|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 244/2025/HS-PT Ngày: 15 - 4 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Vũ Đức Toàn |
| Các Thẩm phán: | Bà Bùi Thị Thu |
| Ông Cao Văn Tám |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 153/2025/TLPT- HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Đỗ Thái E do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 14/01/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Bị cáo bị kháng nghị:
Đỗ Thái E, sinh ngày: 16/10/1984 tại tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Khu V, phường L, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 4/12; con ông Đỗ Văn B (chết) và bà Lê Ánh B1 (chết); bị cáo có 02 người con (lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/6/2024 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (có mặt)
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Lê Thị Ánh T, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
(Ngoài ra trong vụ án còn có đại diện hợp pháp của bị hại nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến kháng nghị nên không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2012, Đỗ Thái E và chị Trình Thị Xuân M quen biết và sống chung như vợ chồng với nhau. Đến năm 2024, do Đỗ Thái E gặp khó khăn về kinh tế, nên bà Trần Thị Thu V (mẹ ruột chị M) ngăn cản, không cho hai người tiếp tục sống chung với nhau, đồng thời Thái E nghi ngờ chị M có tình cảm yêu đương với người khác, từ đó Đỗ Thái E và gia đình bên vợ xảy ra mâu thuẫn.
Đến khoảng 16 giờ ngày 13/6/2024, sau khi sử dụng ma tuý xong Đỗ Thái E điều khiển xe máy biển kiểm soát 72FB-6501 đi đến nơi buôn bán của chị Trình Thị Xuân M tại đường Đ thuộc khu vực I, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang để tìm chị M, khi đi Đỗ Thái E có mang theo 01 con dao dài 19 cm, lưỡi dao dài 11,5 cm. Đến nơi, Đỗ Thái E và chị M xảy ra cự cãi với nhau, sau đó Đỗ Thái E dùng tay cầm dao đâm nhiều nhát trúng vào vùng lưng của chị M làm chị M gục ngã, tiếp theo Đỗ Thái E điều khiển xe máy đi đến nhà của bà Trần Thị Thu V tại địa chỉ ấp M, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Tại đây, Đỗ Thái E nhìn thấy bà V đang nằm ngủ trên giường nên dùng dao đâm nhiều nhát vào vùng lưng của bà V. Sau đó, Đỗ Thái E ném con dao ở hiện trường và điều khiển xe đi đến cơ quan Công an đầu thú. Hậu quả: Chị Trình Thị Xuân M và bà Trần Thị Thu V bị tử vong tại chỗ.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 66/KLGĐTT-TTPY, ngày 01/7/2024 của Trung tâm P, Sở Y tế tỉnh H, kết luận đối với bà Trần Thị Thu V bị: “Đa vết đứt da; Khoang ngực hai bên chứa đầy máu loãng và đông; Thủng khoảng liên sườn V, VI bên trái; Tụ huyết rốn phổi phải xuyên lên thùy dưới phổi phải; Thủng mặt sau thùy dưới phổi phải; Thủng góc màng tim bên trái. Kết luận nguyên nhân chết: Mất máu tối cấp do thủng phổi. Thời gian tử vong: > 06 giờ < 12 giờ. Cơ chế hình thành vết thương: Các vết thương trên do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên”.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 67/KLGĐTT-TTPY, ngày 01/7/2024 của Trung tâm P, Sở Y tế tỉnh H, kết luận đối với bà Trình Thị Xuân M bị: “Đa vết đứt da; Khoang ngực hai bên chứa đầy máu loãng; Thủng khoảng liên sườn III, IV bên trái; Phổi trái xẹp, sung huyết; Thủng mặt sau thùy phổi trái; Đứt rốn phổi; Thủng động mạch phổi. Kết luận nguyễn nhân chết: Mất máu tối cấp do thủng phổi. Thời gian tử vong: > 06 giờ < 12 giờ. Cơ chế hình thành vết thương: Các vết thương trên do vật sắc nhọn gây nên”.
- Tại Bản kết luận giám định số 3788/KL-KTHS, ngày 30/7/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ C, kết luận:
“Trên các mẫu ký hiệu gói số 1, số 2 và số 3 gửi giám định đều có máu người. Phân tích gen từ các dấu vết máu này được kết quả:
+ Gói số 1 (Mẫu máu hiện trường tại khu vực I, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang) là máu người, phân tích kiểu gen trùng với kiểu gen của Trình Thị Xuân M.
+ Gói số 2 (Mẫu máu hiện trường tại ấp M, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang) là máu người, phân tích kiểu gen trùng với kiểu trùng với kiểu gen Trần Thị Thu V.
+ Trên con dao dài 19 cm thu tại hiện trường thuộc ấp M, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (ký hiệu gói số 3) có dính máu người, phân tích được 01 kiểu gen lẫn, trong đó có kiểu gen của Trình Thị Xuân M và Trần Thị Thu V”.
- Tại Bản kết luận giám định số 3781/KL-KTHS, ngày 01/8/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ C, kết luận:
“Tập tin video ký hiệu A (YCJX6731.MP4, dung lượng 3,87 MB) không bị cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung”.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 14/01/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang quyết định:
Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thái E tù chung thân về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 13/6/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, trách nhiệm dân sự và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/02/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VC3-V1, kháng nghị phần hình phạt của bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng tình tiết định khung quy định tại điểm q khoản 1 Điều 123, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e, k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để tăng hình phạt lên tử hình đối với bị cáo Đỗ Thái E.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
1. Phần xét hỏi:
Bị cáo Đỗ Thái E trình bày: Bị cáo đồng ý về tội danh và mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tất cả các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo để bác kháng nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên hình phạt cho bị cáo.
2. Phần tranh luận:
2.1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
2.1.1. Về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VC3-V1 ngày 13/02/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là đúng thẩm quyền, còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
2.1.2. Về nội dung: Qua đối chiếu hồ sơ vụ án, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là nhẹ, chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, chưa đánh giá đúng tính chất của vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả của vụ án nên đã áp dụng không đầy đủ các tình tiết định khung hình phạt và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không đưa ra được tình tiết mới để xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng thêm điểm e, k khoản 1 Điều 52; điểm q khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự để tăng hình phạt của bị cáo lên tử hình.
2.2. Phần tranh tụng của bị cáo Đỗ Thái E và người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thái E
- Luật sư Lê Thị Ánh T bào chữa cho bị cáo Đỗ Thái E trình bày: Không đồng ý với kháng nghị của Viện kiểm sát bởi lẽ bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không trốn tránh mà ra đầu thú ngay với cơ quan chức năng; tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thỏa thuận với đại diện hợp pháp của bị hại để được bồi thường thiệt hại; ngoài ra bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế do bị cáo chỉ có trình độ 4/12, bị cáo còn phải chăm sóc 02 đứa con nhỏ giữa bị cáo và bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo Đỗ Thái E đồng ý lời bào chữa và không bổ sung gì.
2.3. Đại diện viện kiểm sát, luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
3. Phần bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình và kính mong Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh giả đình của bị cáo cho bị cáo cơ hội trở về chăm sóc gia đình của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 04/QĐ-VC3-V1 ngày 13/02/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là đúng thẩm quyền, còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
[2.1] Xuất phát từ việc bà Trần Thị Thu V ngăn cản không cho bị cáo Đỗ Thái E và chị Trình Thị Xuân M tiếp tục sống chung như vợ chồng và bị cáo nghi ngờ chị M có tình cảm yêu đương với người khác, nên vào khoảng 16 giờ ngày 13/6/2024, sau khi sử dụng ma túy xong, bị cáo mang theo 01 con dao dài 19 cm, lưỡi dao dài 11,5 cm, đi đến nơi buôn bán của chị M tại đường Đ thuộc khu vực I, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang, tại đây giữa bị cáo và chị M xảy ra cãi vã dẫn đến xô xát đánh nhau, bị cáo đã dùng dao đâm nhiều nhát vào vùng lưng của chị M, tiếp sau đó bị cáo điều khiển xe đến nhà của bà Trần Thị Thu V tại ấp M, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang, khi thấy bà V đang ngủ bị cáo dùng dao đâm nhiều nhát vào vùng lưng của bà V. Hậu quả chị M, bà V bị tử vong.
[2.2] Bị cáo Đỗ Thái E là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi giết người là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Chỉ vì mâu thuẫn xuất phát trong quan hệ tình cảm mà bị cáo đã thực hiện hành vi giết 02 người, dùng dao đâm nhiều nhát vào các bị hại, thể hiện tính chất côn đồ khi thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp tước đoạt tính mạng của 02 bị hại, gây tâm lý hoang mang, bất bình, phẫn nộ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương.
[2.3] Với hành vi nêu tại mục [2.1] và nhận định tại mục [2.2], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đỗ Thái E phạm tội “Giết người”, thuộc trường hợp “Giết 02 người trở lên” và “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát đề nghị tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đỗ Thái E
[3.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Đỗ Thái E: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đỗ Thái E hình phạt Tù chung thân là nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Xét thấy mặc dù bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, nhưng hành vi của bị cáo thể hiện rõ tính chất côn đồ, đặc biệt là với người đã từng chung sống như vợ chồng với bị cáo suốt nhiều năm và với người có thể xem như tương đương với bậc cha mẹ của bị cáo. Bị cáo đã chuẩn bị sẵn dao trước khi đến gặp chị M, sau khi đâm chị M thì bị cáo cũng đã có thời gian để cân nhắc, suy nghĩ lại về hành vi phạm tội của bản thân nhưng bị cáo vẫn đi đến nhà bà V để tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo.
Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, suy đồi nghiêm trọng về mặt đạo đức, ảnh hưởng tiêu cực đến các quan niệm sống tốt đẹp giữa các thành viên trong gia đình. Hậu quả để lại không chỉ là việc mất đi quyền được sống của các bị hại, mà còn gây ra đau thương, mất mát cho gia đình bị hại, đặc biệt trong hoàn cảnh bị hại Trình Thị Xuân M còn 02 con nhỏ là cháu T1 Đỗ Như Ý, sinh năm 2012 và cháu Trình Công B2, sinh năm 2017.
Do đó, cần thiết loại bỏ vĩnh viễn bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3.2] Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát đề nghị áp dụng thêm tình tiết định khung “Vì động cơ đê hèn” quy định tại điểm q khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng”, “Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được” quy định tại điểm e, điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
Xét thấy, đối với tình tiết định khung “Vì động cơ đê hèn”, theo tinh thần được hướng dẫn tại điểm a mục 1 Chương 2 Nghị quyết 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao: “Giết người vì động cơ đê hèn (điểm a) như giết người vì tính ích kỷ cao, phản trắc, bội bạc (ví dụ: giết người để cướp vợ hoặc chồng nạn nhân; giết tình nhân đã có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm; giết người đã cho vay, giúp đỡ khắc phục khó khăn, hoạn nạn nhằm trốn nợ v.v...)”; hướng dẫn tại Sổ tay Thẩm phán 2023:“6.2.2.5. Phạm tội vì động cơ đê hèn (điểm đ khoản 1 Điều 52 BLHS) / Phạm tội vì động cơ đê hèn là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội để trả thù, để trốn tránh trách nhiệm của bản thân, phạm tội đối với người mà mình mang ơn hoặc những hành vi phạm tội thể hiện sự bội bạc, phản trắc, hèn nhát.” Trong vụ án, bị cáo Thái E thực hiện hành vi giết người vì mâu thuẫn tình cảm với bị hại và mâu thuẫn với gia đình bị hại, thuộc trường hợp phạm tội có tính chất côn đồ; hành vi phạm tội của bị cáo không nhằm đạt được kết quả thể hiện tính đê hèn cụ thể sau khi phạm tội nên không thuộc trường hợp phạm tội vì động cơ đê hèn.
Đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng”. Theo hướng dẫn tại Sổ tay Thẩm phán 2023:“ “6.2.2.6. Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng (điểm e khoản 1 Điều 52 BLHS) / Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng là quyết tâm thực hiện bằng được ý định phạm tội và hành vi phạm tội, mặc dù có sự can ngăn của người khác hoặc có những trở ngại khác trong quá trình thực hiện tội phạm.” Trong vụ án, bị cáo Thái E thực hiện hành vi phạm tội mà không bị ai ngăn cản, không gặp trở ngại trong quá trình phạm tội, nên không có cơ sở áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này đối với bị cáo.
Đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được”. Theo hướng dẫn tại mục 6.2.2.10 Sổ tay Thẩm phán 2023: “Người ở trong tình trạng không tự vệ được” là người trong tình trạng không có hoặc bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; bị bệnh tật; đang ngủ say, đang ở trong tình thế không chống đỡ được, không thể tự bảo vệ mình được, v.v...”. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với bà H khi bà H đang ngủ, không chống đỡ được, không thể tự bảo vệ mình được là “Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được”. Do đó, có cơ sở áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[3.3] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đỗ Thái E không cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
[3.4] Từ các nhận định tại mục [3.1], [3.2], [3.3], Hội đồng xét xử phúc thẩm có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được” quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, tăng hình phạt đối với bị cáo Đỗ Thái E.
[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 14/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, tăng hình phạt đối với bị cáo Đỗ Thái E.
Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Đỗ Thái E tử hình về tội “Giết người”.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Đỗ Thái E để bảo đảm thi hành án.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
3. Bị cáo Đỗ Thái E có quyền làm đơn gửi Chủ tịch N xin ân giảm án tử hình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (ngày 15 tháng 4 năm 2025)
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Các Thẩm phán |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Cao Văn T2 – Bùi Thị Thu |
Vũ Đức T3 |
Bản án số 244/2025/HS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (giết người)
- Số bản án: 244/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 14/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, tăng hình phạt đối với bị cáo Đỗ Thái E.
