TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 244/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14-02-2025 V/v tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Dương Thúy Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Mai Thanh Giàu
- Bà Đỗ Thị Kiều Hạnh
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hải Yến là thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Trương Thị Ngọc Huệ – Kiểm sát viên
Trong ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2067/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10094/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 379/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/01/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Trần Thị Hồng D, sinh năm 1990
Địa chỉ: đường A, tổ 2, thôn G, xã T, huyện H, tỉnh B
Bị đơn: ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1990
Địa chỉ: 61/3D G, phường P, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nộp ngày 12/9/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Hồng D trình bày:
Bà và ông Nguyễn Minh K tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số **/2013, quyển số **/2013, ngày **/**/2013. Vợ chồng chung sống đến năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng trong cuộc sống, không còn tiếng nói chung; ông K có tính ghen tuông vô cớ. Gia đình hai bên đã khuyên nhủ, hòa giải nhiều lần và vợ chồng cũng đã cố hàn gắn nhưng không được. Cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2020. Hiện nay, bà không còn tình cảm với ông K nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, để ổn định cuộc sống bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn ông K.
Về con chung: Bà yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày **/**/2013 và Nguyễn Thành T, sinh ngày **/**/2018. Bà không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi 02 con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Nguyễn Minh K: Dù đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Bà D có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể: yêu cầu được ly hôn với ông K; Yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung và nợ chung: không có.
Ông K vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Giao 02 con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà D yêu cầu ly hôn ông K và ông K có địa chỉ cư trú tại thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là vụ án tranh chấp ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
* Về thủ tục tố tụng: Bà D có đơn xin xét xử vắng mặt và ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà D và ông K.
* Về nội dung vụ án:
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số **/2013, quyển số **/2013, ngày **/**/2013 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh B cấp, thì quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông K là hợp pháp.
Bà D xác định từ năm 2019 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng trong cuộc sống, không còn tiếng nói chung; ông K có tính ghen tuông vô cớ. Gia đình hai bên đã khuyên nhủ, hòa giải nhiều lần và vợ chồng cũng đã cố hàn gắn nhưng không được. Cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2020. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông K.
Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông K không đến tòa, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là thể hiện sự bỏ mặc, không mong muốn vợ chồng hàn gắn. Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà D và ông K không còn, vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 19, Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trần Thị Hồng D được ly hôn với ông Nguyễn Minh K.
[2] Về con chung:
Căn cứ Giấy khai sinh số **/2013, ngày **/**/2013 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh B; Giấy khai sinh số **/2018, ngày **/**/2018 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh A và lời khai của bà D thì có đủ căn cứ xác định bà D và ông K có 02 con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày **/**/2013 và Nguyễn Thành T, sinh ngày **/**/2018.
Xét, bà D đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và có yêu cầu tiếp tục được nuôi dưỡng 02 con chung; Ông K dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà D. Đồng thời, tại bản trình bày nguyện vọng ngày 03/12/2024, cả 02 con chung đều có nguyện vọng được ở với bà D. Căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao 02 con chung Thành Nam và Thành Trung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà D không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của bà D nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Về tài sản chung: Bà D xác định không có nên Hội Đồng xét xử không xem xét.
[4] Về nợ chung: Bà D xác định không có nên Hội Đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ vào Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì bà D phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Hồng D được ly hôn với ông Nguyễn Minh K.
- Về con chung: bà Trần Thị Hồng D trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày **/**/2013 và Nguyễn Thành T, sinh ngày **/**/2018. Ông Nguyễn Minh K không cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con
- Về tài sản chung: không có
- Về nợ chung: Không có
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, bà Trần Thị Hồng D chịu, nhưng được trừ vào 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0043317 ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Hồng D đã nộp đủ án phí.
- Giấy chứng nhận kết hôn số **/2013, quyển số **/2013, ngày **/**/2013 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh B cho bà Trần Thị Hồng D và ông Nguyễn Minh K không còn giá trị pháp lý.
- Bà Trần Thị Hồng D và ông Nguyễn Minh K vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thúy Quỳnh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Đỗ Thị Kiều Hạnh Mai Thanh Giàu | Dương Thúy Quỳnh |
Bản án số 244/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 244/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà D yêu cầu ly hôn ông K; Yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung và nợ chung: không có. HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà D
