Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 244/2024/HSPT

Ngày: 12/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Với Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương

Các thẩm phán: Bà Võ Thị Thanh Phượng

Bà Phan Thị Thu Hương

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Phúc– Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông

Nguyễn Trung Kiên – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 03 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Trần Phương H, Nguyễn Thanh T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

Các bị cáo kháng cáo:

1. Nguyễn Trần Phương H, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh năm 2005 tại tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông: Nguyễn Trần Phương D - sinh năm 1984 và bà: Nguyễn Thị Kim C - sinh năm 1983.

Gia đình có 04 anh em; bị cáo là con lớn nhất và chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 30/9/2023 (bị cáo đã rút kháng cáo nên không triệu tập).

2. Nguyễn Thanh T, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh năm 2004, tại tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông: Nguyễn Văn N - sinh năm 1956 và bà Châu Thị Kim H1 - sinh năm 1969;

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giam ngày 06/10/2023 – Có mặt.

Ngoài ra còn có các bị cáo Phạm Tuấn K, Lê Hoàng S, Đinh Quốc T1, Nguyễn Văn T2, Lê Quang T3 nhưng không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nội dung chính của vụ án:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau

Khoảng 21 giờ ngày 06/05/2023 các bị cáo K, S, H cùng nhậu tại tiệm sửa xe của bị cáo K tại ấp A, xã T, huyện V. Sau đó K điều khiển chạy thử xe mô tô Yamaha Exciter biển số 60B6-160.64 nẹt pô đoạn đường A thuộc ấp A, xã T thì anh Đặng Xuân T4 (sinh năm 1994) là người buôn bán gần đó đến nhắc nhở K đừng chạy xe nẹt pô nữa vì nhà có con nhỏ đang ngủ, dẫn đến mâu thuẫn chửi nhau giữa T4 và nhóm K. Anh T5 nói với nhóm K “Tụi mày chờ đó” rồi ra quán “Ốc đêm” cạnh trục đường A do Nguyễn Thanh M quản lý, cách tiệm sửa xe “Phạm Kiệt” khoảng 60 mét.

Các bị cáo K, S, H bực tức việc anh T5 thách thức nên thống nhất tìm người đánh anh T5. S gọi điện rủ Đinh Quốc T1 đi đánh nhau, T1 rủ thêm Nguyễn Văn T2, Lê Minh N1, Nguyễn Thanh T, T6 (không rõ họ, địa chỉ). Nhóm của T1 điều khiển xe mô tô Vario biển số 60B9-695.52 của T2 và 01 xe mô tô Vario (không rõ biển số của T6) đến tiệm sửa xe “Phạm Kiệt”. Tại tiệm sửa xe, K nói với S là anh T đang ở quán Ốc đêm, S nói lại với T1 và cả nhóm cùng đến quán “Ốc đêm” để đánh anh T. T1 điều khiển xe mô tô hiệu Vario màu trắng (không rõ biển số) chở T2 cầm 01 cây búa, 01 cục gạch đến quán “Ốc đêm”. T2 cầm búa ném vào bàn nơi anh T đang ngồi nhưng anh T tránh được và bỏ chạy, T2 tiếp tục ném 01 cục gạch về phía anh T nhưng không trúng. Lúc này nhóm K chạy đến, S cầm kìm cộng lực, H cầm rổ nhựa màu đen, N1 cầm cây gỗ dài khoảng 1,5m, Nguyễn Thanh T cầm 01 cục đá, T6 cầm 01 cục gạch ném vào nhóm người trong quán nhưng không trúng ai, còn K ngồi trên xe mô tô biển số 60B6-160.64 trước quán. K cùng nhóm bạn đứng la hét, chửi một lúc rồi đi về, N1 vứt cây gỗ tại bãi rác.

Trên đường về, S vẫn bực tức việc T thách thức, nên S điện thoại rủ bị cáo T3 đến quán “Ốc đêm” để đánh anh T. H điều khiển xe mô tô biển số 34F5-5231 chở S về chỗ ở của S tại ấp D, xã T gặp T. Khoảng 22 giờ 04 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô chở T3 và S cầm theo cây sắt dài khoảng 01m đến quán “Ốc đêm”. T3 và H ngồi trên xe mô tô dựng trước quán, S đi vào dùng cây sắt đập bể một số bàn, ghế nhựa của quán “Ốc đêm” và quán trà sữa “P” kế bên của Nguyễn Lương Thanh P1, rồi đuổi đánh nhân viên trong quán. M dùng chảo ném lại, sau đó T3 cùng H, S đi về, S vứt cây sắt dọc đường không nhớ vị trí.

Hành vi của các bị cáo sử dụng hung khí đuổi đánh Đặng Xuân T4 gây náo loại tại khu vực quán “Ốc đêm”, làm hư hỏng tài sản tại quán Ốc đêm gồm 05 bàn nhựa, 06 ghế nhựa nhỏ, 01 cái chảo, 05 ly nhựa; tài sản tại quán trà sữa P1 gồm 03 bàn nhựa, 01 ghế nhựa nhỏ, 01 ly thuỷ tinh bị vỡ; 01 bàn sắt, 01 ghế sắt bị móp, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại ấp A, xã T, huyện V.

Sau đó, M tố giác tội phạm và Công an xã T tiếp nhận nguồn tin lập hồ sơ ban đầu chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng tạm giữ: 01 con dao cán bằng gỗ kích thước 30cm x 10cm; 01 búa cán bằng gỗ 31,5cm x 3cm kích thước đầu búa kim loại 3cm x 11cm; 01 xe mô tô biển số 34F5-5231; 01 xe mô tô biển số 60B6-16064; 01 thẻ nhớ hiệu Transcend màu đen loại 16GB.

Xác minh các xe mô tô xác định: 02 xe mô tô biển số 60B6-16064, 34F5-5231 đã được sửa chữa, chưa làm việc được với chủ sở hữu tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển Công an huyện V tiếp tục xác minh xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với xe mô tô biển số 60B9-69552 do Nguyễn Thanh T đứng tên đăng ký sở hữu thì T khai sau khi điều khiển xe mô tô đi đánh nhau đã bán lại xe cho người tên H2 (không rõ họ tên, địa chỉ) nên không thu hồi được.

Tại Kết luận định giá tài sản số 64/KL-ĐGTS ngày 07/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V, kết luận: 05 bàn nhựa 40cm x 40cm x 60 cm trị giá 575.000 đồng; 06 ghế nhựa nhỏ hình vuông trị giá 180.000 đồng; 01 cái chảo trị giá 150.000 đồng; 05 ly nhựa trị giá 25.000 đồng. Tổng trị giá tài sản thiệt hại là 930.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 65/KL-ĐGTS ngày 07/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V, kết luận: 05 bàn nhựa 40cm x 40cm x 60 cm trị giá 750.000 đồng; công sửa chữa 01 bàn sắt hình tròn bị móp 01 phần 50.000 đồng; 01 ghế nhựa nhỏ hình vuông trị giá 30.000 đồng; công sửa chữa 01 ghế sắt bị móp một phần 50.000 đồng; 01 ly thủy tinh trị giá 10.000 đồng. Tổng trị giá tài sản thiệt hại 890.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Mẹ bị cáo T đã bồi thường cho Nguyễn Thanh M 800.000 đồng, M không yêu cầu bồi thường thêm, Nguyễn Lương Thanh P1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 30/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã quyết định:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm d, g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Phương H 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2023;

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo Phạm Tuấn K 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù, Lê Hoàng S 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù, Lê Quang T3 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù, Nguyễn Văn T2 02 (hai) năm tù, Đinh Quốc T1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; tuyên về xử lý vật chứng, án phí, trách nhiệm thi hành án dân sự và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo của các bị cáo:

- Ngày 01/02/2024, bị cáo Nguyễn Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì mức án cấp sơ thẩm xử phạt là nặng và bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới là gia đình có công với cách mạng.

- Ngày 02/02/2024, bị cáo Nguyễn Trần Phương H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là quá nặng.

4. Quan điểm của Đại diệnViện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

Về tố tụng: Các bị cáo làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và đúng nội dung, hình thức đơn kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo của các bị cáo:

Ngày 17/4/2024, bị cáo Nguyễn Trần Phương H có đơn xin rút kháng cáo, xét việc xin rút kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo H.

Về nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết giảm có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha thường xuyên đau ốm lao động chính trong gia đình, gia đình bị có có công với cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Theo các chứng cứ tài liệu và lời khai của bị cáo T tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện vào khoảng 21 giờ 31 phút ngày 06/5/2023, tại quán “Ốc đêm” cạnh trục đường A thuộc ấp A - xã T - huyện V - tỉnh Đồng Nai, Phạm Tuấn K cùng Lê Hoàng S, Nguyễn Trần Phương H, Đinh Quốc T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thanh T, Lê Minh N1 đã sử dụng các hung khí gồm búa đinh, kìm cộng lực, gạch, cây gỗ, cục đá, rổ nhựa đuổi đánh anh Đặng Xuân T4 và la hét, chửi bới một lúc rồi đi về.

Sau đó, vào khoảng 22 giờ 04 phút cùng ngày, các bị cáo Lê Hoàng S, Nguyễn Trần Phương H lại tiếp tục đến quán “Ốc đêm” dùng cây sắt đập bể một số bàn, ghế nhựa của quán “Ốc đêm” và quán trà sữa “P1” kế bên của Nguyễn Lương Thanh P1, rồi đuổi đánh nhân viên trong quán.

Hành vi của các bị cáo sử dụng hung khí đuổi đánh Đặng Xuân T4 gây náo loại tại khu vực quán “Ốc đêm”, làm hư hỏng tài sản tại quán Ốc đêm gồm 05 bàn nhựa, 06 ghế nhựa nhỏ, 01 cái chảo, 05 ly nhựa; tài sản tại quán trà sữa P1 gồm 03 bàn nhựa, 01 ghế nhựa nhỏ, 01 ly thuỷ tinh bị vỡ; 01 bàn sắt, 01 ghế sắt bị móp, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại ấp A, xã T, huyện V.

Như vậy, cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của tại ấp A, xã T, huyện V, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân.

Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất mức độ phạm tội của từng bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xử phạt các bị cáo Nguyễn Trần Phương H 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù là phù hợp quy định pháp luật.

[3] Về nội dung kháng cáo của các bị cáo:

Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Trần Phương H: Tại cấp phúc thẩm, ngày 17/4/2024 bị cáo H có đơn xin rút kháng cáo. Xét việc rút kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh T nhận thấy: Bị cáo có nhân thân chưa tiền án, tiền sự, phạm tội do bị rủ rê, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh M.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết mới là giấy xác nhận có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha thường xuyên đau ốm, là lao động chính trong gia đình, gia đình bị có có công với cách mạng. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về án phí:

[4.1]. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Tại phần nhận định tại trang 7, cấp sơ thẩm nhận định “...mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm...” là đúng quy định nhưng lại ghi nội dung “Về chi phí tố tụng” chưa chính xác vì đây là nghĩa vụ nộp án phí HSST của các bị cáo, không phải các khoản chi phí tố tụng nên cấp phúc thẩm cần điều chỉnh lại cho phù hợp.

[4.2]. Về án phí hình sự phúc thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Trần Phương H và Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí HSPT.

[5] Về quan điểm và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Quan điểm và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 348; điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Trần Phương H; Bản án sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu đối với bị cáo Nguyễn Trần Phương H có hiệu lực pháp luật.

- Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh T, sửa một phần bản án sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu do có tình tiết mới.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2023.

2. Về án phí:

2.1. Về án phí sơ thẩm: Mỗi bị cáo Phạm Tuấn K, Lê Hoàng S, Đinh Quốc T1, Nguyễn Văn T2, Lê Quang T3, Nguyễn Trần Phương H, Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

2.2. Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Trần Phương H và Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí HSPT.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND T.Đồng Nai;
  • - TAND huyện;
  • - VKSND huyện- Công an huyện;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng PV06-Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo – Trại tạm giam;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Lan Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 244/2024/HSPT ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 244/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 03 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Trần Phương H, Nguyễn Thanh T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu. Các bị cáo kháng cáo: 1. Nguyễn Trần Phương H, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam Sinh năm 2005 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Trần Phương D - sinh năm 1984 và bà: Nguyễn Thị Kim C - sinh năm 1983. Gia đình có 04 anh em; bị cáo là con lớn nhất và chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 30/9/2023 (bị cáo đã rút kháng cáo nên không triệu tập). 2. Nguyễn Thanh T, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam Sinh năm 2004, tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Văn N - sinh năm 1956 và bà Châu Thị Kim H1 - sinh năm 1969; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 06/10/2023 Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Trần Phương D - sinh năm 1984 và bà: Nguyễn Thị Kim C - sinh năm 1983. Gia đình có 04 anh em; bị cáo là con lớn nhất và chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 30/9/2023 (bị cáo đã rút kháng cáo nên không triệu tập). 2. Nguyễn Thanh T, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam Sinh năm 2004, tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Văn N - sinh năm 1956 và bà Châu Thị Kim H1 - sinh năm 1969; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 06/10/2023 – Có mặt.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger