Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 244/2025/DS-PT

Ngày: 14 - 4 - 2025.

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
  • Các Thẩm phán: Ông Đinh Tiền Phương.
  • Bà Trịnh Thị Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.

Vào ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 645/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 157/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 712/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 01 năm 2025, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hùng V, sinh năm 1979.
  2. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

  3. Bị đơn:
    1. Ông Phan Thành Q, sinh năm 1976.
    2. Địa chỉ: Số A B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Bà So Phi R, sinh năm 1978.
    4. Địa chỉ: Số E B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Thành Q, bà So Phi R: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số D, đường N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (Theo giấy ủy quyền ngày 10/12/2021).

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Quế M, sinh năm 1973.
    2. Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 2002.
    3. Chị Nguyễn Thi T2, sinh năm 2005.

    Cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

  • - Người kháng cáo: Ông Phan Thành Q, bà So Phi R.
  • - Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

(Ông V, ông T có mặt; Các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Hùng V trình bày:

Ông Nguyễn Hùng V có thửa đất số 6375, tờ bản đồ số 03, loại đất ONT, tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 724m².

Ngày 26 tháng 4 năm 2019, ông V với ông Q có thỏa thuận ông V chuyển nhượng cho ông Q phần đất diện tích khoảng 500m², thuộc 01 phần thửa đất số 6375 và căn nhà cấp 4 trên đất, với số tiền chuyển nhượng đất 1.500.000.000 đồng nhưng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng diện tích là 724m².

Do các bên muốn chuyển nhượng nhanh nên ông V chuyển nhượng toàn bộ diện tích 724m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q, bà R, thai bên thỏa thuận khi nào ông Q, bà R được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Q, bà R trả lại cho ông V phần đất có chiều ngang 3,5m x chiều dài 60m = 210m², nằm trong diện tích 724m² thuộc thửa đất 6375, đã được ông Q thừa nhận, cam kết trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giấy tay ngày 26 tháng 4 năm 2019 và có ông Trần Hữu Duy L chứng kiến.

Ông Q đã giao trước tiền cọc cho ông V là 250.000.000 đồng (trong đó ngày 26 tháng 4 năm 2019, ông Q đưa cho ông V 100.000.000 đồng và khoảng 3 - 4 ngày sau ông Q đưa thêm 150.000.000 đồng), hẹn 30 ngày ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng theo quy định.

Ngày 20 tháng 5 tháng 2019, ông V, ông Q và bà So Phi R ra Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T1 ký hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật và ông V đã nhận thêm 1.250.000.000 đồng tại Ngân hàng. Như vậy, vợ chồng ông Q đã đưa tiền đủ 1.500.000.000 đồng cho ông V. Trong các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các giấy tay mà ông Q viết không có phần nào ghi ông Q đưa thêm cho ông V 100.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng phần đất ngoài diện tích 724m² và cũng không có phần nào ghi ông V đã nhận từ ông Q 1.600.000.000 đồng.

Khi ông V chuyển nhượng thửa đất 6375 cho ông Q, không có tiến hành đo đạc thực tế mà trích lục theo bản đồ địa chính, chuyển nhượng theo diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông V đứng tên. Cùng ngày 20 tháng 5 năm 2019, ông Q và ông V có thỏa thuận lập Hợp đồng thuê đất (có nhà cấp 4 trên đất), thuê đất và diện tích đất có căn nhà cấp 4 khoảng 100m², thời hạn thuê 01 năm, kể từ ngày ký hợp đồng, mỗi tháng trả 100.000 đồng. Do ông Q, bà R không trả cho ông V phần diện tích 210m² nên ông V chưa trả tiền thuê nhà cho ông Q, bà R. Hiện tại căn nhà trên thửa đất 6375 có chị ông là bà Nguyễn Thị Quế M, con bà M là Nguyễn Thị Kim N và Nguyễn Thị T2 đang ở, còn ông cũng thường xuyên về ở.

Do ông Phan Thành Q và bà So Phi R vi phạm thỏa thuận nên ông Nguyễn Hùng V vẫn giữ nguyên khởi kiện là buộc vợ chồng ông Phan Thành Q và bà So Phi R phải trả lại cho ông V diện tích đất 210m², thuộc một phần thửa đất số 6375, tờ bản đồ số 03, loại đất ONT, tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Nếu diện tích không đủ tách thửa theo quy định của pháp luật thì ông V yêu cầu lấy giá trị bằng tiền tương đương diện tích đất.

Việc ông Phan Thanh Q1, bà So Phi R có đơn phản tố là yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Hùng V, bà Nguyễn Thị Quế M, chị Nguyễn Thị Kim N và chị Nguyễn Thị T2 phải giao trả nhà và toàn bộ diện tích đất 725m², tại vị trí A1, A2, A3 và A4, thuộc 01 phần thửa đất số 6375, tờ bản đồ số 03, loại đất ONT; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An cho ông Q1 và bà R thì ông không đồng ý.

Theo đơn phản tố và trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn T đại diện theo ủy quyền cho ông Q1 và bà R trình bày:

Ông Nguyễn Hùng V có thửa đất số 6375 diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 724m² nhưng thực tế hơn 1.000m² (chiều ngang 15,5m x chiều dài hơn 60m).

Ngày 26 tháng 4 năm 2019, ông V đồng ý chuyển nhượng thửa đất số 6375, diện tích chiều ngang 12m x chiều dài 60m và căn nhà có trên đất cho ông Q1 và bà R với giá 1.600.000.000 đồng. Do thửa đất ông V khi chuyển nhượng hai bên có tiến hành đo tay thì diện tích chiều ngang 15,5m, nhưng ông V chỉ chuyển nhượng cho ông Q1 12m nên có thỏa thuận tách lại cho ông V phần đất còn dư là 3,5m x chiều dài 60m = 210m². Hai bên có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giấy tay ngày 26 tháng 4 năm 2019, thì ông Q1 đã đặt cọc cho ông V 200.000.000 đồng, sau đó ông Q1 đưa thêm cho ông V 150.000.000 đồng (có ghi mặt sau giấy tay hợp đồng ngày 26 tháng 4 năm 2019).

Ngày 20 tháng 5 năm 2019, khi ký xong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng, thì vợ chồng ông Q1 có đưa thêm cho ông V số tiền 1.250.000.000 đồng tại Ngân hàng. Như vậy, ông Q1, bà R đã đưa đủ 1.600.000.000 đồng cho ông V để nhận chuyển nhượng diện tích đất khoảng 1.000m². Trong phần nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26 tháng 4 năm 2019, giá hợp đồng ghi 1.500.000.000 đồng tương ứng diện tích 724m². Còn việc thỏa thuận phần diện tích dư ra trên thực tế thì ông Q1 đưa thêm cho ông V thêm 100.000.000 đồng, ông Q1 và ông V thỏa thuận miệng không ghi văn bản.

Khi các bên chuyển nhượng đất không tiến hành đo đạc thực tế nên không biết diện tích chính xác bao nhiêu nhưng khi lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26 tháng 4 năm 2019, bằng giấy tay và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 5 năm 2019 tại Văn phòng C thì ghi diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 724m². Các bên mặc định chuyển nhượng đất với nhau là toàn bộ diện tích khoảng 1.000m², đây là phần đất duy nhất còn lại của ông V nên không tiến hành đo đạc cho đúng diện tích thực tế. Cùng ngày 20 tháng 5 năm 2019, ông Q1 có ghi giấy tay nội dung “trích phần đất trên thửa đất số 6375 (ngang 3,5m, dài 60m) dài hết đất cho ông Nguyễn Hùng V”, ông Q1 ký và ghi họ tên. Phần đất này ông Q1 đồng ý tách lại cho ông V là phần đất nằm ngoài diện tích 724m², đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q1, bà R nhưng nằm trong diện tích 1.000m² mà các bên đã thỏa thuận tách lại để cho ông V làm nhà thờ.

Ngày 20 tháng 5 năm 2019, ông Phan Thành Q và ông Nguyễn Hùng V có thỏa thuận và ký tên trong hợp đồng thuê đất (có nhà cấp 4 trên đất), ông Q cho ông V thuê lại toàn bộ diện tích đất thực tế mà ông V đã chuyển nhượng cho ông Q. Mục đích làm hợp đồng cho thuê là để cho mẹ ông V ở, thời hạn thuê đất là 01 năm, kể từ ngày ký hợp đồng, giá thuê là 100.000 đồng/tháng nhưng ông V chưa trả tiền được tháng nào. Tuy nhiên, trong vụ án này ông Q, bà R không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Việc giao dịch chuyển nhượng đất thửa 6375, tờ bản đồ số 03, giữa ông Nguyễn Hùng V với ông Phan Thành Q và bà So Phi R đã hoàn thành nhưng ông Nguyễn Hùng V, bà Nguyễn Thị Quế M, chị Nguyễn Thị Kim N và chị Nguyễn Thị T2 đang ở tại nhà trên đất không trả lại cho ông Q, bà R. Do vậy, bà So Phi R và ông Phan Thành Q có đơn phản tố yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Hùng V, bà Nguyễn Thị Quế M, chị Nguyễn Thị Kim N và chị Nguyễn Thị T2 phải trả nhà và toàn bộ diện tích đất 725m², tại khu A, A2, A3 và A4, thuộc một phần thửa đất số 6375, tờ bản đồ số 03, loại đất ONT, tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An, theo Mảnh trích đo địa chính số 318-2024, hệ tọa độ V - 2000 - ấp P - tờ bản đồ: 03- tỷ lệ 1/1000 đã được Công ty TNHH Đ xác nhận ngày 11 tháng 01 năm 2024, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16 tháng 01 năm 2024.

Ông Phan Thành Q và bà So Phi R không đồng ý việc ông Nguyễn Hùng V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ, chồng ông Phan Thành Q và bà So Phi R phải trả lại cho ông V diện tích đất 210m², thuộc một phần thửa đất số 6375 hoặc nếu diện tích không đủ tách thửa theo quy định của pháp luật thì yêu cầu lấy giá trị bằng tiền tương đương diện tích đất.

Ông Phan Thành Q và bà So Phi R thống nhất theo ý kiến trình bày của ông Nguyễn Văn T, không có ý kiến gì bổ sung.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 157/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 158 và Điều 166 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166, Điều 170 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 26 của Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hùng V đối với ông Phan Thành Q, bà So Phi R “Về việc trả lại giá trị quyền sử dụng đất”.
  2. Ông Phan Thành Q, bà So Phi R liên đới phải trả cho ông Nguyễn Hùng V số tiền 931.140.000 (chín trăm ba mươi mốt triệu một trăm bốn mươi nghìn) đồng.

  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
  4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Thành Q, bà So Phi R “Về việc buộc ông Nguyễn Hùng V, bà Nguyễn Thị Quế M, chị Nguyễn Thị Kim N và chị Nguyễn Thị T2 phải trả nhà và quyền sử dụng đất”.
  5. Buộc ông Nguyễn Hùng V, bà Nguyễn Thị Quế M, chị Nguyễn Thị Kim N và chị Nguyễn Thị T2 phải trả nhà và toàn bộ diện tích đất 725m², tại vị trí khu A1, A2, A3 và A4, thuộc 01 phần thửa đất số 6375, tờ bản đồ số 03, loại đất ONT; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An cho ông Phan Thành Q và bà So Phi R, cụ thể đất và nhà theo mảnh trích đo địa chính số 318-2024, hệ tọa độ V – 2000 - ấp P - tờ đồ: 03- tỷ lệ 1/1000 đã được Công ty TNHH Đ xác nhận ngày 11 ngày 01 tháng 2024, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16 tháng 01 năm 2024.

    Ông Phan Thành Q, bà So Phi R được quyền sử dụng diện tích đất 725m², tại khu A1, A2, A3 và A4, thuộc một phần thửa đất số 6375, tờ bản đồ số 03 và sở hữu tài sản cố định trên đất, cụ thể: Tại khu A1 (01 phần nhà chính (1) là 10m², 01 phần tole (4) là 01m²) và A4 (01 phần nhà chính (1) là 105m², nhà sau (2) là 14m², nhà bếp (3) là 46m² và 01 phần tole (4) là 05m²), thuộc một phần thửa đất số 6375, tờ bản đồ số 03, loại đất ONT; cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An, theo mảnh trích đo địa chính số 318-2024, hệ tọa độ V – 2000 - ấp P - tờ đồ: 03- tỷ lệ 1/1000 đã được Công ty TNHH Đ xác nhận ngày 11 ngáy 01 tháng 2024, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16 tháng 01 năm 2024.

  6. Về chi phí đo đạc, định giá và thẩm định với số tiền 35.000.000 đồng. Ông Phan Thành Q, bà So Phi R đã nộp xong. Ông Nguyễn Hùng V, bà Nguyễn Thị Quế M, chị Nguyễn Thị Kim N và chị Nguyễn Thị T2 liên đới hoàn trả cho ông Phan Thành Q số tiền 9.850.000 đồng.
  7. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  8. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hùng V, bà Nguyễn Thị Quế M, chị Nguyễn Thị Kim N và chị Nguyễn Thị T2 mỗi người phải nộp 300.000 đồng án phí. Khấu trừ 1.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí, mà ông Nguyễn Hùng V đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0002492 ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Hùng V số tiền 9.200.000 đồng tạm ứng án, mà ông Nguyễn Hùng V đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002492 ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
  9. Ông Phan Thành Q, bà So Phi R liên đới nộp 300.000 đồng. Khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí, mà ông Q đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008094 ngày 02 tháng 12 năm 2020, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Hoàn trả lại cho ông Phan Thành Q số tiền 29.700.000 đồng tiền tạm ứng án phí, mà ông Q đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008094 ngày 02 tháng 12 năm 2020, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.

Ngày 08/10/2024, bị đơn ông Phan Thành Q, bà So Phi R kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 14/10/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc kháng nghị bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm đối với phần án phí, Tòa án cấp sơ thẩm tính án phí 300.000 đồng là không đúng với Nghị quyết 326.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Long An rút toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Ông Nguyễn Hùng V trình bày: Khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Q, thì các bên thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Q phần đất chiều ngang 12m x chiều dài 60m và căn nhà có trên đất, ông Q sau khi đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải tách lại cho ông V phần đất có diện tích chiều ngang 3,5m x chiều dài 60m. Việc thỏa thuận được ghi trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay giữa ông V và ông Q vào ngày 26 tháng 4 năm 2019 có nội dung: “Tôi tên là Phan Thành Q trích phần đất lại ngang 3,5m x 60m (dài) dài hết đất”. Tuy nhiên sau đó ông Q không chuyển lại cho ông phần đất 210m², nên ông chưa giao tài sản cho ông Q. Việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Q, bà R thanh toán lại giá trị bằng tiền cho ông là phù hợp, đề nghị giữ nguyên theo bản án sơ thẩm.

Đối với phần đất có diện tích 371m² bao gồm: vị trí khu A có diện tích 225m² (chiều ngang 3,2m x chiều dài 42,2m), vị trí khu A5 có diện tích 98m², và vị trí khu A6 có diện tích 48m² theo Mảnh trích đo ngày 16/01/2024, ông không có chuyển nhượng cho ông Q nhưng hiện nay ông Q đứng tên luôn phần đất này. Ông đề nghị ông Q phải sang tên cho ông phần đất này.

Ông Nguyễn Văn T trình bày: Thửa đất ông V có chiều ngang 15,5m, khi chuyển nhượng cho ông Q phần đất có chiều ngang 12m x 60m, tổng diện tích 724m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bao gồm căn nhà có trên đất, nên hai bên thỏa thuận sau khi ông Q2 đứng tên sẽ tách lại cho ông V phần đất chiều ngang 3,5m x 60m, là phần đất không có căn nhà trên đất. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì ông V ký hợp đồng thuê nhà trong thời hạn một năm, hiện nay vẫn chưa giao nhà đất cho ông Q.

Đối với phần đất có diện tích 371m² bao gồm vị trí khu A có diện tích 225m² (chiều ngang 3,2m x chiều dài 42,2m), vị trí khu A5 có diện tích 98m², và vị trí A6 có diện tích 48m² theo Mảnh trích đo ngày 16/01/2024, ông thừa nhận là đất của ông V, do khi chuyển nhượng trọn thửa nên ông Q và bà R đứng tên luôn phần đất này. Tuy nhiên khu A giáp lối đi thì diện tích chiều ngang chỉ có 3,2m không đủ diện tích tối thiểu nên ông đồng ý kéo thêm 0,8m cho ông V đủ 4m để ông V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định (Căn cứ theo bản vẽ phân khu của Công ty TNHH Đ lập ngày 13/3/2025).

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Q, bà R, buộc ông V phải giao nhà đất cho ông Q, bà R bao gồm A1, A2, A3, A4 với diện tích 703 m² theo Mảnh trích đo phân khu ngày 13/3/2025 của Công ty TNHH Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị đơn ông Phan Thành Q, bà So Phi R và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị đơn Phan Thành Q và So Phi R (có đơn phản tố) thấy rằng:

Các bên thống nhất có chuyển nhượng thửa đất số 6375, số tiền giao nhận giữa các bên là 1.500.000.000 đồng. Các bên thống nhất sau khi chuyển nhượng bên bán có thuê lại căn nhà và bên mua đồng ý cho thuê lại. Về mặt giấy tờ các bên chuyển nhượng theo giấy đỏ diện tích là 724m², tuy nhiên thực tế diện tích đất của ông V trước khi chuyển nhượng lớn hơn diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, căn cứ vào bản vẽ có trong hồ sơ thì hiện nay diện tích đo đạc là 1.125m² (BL 384, 382):

  • + Ông V cho rằng khi ông ký tên ở Văn phòng công chứng để bán cho bên ông Q là 724m², nhưng thực chất ông chỉ thoả thuận bán cho ông Q 500m² nên các bên có thoả thuận sau khi đứng giấy thì cắt trả lại 3,5m x 60m.
  • + Ông Q không đồng ý lời trình bày trên của ông V mà cho rằng khi mua ông và ông V đều biết thửa đất thực tế nhiều hơn trên giấy đỏ, vì các bên cần chuyển nhượng nhanh nên ra Văn phòng công chứng theo giấy là 724m², nhưng hiện nay số thửa 6375 có diện tích 1.125m², mà số thửa 6375 trên mặt giấy tờ quản lý nhà nước thì ông Q đang đứng tên toàn bộ. Lời trình bày của ông Q còn thể hiện trên giấy tay chuyển nhượng hai bên có ghi phần đất có chiều ngang 12m x dài 60 mét... xong bằng khoán 3,5m x 60m rồi tách thửa. Nay ông V cho rằng phần tách thửa là nằm trong 724m² là không đúng. Vì nếu như ông V trình bày thì giao cho ông Q khoảng 500m² thì sẽ phá dở một phần căn nhà trên đất, trong khi giấy tay đã thể hiện: “Tôi tên Nguyễn Hùng V... tôi đồng ý bán thửa đất 724 mét vuông. Bán số thửa 6375, trên đất có căn nhà cấp bốn, tôi đồng ý bán chung với đất không tranh chấp về sau”. Do đó ông cho rằng phần dư hơn 724m² mới là phần ông cần trả lại cho ông V.

Theo Công văn số: 1802/CN.VPĐKĐĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C có nội dung trả lời Tòa án về diện tích đất chênh lệch, không đúng với diện tích giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông V đã được cấp như sau: Về nguồn gốc thửa đất 6375 được hợp từ thửa đất số 3602 (pcl) và thửa đất số 3605. Tuy nhiên thửa đất số 3602 và thửa đất số 3605 trước đây được cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo bản đồ địa chính được thành lập bằng phương pháp không ảnh không qua đo đạc thực tế. Vì vậy diện tích trên giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp chưa phù hợp với thực tế đang quản lý.

Căn cứ vào bản vẽ thể hiện: Đối với phần đất có diện tích 371m² bao gồm: vị trí khu A có diện tích 225m² (chiều ngang 3,2m x chiều dài 42,2m), và vị trí khu A5 có diện tích 98m², A6 có diện tích 48m² theo Mảnh trích đo ngày 16/01/2024, ông V không có chuyển nhượng cho ông Q nhưng hiện nay ông Q đứng tên luôn phần đất này. Phía ông Q, bà R cũng thống nhất không có nhận chuyển nhượng đối với phần đất này, xác định phần đất này thuộc quyền sử dụng đất của ông V. Tuy nhiên thửa đất 6375 là đất ONT, chiều ngang phía giáp lối đi chỉ có 3,2m không đủ diện tích tối thiểu theo quy định pháp luật nên phía ông Q, bà R đồng ý cắt cho ông V một phần đất có chiều ngang 0,8m cho đủ diện tích tối thiểu khi tách thửa theo Quyết định 49/2024/QĐ-UBND của UBND tỉnh L ngày 25/10/2024 là có lợi cho ông V, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện này của ông Q và bà R.

Đối với khu A7 có diện tích 29m² hiện trạng là lối đi (đường đan), các đương sự thống nhất là lối đi không ai tranh chấp.

Trong vụ án này Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc có ban hành Kháng nghị số 09/QĐ-VKS-DS ngày 14/10/2024. Nội dung kháng nghị là bản án sơ thẩm tính án phí chưa phù hợp theo điểm b khoản 2 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ của UBTVQH (Toà án tính án phí không giá ngạch). Thấy rằng, Kháng nghị không còn cần thiết vì vậy Viện kiểm sát tỉnh rút kháng nghị số 09/QĐ-VKS-DS ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng cáo của ông Q, bà R. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa bản án dân sự sơ thẩm. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Kháng nghị số 09/QĐ-VKS-DS ngày 14/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Phan Thành Q, bà So Phi R và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Quế M, chị Nguyễn Thị Kim N, chị Nguyễn Thị T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
  3. Về phạm vi xét xử phúc thẩm:

    Ông Phan Thành Q và bà So Phi R kháng cáo yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo của ông Q và bà R, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.

    Đối với Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An rút toàn bộ kháng nghị nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc theo quy định tại Điều 289, Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự.

  4. Xét kháng cáo của bị đơn ông Phan Thành Q, bà So Phi R thấy rằng:
    1. Quá trình hình thành thửa đất 6375 của ông Nguyễn Hùng V như sau:
    2. Ngày 08/4/2013, ông V có đơn xin đề nghị hợp thửa đất số 3602 (pcl), diện tích 1.945m² và thửa đất số 3605, diện tích 311m². Ngày 03 tháng 5 năm 2013 ông V được UBND huyện C, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 6375, diện tích 2.256m², tờ bản đồ số 03, loại đất ONT, tọa lạc tại Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

      Sau đó, thửa đất số 6375 ông V chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thanh H diện tích 332m², tiếp sau là ông Vương T3 lại cho bà Nguyễn Thị Quế M diện tích 100m² và chuyển nhượng cho ông Ngô Hồng P diện tích 1.100m² nên thửa đất số 6375 phần còn lại trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 724m².

      Ngày 20 tháng 5 năm 2019, tại Văn phòng C ông Nguyễn Hùng V ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 6375, diện tích 724m², tờ bản đồ số 03, loại đất ở tại nông thôn cho ông Phan Thành Q và bà So Phi R.

      Tuy nhiên theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 318-2024, do Công ty TNHH Đ đo đạc ngày 11 tháng 01 năm 2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16 tháng 01 năm 2024 thì diện tích đo đạc thực tế thửa đất số 6375 có diện tích là 1.125m². (nhiều hơn so với giấy chứng nhận cấp cho ông V 401m²).

      Theo Công văn số: 1802/CN.VPĐKĐĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C có nội dung trả lời Tòa án về diện tích đất chênh lệch, không đúng với diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông V đã được cấp như sau: Về nguồn gốc thửa đất 6375 được hợp từ thửa đất số 3602 (pcl) và thửa đất số 3605. Tuy nhiên thửa đất số 3602 và thửa đất số 3605 trước đây được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính được thành lập bằng phương pháp không ảnh không qua đo đạc thực tế. Vì vậy diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp chưa phù hợp với thực tế đang quản lý.

      Do đó, diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông V không đúng với diện tích đo đạc thực tế.

    3. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc thì trên phần đất tranh chấp có căn nhà chính, nhà sau, nhà bếp và tole hiện do ông V đang quản lý, sử dụng.
    4. Theo Mảnh trích đo địa chính số 318-2024, do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 11 tháng 01 năm 2024, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16 tháng 01 năm 2024, phần đất các bên tranh chấp gồm:

      • Khu A1 có diện tích 193m² (có 01 phần nhà chính là 10m², 01 phần tole là 01m²).
      • Khu A2 có diện tích 17m² (hiện trạng ao).
      • Khu A3 có diện tích 34m² (hiện trạng ao).
      • Khu A4 có diện tích 481m² (có 01 phần nhà chính là 105m², nhà sau là 14m², nhà bếp là 46m², 01 phần tole là 05m²).

      Tổng diện tích 725m². Căn nhà cấp 4 xây dựng trên khu A1 và A4.

      Ông V yêu cầu ông Q, bà R trả lại 210m² tại vị trí khu Al có diện tích 193m², A2 có diện tích 17m².

      Phần còn lại của thửa đất số 6375 là khu A có diện tích 225m²; khu A5 có diện tích 98m² và khu A6 có diện tích 48m², tổng diện tích 371m². Các đương sự thống nhất không có chuyển nhượng đối với phần đất này, hiện nay ông Q và bà R đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Q xác định phần tách lại cho ông V là phần đất tại khu A, A5, A6.

    5. Thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Hùng V và ông Phan Thành Q và bà So Phi R vào ngày 20 tháng 5 năm 2019. Ngày 12 tháng 6 năm 2019, ông Phan Thành Q và bà So Phi R được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối với thửa đất số 6375, diện tích 724m², tờ bản đồ số 03, loại đất ở tại nông thôn; tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
    6. Việc chuyển nhượng đất giữa các bên không tiến hành đo đạc thực tế mà thông qua trích lục bản đồ địa chính. Tuy nhiên, thửa đất 6375, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 724m², tờ bản đồ số 03 đã có ranh giới, mốc giới rõ ràng. Hiện nay theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 318-2024 ông Phan Thành Q và bà So Phi R đứng tên toàn bộ thửa đất 6375 với diện tích 1.125m².

    7. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự trình bày không thống nhất:
      1. Ông Nguyễn Hùng V trình bày có chuyển nhượng cho vợ chồng ông Q và bà R phần đất có diện tích 500m² thuộc một phần thửa đất số 6375, không chuyển nhượng toàn bộ diện tích 724m² cho ông Q. Do các bên muốn chuyển nhượng đất nhanh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông V chuyển nhượng hết đất cho ông Q, bà R diện tích 724m² (ngang 12m, dài 60m). Ông Q cam kết khi ông Q và bà R được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Q và bà R phải trích trả lại cho ông V phần đất kích thước 3,5m x dài 60m = 210m², nằm trong diện tích 724m² thuộc thửa 6375, mà ông Q và bà R đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
      2. Chứng cứ ông V cung cấp cho Tòa án: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay ngày 26 tháng 4 năm 2019, có nội dung “ Bên A (ông V đồng ý chuyển nhượng cho bên B (ông Q) khu đất có diện tích chiều ngang là 12m x chiều dài 60m, tổng diện tích 724 m²” và có nội dung: “Tôi tên là Phan Thành Q trích phần đất lại ngang 3,5m x 60m (dài) dài hết đất. Mỗi người làm sai hợp đồng một đền một (200.000.000 đồng thành 400.000.000 đồng) (Hai trăm triệu thành bốn trăm triệu). Đưa trước 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng chẳn)"

        Trên thửa đất 6375 có căn nhà cấp 4 của ông V, Sau khi chuyển nhượng thì hai bên có ký hợp đồng thuê nhà trong thời hạn 01 năm. Hiện nay ông V vẫn chưa giao nhà đất cho ông Q, vì ông Q chưa trả lại cho ông V diện tích đất 210m².

      3. Ông Nguyễn Văn T trình bày:
      4. Ông T cho rằng thửa đất 6375 của ông Nguyễn Hùng V có diện tích hơn 1.000m². Khi ông Q, bà R nhận chuyển nhượng thửa đất 6375 và căn nhà có trên đất của ông V thì chiều ngang đất của ông V có diện tích 15,5m, do đó hai bên thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Q, bà R phần đất ngang 12m x dài 60m, tổng diện tích 724m², sau khi được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ tách lại cho ông V phần đất có diện tích ngang 3,5m x 60m (dài) dài hết đất, phần chuyển nhượng lại cho ông V là khu A có diện tích 225m²; khu A5 có diện tích 98m² và khu A6 có diện tích 48m², tổng diện tích 371m².

        Ông T cho rằng ông Nguyễn Hùng V thực tế có chuyển nhượng cho ông Phan Thành Q, bà So Phi R phần diện tích hơn 1.000m², thuộc thửa 6375, tờ bản đồ số 03, phần tách lại có diện tích 210m², nằm ngoài diện tích 724m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q, bà R nhưng nằm trong thửa đất 6375 của ông V, mà các bên đã thỏa thuận chuyển nhượng trên thực tế để cho ông V làm nhà thờ.

        Do đó, ông Phan Thành Q và bà So Phi R xác định phần đất nhận chuyển nhượng bao gồm khu A1, A2, A3, A4 với tổng diện tích 725m² và căn nhà có trên đất, nên có đơn phản tố yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Hùng V, bà Nguyễn Thị Quế M, chị Nguyễn Thị Kim N và chị Nguyễn Thị T2 phải giao trả nhà và toàn bộ diện tích đất 725m², thuộc 01 phần thửa đất số 6375, tờ bản đồ số 03, loại đất ONT; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

    8. Thấy rằng lời khai của các đương sự mâu thuẩn không thống nhất với nhau, ông V cho rằng chỉ chuyển nhượng cho ông Q, bà R phần đất có diện tích 500m², phần tách lại là phần đất nằm trong diện tích 724m². Ông Q, bà R cho rằng nhận chuyển nhượng phần đất có diện tích 724m², phần tách lại là phần đất nằm ngoài diện tích 724m².
    9. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông V thừa nhận có bán cho ông Q căn nhà trên thửa đất 6375, tại giấy viết tay ngày 20/5/2019 ông V viết có nội dung: “Tôi tên Nguyễn Hùng V... tôi đồng ý bán thửa đất 724 mét vuông. Bán số thửa đất 6375, trên đất có căn nhà cấp bốn, tôi đồng ý bán chung với đất không tranh chấp về sau”.

      Tại phiên tòa phúc thẩm, ông V thừa nhận phần đất chuyển nhượng cho ông Q, bà R có căn nhà cấp 4 trên đất, việc nguyên đơn cho rằng phần đất yêu cầu ông Q tách lại có dính 01 phần căn nhà, các bên thỏa thuận sẽ cắt bỏ (thỏa thuận miệng) nhưng ông V không có chứng cứ gì chứng minh và phía ông Q cũng không thừa nhận vấn đề này nên không có có căn cứ chấp nhận lời trình bày của ông V.

      Do đó có căn cứ xác định ông V đã chuyển nhượng cho ông Q, bà R phần đất có diện tích 725m² (bao gồm khu A1, A2, A3, A4 và căn nhà có trên đất) là có căn cứ.

      Theo thỏa thuận của các bên, sau khi ông Q, bà R đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ tách lại cho ông V phần đất ngang 3,5m x 60m (dài) dài hết đất. Bị đơn xác định phần diện tích đất tách lại cho ông V nằm ngoài phần đất có diện tích 724m² là phù hợp với hiện trạng thực tế.

      Do đó, ông Nguyễn Hùng V yêu cầu Tòa án buộc vợ, chồng ông Phan Thành Q và bà So Phi R phải trả lại cho ông V diện tích đất 210m², thuộc một phần thửa đất số 6375, nếu diện tích không đủ tách thửa theo quy định của pháp luật thì ông V yêu cầu lấy giá trị bằng tiền tương đương diện tích đất là không có căn cứ.

    10. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông V chỉ có thửa đất 6375 với diện tích 724m², đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V, ngoài ra không còn diện tích nào khác nên xác định phần đất tách lại cho ông V nằm trong diện tích 724m² là chưa phù hợp vì diện tích đo đạc thực tế của thửa đất 6375 là 1.125 m². Do đó, ông Q, bà R xác định phần đất tách lại cho ông V nằm ngoài diện tích 724m² là có căn cứ nên chấp nhận kháng cáo của ông Q, bà R.
  5. Đối với phần đất có diện tích 371m² bao gồm: vị trí khu A có diện tích 225m² (chiều ngang 3,2m x chiều dài 42,2m), vị trí khu A5 có diện tích 98m², A6 có diện tích 48m² theo Mảnh trích đo ngày 16/01/2024, ông V không có chuyển nhượng cho ông Q nhưng hiện nay ông Q đứng tên luôn phần đất này.

    Tại phần quyết định của bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét phần đất còn lại của thửa 6375 là không đảm bảo việc thi hành án, phần còn lại không đủ diện tích tối thiểu do chiều ngang chỉ có 3,2m.

    Tại phiên tòa phúc thẩm, phía ông Q, bà R cũng thống nhất không có nhận chuyển nhượng đối với phần đất này, xác định phần đất này thuộc quyền sử dụng đất của ông V, là phần đất ông Q tách lại cho ông V. Tuy nhiên thửa đất 6375 là đất ONT, chiều ngang phía giáp lối đi chỉ có 3,2 m không đủ diện tích tối thiểu nên phía ông Q, bà R đồng ý cắt cho ông V một phần đất cho đủ diện tích tối thiểu theo Quyết định 49/2024/QĐ-UBND của UBND tỉnh L ngày 25/10/2024 là có lợi cho ông V, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông Q, bà R.

    Theo bản vẽ phân khu ngày 13/3/2025 của Công ty TNHH Đ thì phần đất còn lại của thửa đất 6375 thuộc quyền sử dụng của ông V gồm khu A có diện tích 247m², vị trí khu A5 có diện tích 98m², A6 có diện tích 48m², có tổng diện tích 393m².

    Phần còn lại của thửa đất 6375 thuộc quyền sử dụng của ông Q, bà R theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V và ông Q gồm khu A1 có diện tích 171m², vị trí khu A 2 có diện tích 17m², A3 có diện tích 34m² và khu A có diện tích 481m², có tổng diện tích 703m².

  6. Đối với khu A7 có diện tích 29m² hiện trạng là lối đi (đường đan), các đương sự thống nhất là lối đi không ai tranh chấp.
  7. Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của ông Phan Thành Q, bà So Phi R có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Q, bà R.
  8. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  9. Về chi phí đo đạc, định giá và thẩm định với số tiền 35.000.000 đồng: Ông V đã nộp tạm ứng 15.000.000 đồng, ông Phan Thành Q đã nộp tạm ứng 20.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của ông V không được chấp nhận nên phải chịu toàn bộ, ông V có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Q số tiền 20.000.000 đồng.
  10. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng do yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận.

    Ông Phan Thành Q, bà So Phi R không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu phản tố được chấp nhận.

  11. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Phan Thành Q, bà So Phi R được chấp nhận nên không phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 289, khoản 2, 5 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Thành Q, bà So Phi R.

Chấp nhận việc rút lại toàn bộ Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị số 09/QĐ-VKS-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 157/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 158 và Điều 166 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166, Điều 170 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 26 của Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hùng V đối với ông Phan Thành Q, bà So Phi R về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, đối với yêu cầu sau:
  2. Buộc vợ, chồng ông Phan Thành Q và bà So Phi R phải trả lại cho ông V diện tích đất 210m², thuộc một phần thửa đất số 6375, tờ bản đồ số 03, loại đất ONT, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Nếu diện tích không đủ tách thửa theo quy định của pháp luật thì ông V yêu cầu lấy giá trị bằng tiền tương đương diện tích đất.

  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Thành Q, bà So Phi R.
    1. Ông Phan Thành Q, bà So Phi R được quyền sử dụng phần đất có diện tích 703m², thuộc một phần thửa đất số 6375, tờ bản đồ số 03, loại đất ONT, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An và được quyền sở hữu tài sản có trên đất (bao gồm vị trí khu A1, A2, A3 và A4).
    2. Buộc ông Nguyễn Hùng V, bà Nguyễn Thị Quế M, chị Nguyễn Thị Kim N và chị Nguyễn Thị T2 phải trả nhà và toàn bộ diện tích đất 703m², tại vị trí khu A1, A2, A3 và A4, thuộc 01 phần thửa đất số 6375, tờ bản đồ số 03, loại đất ONT, tọa lạc tại ấp Ấ, xã P, huyện C, tỉnh Long An cho ông Phan Thành Q và bà So Phi R.
    3. Vị trí, diện tích phần đất 703m² tại vị trí khu A1, A2, A3 và A4 theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 001-2025 (bản vẽ phân khu) do Công ty TNHH Đ2 lập ngày 13/3/2025 dựa trên Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 318-2024, do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 11 tháng 01 năm 2024, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16 tháng 01 năm 2024.
  4. Ông Nguyễn Hùng V được quyền sử dụng phần đất có diện tích 393m², thuộc một phần thửa đất số 6375, tờ bản đồ số 03, loại đất ONT, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  5. Phần đất 393m² gồm vị trí khu A có diện tích 247m², khu A5 có diện tích 98m² và khu A6 có diện tích 48m² theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 001-2025 (bản vẽ phân khu) do Công ty TNHH Đ2 lập ngày 13/3/2025 dựa trên Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 318-2024, do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 11 tháng 01 năm 2024, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 16 tháng 01 năm 2024.

    Ông Nguyễn Hùng V được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với phần đất trên.

  6. Các đương có quyền, nghĩa vụ liên hệ các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để lập thủ tục kê khai, đăng ký, điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
  7. Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường, Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

  8. Về chi phí đo đạc, định giá và thẩm định với số tiền 35.000.000 đồng. Ông V phải chịu toàn bộ. Ông Phan Thành Q đã tạm nộp 20.000.000 đồng. Ông Nguyễn Hùng V có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Phan Thành Q số tiền 20.000.000 đồng.
  9. Chi phí phân khu bản vẽ tại cấp phúc thẩm: 3.000.000 đồng, ông V phải chịu (đã nộp xong).
  10. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  11. Ông Nguyễn Hùng V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền 10.400.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0002492 ngày 10 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Hùng V số tiền 10.100.000 đồng.

    Hoàn trả lại cho ông Phan Thành Q, bà So Phi R số tiền 30.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008094 ngày 02 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

  12. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  13. Ông Phan Thành Q, bà So Phi R không phải chịu án phí án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Q, bà R số tiền tạm ứng án phí mỗi người đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013423 ngày 08/10/2024 và 0013509 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

  14. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  15. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Cần Giuộc;
  • - Chi cục THADS huyện Cần Giuộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 244/2025/DS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 244/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger