng Nai;
  • - T.H.A dân sự TP. Biên Hoà;
  • - VKS TP Biên Hoà;
  • - Các đương sự.
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Thành Thị Thu Trang

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Thành Thị Thu T

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 244/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 244/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vợ yêu cầu ly hôn chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger