TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 244/2024/DS - ST Ngày 19 - 8 - 2024 V/v Tranh chấp hụi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hà Thanh Khiết |
| Các Hội thẩm nhân dân. | Ông Hồ Quang Minh |
| Ông Bùi Xuân Minh | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Đoàn Thúy Vân - Thư ký Tòa án |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: | Bà Võ Hồng Luyến – Kiểm sát viên. |
Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2024/TLST- DS ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 282/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Ánh T - Sinh năm 1965 (Có mặt)
Cư trú tại: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Bà Lê Thị L – sinh năm 1971(Vắng mặt)
Ông Nguyễn Văn T1 – sinh năm 1966 (Vắng mặt)
Cư trú tại: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 12 năm 2023 thể hiện và tại phiên tòa bà Phan Ánh T trình bày:
Vào ngày 15/4/2023 âm lịch bà có làm chủ dây hụi tuần 500.000 đồng, gồm 34 chưng, 01 tuần khui 01 lần. Bà L và ông T1 có tham gia 02 chưng hụi, bà L và ông T1 đã đóng hụi sống được 04 lần đến lần thứ 05 thì hốt một chưng còn lại 01 chưng đóng đến lần thứ 13 thì hốt chưng thứ hai, khi hốt hết 02 chưng hụi bà L và ông T1 còn phải đóng hụi chết lại 21 lần, bà L và ông T1 chỉ đóng được 07 lần còn lại 14 lần là 14.000.000 đồng đến nay chưa đóng, nhiều lần đòi tiền hụi chết thì bà L và ôngTú cứ hứa lần lượt không trả nợ.
Bị đơn là bà Lê Thị L trình bày:
Bà L thừa nhận lời trình bày của bà T về việc có tham gia chơi hụi do bà T làm chủ hụi. Tính đến ngày 26/10/2023 âm lịch đến nay bà không tiếp tục đóng hụi cho bà T, hiện tại bà còn 02 chưng hụi chết (hụi 500.000 đồng/tuần) với 07 lần hụi chết tổng số tiền nợ là 7.000.000 đồng. Bà chỉ thống nhất trả số tiền nợ hụi còn lại là 7.000.000 đồng nhưng hiện tại do khó khăn nên chưa có tiền trả nợ. Việc chơi hụi của bà thì chồng bà là ông T1 không có tham gia và không biết gì về việc chơi hụi. Nay bà chỉ đồng ý trả cho bà T toàn bộ số tiền nợ là 7.000.000 đồng.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời xác định Thẩm phán - Chủ tọa và Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, còn phía bị đơn thực hiện không đúng quy định của pháp luật. Cụ thể là nghĩa vụ có mặt tại các phiên giải quyết vụ án của Tòa án.
Đối với ông Nguyễn Văn T1 tại phiên tòa bà Phan Ánh T xác định ông T1 làm nghề biển nên không có thực hiện việc đóng hụi và khui hụi mà chỉ có bà L trực tiếp tham gia chơi hụi và đóng hụi. Điều này phù hợp với lời trình bày của bà Lê Thị L. Do đó không có cơ sở buộc ông T1 phải có trách nhiệm liên đới cùng với bà Lê Thị L trả nợ hụi cho bà T.
Về nội dung đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn đối với bị đơn là bà Lê Thị L. Buộc bà Lê Thị L trả cho bà Phan Ánh T số tiền hụi còn nợ là 14.000.000 đồng.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp Hụi quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015. Tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với bà Lê Thị L và ông Nguyễn Văn T1 đã được triệu tập để xét xử hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Qua xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, nhận định của Hội đồng xét xử về nội dung tranh chấp của vụ án như sau:
2
Tại các phiên hòa giải tại Tòa án bà Lê Thị L thừa nhận có chơi hụi do bà Phan Ánh T làm chủ và còn nợ hụi chưa đóng cho bà T với số tiền còn nợ là 7.000.000 đồng.
Đây là những tình tiết không cần phải chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Mặc dù bà Lê Thị L và ông Nguyễn Văn T1 đã được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định xét xử và giấy triệu tập đương sự, nhưng ông Nguyễn Văn T1 vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phan Ánh T để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Đối với bà Lê Thị L có đến Tòa án tham gia hòa giải, nhưng không thống nhất số tiền còn nợ theo yêu cầu của Nguyên đơn. Do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập các đương sự đến Tòa án để tham gia phiên tòa, nhưng bà L và ông T1 vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do chính đáng. Do đó bà L và ông T1 phải chịu hậu quả pháp lý cho việc vắng mặt của mình tại các phiên giải quyết vụ án của Tòa án.
Tại hồ sơ thể hiện bà T có nộp các tài liệu chứng minh cho việc theo dõi hụi viên đóng hụi từng kỳ là 01 quyển vở có 36 trang vở có ghi tên hụi viên và ai đã đóng rồi, ai chưa đóng (Tòa án đã phô tô lại và đối chiếu với bản chính). Trong các tài liệu do bà T cung cấp có tên bị đơn là bà L và các hụi viên khác. Tại các tài liệu này thể hiện bà L không đóng hụi chết đối với 02 chân hụi vào ngày 16 tháng 8 năm 2023 âm lịch cho đến ngày mãn hụi tổng cộng là 15 lần. Tuy nhiên bà T xác định bà L đã trả được 01 lần vào ngày 07 tháng 9 năm 2023 âm lịch nên còn nợ lại 14 lần hụi chết là 14.000.000 đồng. Điều này cho thấy lời trình bày của bà T về việc bà L còn nợ 14 lần hụi chết là có cơ sở.
Đối với việc bà L cho rằng bà chỉ còn nợ 07 lần hụi chết là 7.000.000 đồng, nhưng bà L không có bất cứ tài liệu nào chứng minh cho lời trình bày của mình là đúng mà chỉ có lời trình bày của bà L tại các phiên hòa giải. Do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận lơi trình bày của bà L về việc bà L còn thiếu bà T 07 lần hụi chết là 7.000.000 đồng.
Từ những cơ sở như đã phân tích nêu trên hết hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T2 tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Ánh T đối với bà Lê Thị L. Buộc bà Lê Thị L phải trả cho bà Phan Ánh T số tiền hụi còn nợ là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).
Đối với số tiền nêu trên, kể từ ngày bà Phan Ánh T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Lê Thị L không thi hành xong thì bà Lê Thị L còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3
[4] Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể như sau:
Bà Phan Ánh T được nhận lại 350.000 tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004420 ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.
Buộc bà Lê Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các điều 26, 35, 39, 147, 227, 266, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Các điều 357, 471, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phan Ánh T đối với bà Lê Thị L. Buộc bà Lê Thị L phải trả cho bà Phan Ánh T số tiền hụi còn nợ là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).
Đối với số tiền nêu trên, kể từ ngày bà Phan Ánh T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Lê Thị L không thi hành xong thì bà Lê Thị L còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí: Buộc bà Lê Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà Phan Ánh T được nhận lại 350.000 tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004420 ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
4
30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai bà Phan Ánh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Lê Thị L và ông Nguyễn Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp pháp theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Khiết |
5
Bản án số 244/2024/DS - ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 244/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phan Ánh Tuyết đối với bà Lê Thị Lựu. Buộc bà Lê Thị Lựu phải trả cho bà Phan Ánh Tuyết số tiền hụi còn nợ là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng). Đối với số tiền nêu trên, kể từ ngày bà Phan Ánh Tuyết có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Lê Thị Lựu không thi hành xong thì bà Lê Thị Lựu còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
