Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 244/2024/HSST

Ngày: 09/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

---

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tòa phiên toà: Bà Trịnh Thị Q

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Đặng Quang Hoạch

+ Ông Tạ Văn Đài – Nguyên hiệu trưởng trường THCS H6

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thái Hảo - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 211/2024/HSST, ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/QĐXXST-HS ngày 15/8/2024 và Thông báo dời lịch xét xử số: 02/TB-TA ngày 27/8/2024 đối với:

Các bị cáo:

  1. LÂM THANH GIÀU, (Tên gọi khác: (M) sinh năm 1999, tại: Bạc Liêu. Giới tính: Nam. Đăng ký HKTT: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: 06/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lâm Thanh V và bà Lê Thị Kim H. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân : Năm 2016 bị TAND tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 (chín) năm tù về tội “Giết người”. Chấp hành xong hình phạt ngày 03/02/2021. Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 16/11/2023. (Có mặt).
  2. LÊ NGỌC SÁNG (Tên gọi khác: CỌP) sinh năm 1998 tại: Đồng Nai. Giới tính: Nam. Đăng ký HKTT: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: 01/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn Lộc E và bà Nguyễn Thị T. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2016 bị TAND huyện Trảng Bom xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 13/02/2017. Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 16/11/2023. (Có mặt).
  3. NGUYỄN VĂN ANH HÀO (Tên gọi khác: Không) sinh ngày 17/11/2006 tại: An Giang. Giới tính: Nam. Đăng ký HKTT và trú tại: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 08/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Họ tên cha: Không xác định, họ tên mẹ Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1987 . Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự : Không. Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 16/11/2023 đến ngày 04/4/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt).
  4. ĐOÀN TRUNG HOÀNG (Tên gọi khác: Không) sinh năm 1999, tại: Đồng Nai. Giới tính: Nam. Đăng ký HKTT: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 8/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đoàn Trung N và bà La Thị Thúy H1. Có vợ Trần Thị H2, sinh năm và 2002 và 01 con lớn sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 16/11/2023 đến ngày 18/11/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt).

Người tham gia tố tụng:

  1. Người đại diện hợp pháp của bị cáo H3: Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
  2. Người bào chữa cho bị cáo H3: Bà Bùi Thị M1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (Có mặt)
  3. Bị hại: Anh Ngô Văn S, sinh năm 1997. Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Nội dung chính:

Lâm Thanh G, Lê Ngọc S1, Nguyễn Văn Anh H4Đoàn Trung H5 là các đối tượng nghiện ma túy và không có công việc ổn định. Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 13/11/2023, trên đường đi chơi từ xã B, huyện T về nhà thì G gặp anh Ngô Văn S (sinh năm 1997, trú tại ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai) điều khiển xe mô tô đi trên đường gần cầu S thuộc ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên G nói anh Văn S về nhà G chơi, mục đích để G đòi tiền anh Văn S thì anh Văn S đồng ý. Trên đường đi G ghé vào nhà của H5 để rủ H4 đang chơi ở nhà H5 đi cùng G để đòi tiền anh Văn S. Khi đến nhà G thì H4 xuống mở cửa cho anh Văn S cùng vào trong nhà, lúc này G nói H4 khóa cửa cổng lại. Sau khi vào trong nhà thì G đi vào phòng, còn H4 đòi tiền anh Văn S ở trong bếp. Khoảng 10 phút sau, G đi ra trước nhà gọi Ngọc S1 để cùng với G và H4 đòi tiền anh Văn S, Ngọc S1 đi bộ sang nhà G, gặp anh Văn S thì Ngọc S1 dùng chân đá vào ngực anh Văn S, H4 cũng xông vào dùng chân đạp vào đầu anh Văn S, sau đó H4 cầm 01 cây rìu tự chế (có cán bằng gỗ bọc băng keo màu đỏ dài 40cm; có lưỡi bằng kim loại hình khuyết, cong dài 22cm x 4cm) xông vào định đánh anh Văn S nhưng G cản lại. Lúc này, G cầm 01 con dao tự chế dài 69cm, rộng 4,5cm (có cán bằng gỗ dài 20cm x 3cm, có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 49cm x 4,5cm, đầu lưỡi nhọn) chỉ vào mặt anh Văn S và yêu cầu anh Văn S trả H4 số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng). Do anh Văn S không có tiền trả nên G yêu cầu anh Văn S đưa chiếc điện thoại di đông hiệu Iphone 7 Plus và căn cước công dân của anh Văn S cho H4 để trừ nợ. Sau đó, G yêu cầu anh Văn S trong ngày 13/11/2023 phải kiếm số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) trả cho H4, nếu không cứ sau mỗi giờ sẽ tính lãi thêm 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng), đồng thời G đe dọa anh Văn S không được báo Công an nếu không sẽ giết cả vợ chồng anh S rồi mở cửa cho anh Văn S đi về. Sau khi anh Văn s về, G chở H4 mang căn cước công dân của anh Văn S cất giấu sau chùa “L" thuộc ấp H, xã H, T, tỉnh Đồng Nai, còn chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus của anh Văn S thì G sử dụng làm phương tiện liên lạc.

Đến tối ngày 13/11/2023, H4 đến nhà H5 chơi và kể lại cho H5 biết việc G, H4 và Ngọc S1 cùng đồng bọn đánh và lấy chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus của anh Văn S, khi đó H5 nói H5 không liên quan nhưng H5 không trình báo sự việc cho cơ quan có thẩm quyền.

Ngày 15/11/2023, anh Ngô Văn S đến Công an xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Công an xã H đã tiến hành kiểm tra hành chính nhà G và thu giữ vật chứng gồm: 01 nỏ thuỷ tinh dùng để sử dụng ma túy tổng hợp; 01 đầu khò gas; 01 con dao dài 69cm, rộng 4,5cm (có cán bằng gỗ dài 20cm x 3cm, có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 49cm x 4,5cm, đầu lưỡi nhọn); 01 con dao dài 28cm, rộng 3cm (có cán bằng gỗ dài 12cm x 3cm, có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 16cm x 3cm, đầu lưỡi nhọn); 01 cây rìu tự chế (có cán bằng gỗ bọc băng keo màu đỏ dài 40cm; có lưỡi bằng kim loại hình khuyết, cong dài 22cm x 4cm); 01 súng bắn cồn tự chế; 01 loa nghe nhạc hiệu PTH301; 01 bóng đèn 7 màu không nhãn hiệu; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu xám; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu xám; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus; 01 căn cước công dân mang tên Ngô Văn S. Công xã Hưng T1 đã lập hồ sơ và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền (Bút lục số:101-102; 154-172; 182-194; 203-217; 223-240).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 53/KL-HĐĐGTS ngày 12/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đỏ, mua năm 2019, đã qua sử dụng. Trị giá 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng)” (Bút lục số: 132).

Tại Bản kết luận giám định số 3434/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C kết luận: “Khẩu súng gửi giám định là súng chế tạo thủ công có tính năng, tác dụng tương tự súng hơi, thuộc nhóm súng săn, không phải vũ khí quân dụng” (Bút lục số: 130).

Ngày 22/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lâm Thanh G, Lê Ngọc S1Nguyễn Văn Anh H4 về tội “Cướp tài sản”; Đoàn Trung H5 về tội “Không tố giác tội phạm” để điều tra. Quá trình điều tra các bị can đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh như đã nêu trên.

  1. Vật chứng vụ án:
  • + 01 con dao dài 69cm, rộng 4,5cm (có cán bằng gỗ dài 20cm x 3cm, có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 49cm x 4,5cm, đầu lưỡi nhọn); 01 con dao dài 28cm, rộng 3cm (có cán bằng gỗ dài 12cm x 3cm, có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 16cm x 3cm, đầu lưỡi nhọn); 01 cây rìu tự chế (có cán bằng gỗ bọc băng keo màu đỏ dài 40cm; có lưỡi bằng kim loại hình khuyết, cong dài 22cm x 4cm); 01 súng bắn cồn tự chế đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus và 01 căn cước công dân là tài sản của anh Ngô Văn S, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Ngô Văn S.

  1. Truy tố:
  • +Tại bản Cáo trạng số: 211/CT-VKS-TB, ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố các bị cáo Lâm Thanh G, Lê Ngọc S1, Nguyễn Văn Anh H4 về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự. Đoàn Trung H5 về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật hình sự.
  • + Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 (áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự cho bị cáo Lâm Thanh G) Điều 58 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo: Lâm Thanh GLê Ngọc S1 mỗi bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn Anh H4 từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo: Đoàn Trung H5 từ 06 đến 08 tháng tù;
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dài 69cm, rộng 4,5cm (có cán bằng gỗ dài 20cm x 3cm, có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 49cm x 4,5cm, đầu lưỡi nhọn); 01 con dao dài 28cm, rộng 3cm (có cán bằng gỗ dài 12cm x 3cm, có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 16cm x 3cm, đầu lưỡi nhọn); 01 cây rìu tự chế (có cán bằng gỗ bọc băng keo màu đỏ dài 40cm; có lưỡi bằng kim loại hình khuyết, cong dài
  • - Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
  • * Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Anh H4 trình bày: Thống nhất quan điểm về tội danh như Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên mức hình phạt mà VKS đề nghị là quá nghiêm khắc với bị cáo. Bị cáo phạm tội khi chưa tròn 17 tuổi nên còn hạn chế về năng lực và nhận thức. Bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã rất ăn năn hối cải, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo phạm tội với tài sản chiếm đoạt giá trị thấp, nên đề nghị áp dụng thêm điểm h khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo H4, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phân hóa tội phạm, hình phạt và áp dụng điều 91 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

  1. Về tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom mô tả. Qua đó, đã có đủ căn cứ để kết luận: Vào ngày 13/11/2023, tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Lâm Thanh G, Lê Ngọc S1, Nguyễn Văn Anh H4 đã có hành vi dùng tay, chân đánh vào người anh Ngô Văn S và dùng dao, rìu tự chế (là hung khí nguy hiểm) đe dọa anh Ngô Văn S để chiếm đoạt của anh Ngô Văn S 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus trị giá 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng).

Đối với Đoàn Trung H5 biết rõ việc Lâm Thanh G, Lê Ngọc S1, Nguyễn Văn Anh H4 có hành vi dùng vũ lực đánh và chiếm đoạt của anh Ngô Văn S 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus nhưng H5 không trình báo cơ quan có thẩm quyền.

  • + Hành vi của các bị cáo Lâm Thanh G, Lê Ngọc S1Nguyễn Văn Anh H4 đã cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
  • + Hành vi của Đoàn Trung H5 cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
  1. Về trách nhiệm hình sự:
  • + Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lâm Văn G1Lê Ngọc S1 là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về các tội khác nhau nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý là người rủ rê, bị cáo dưới 18 tuổi cùng thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo H4, H5 là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; đồng thời Bị cáo H4 thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91 Bộ luật hình sự.
  1. Về hình phạt:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm trực tiếp đến quyền nhân thân và quyền tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ người khác nên cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành những người công dân tốt, sống tuân thủ pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

  • + Trong vụ án này tuy các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng ở mức đồng phạm giản đơn vì không có sự phân công bàn bạc. Bị cáo G1 tham gia với vai trò khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác trong đó có bị cáo H4 dưới 18 tuổi. Do đó, cần có mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo Lê Ngọc S1Nguyễn Văn Anh H4 là những người thực hành tích cực nên cũng cần có mức hình phạt tương xứng.
  • + Bị cáo Đoàn Trung H5 biết hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng không tố giác. Tuy nhiên ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách, pháp luật tại địa phương; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo theo quy định tại Điều 100 Bộ luật hình sự.
  1. Về dân sự:

Tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì khác nên không xem xét

  1. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 con dao dài 69cm, rộng 4,5cm (có cán bằng gỗ dài 20cm x 3cm, có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 49cm x 4,5cm, đầu lưỡi nhọn); 01 con dao dài 28cm, rộng 3cm (có cán bằng gỗ dài 12cm x 3cm, có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 16cm x 3cm, đầu lưỡi nhọn); 01 cây rìu tự chế (có cán bằng gỗ bọc băng keo màu đỏ dài 40cm; có lưỡi bằng kim loại hình khuyết, cong dài 22cm x 4cm); 01 súng bắn cồn tự chế các bị cáo dùng làm công cụ phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.

  1. Các nội dung khác:

Đối với hành vi chế tạo, tàng trữ súng cồn của Lâm Thanh G, Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm đối với G về hành vi “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép các loại vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc các chi tiết, cụm chi tiết để sản xuất, chế tạo vũ khí, công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự” quy định tại điểm c khoản 4 Điều 11 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.

  1. Về án phí: Các bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom và Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Anh H4 thì thấy đa phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 5, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
    • + Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh G, Lê Ngọc S1 phạm tội “Cướp tài sản”.
    • + Xử phạt bị cáo Lâm Văn G1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/11/2023.
  2. Căn cứ khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 5, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
    • + Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S1 phạm tội “Cướp tài sản”.
    • + Xử phạt bị cáo Lê Ngọc S1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/11/2023.
  3. Căn cứ khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
    • + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Anh H4 phạm tội “Cướp tài sản”
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Anh H4 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị áp giải thi hành án phạt tù nhưng được trừ đi thời gian đã bị giam giữ (từ ngày 16/11/2023 đến ngày 04/4/2024).
  4. Căn cứ khoản 1 Điều 390; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
    • + Tuyên bố bị cáo Đoàn Trung H5 phạm tội “Không tố giác tội phạm”
    • + Xử phạt bị cáo Đoàn Trung H5 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. nhưng được khấu trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 16/11/2023 đến ngày 18/11/2023; cứ 01 (một) ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.

    Trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ; trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự. Không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Đoàn Trung H5

  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 69cm, rộng 4,5cm (có cán bằng gỗ dài 20cm x 3cm, có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 49cm x 4,5cm, đầu lưỡi nhọn); 01 con dao dài 28cm, rộng 3cm (có cán bằng gỗ dài 12cm x 3cm, có lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 16cm x 3cm, đầu lưỡi nhọn); 01 cây rìu tự chế (có cán bằng gỗ bọc băng keo màu đỏ dài 40cm; có lưỡi bằng kim loại hình khuyết, cong dài 22cm x 4cm); 01 súng bắn cồn tự chế.

    (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2023).

  6. Về án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc các bị cáo: Lâm Thanh G, Lê Ngọc S1, Nguyễn Văn Anh H4Đoàn Trung H5 đều phải nộp mỗi bị cáo 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Các bị cáo Lâm Thanh G, Lê Ngọc S1, Đoàn Trung H5, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi
  • - Bị hại,
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom;
  • - Bộ phận T.H.A hình sự;
  • - T.H.A.H.S Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND cấp xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 244/2024/HSST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về cướp tài sản và không tố giác tội phạm

  • Số bản án: 244/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản và Không tố giác tội phạm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger