Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 244/2023/HS-PT

Ngày: 28-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Bảo.
Các Thẩm phán: Ông Đinh Tấn Long;
Ông Nguyễn Hữu Thịnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ly Ly - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 199/2023/HS-PT ngày 04 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Mai Trọng H cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2023/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Mai Trọng H, sinh ngày 20/4/1994, tại: huyện T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn L, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T và bà Nguyễn Thị Mỹ L; chưa có vợ, con; tiền án: ngày 22/10/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 10/8/2021; tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 07/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
  2. Nguyễn Minh T1, sinh ngày 10/12/1993, tại: huyện T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn P, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: thợ đá hoa cương; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị H1; có vợ (nhưng đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 11/7/2013, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây mất trật tự ở khu dân cư”; ngày 11/4/2018, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép”; bị tạm giữ ngày 25/12/2022 đến ngày 03/01/2023 chuyển sang tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
  3. Lê Minh T2, sinh ngày 20/6/1995, tại: huyện T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn P, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: thợ đá hoa cương; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê S và bà Phan Thị K; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 24/5/2019, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe người khác”; bị tạm giữ ngày 25/12/2022 đến ngày 03/01/2023 chuyển sang tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn H2 không có kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 08 giờ 40 phút ngày 25/12/2022, tại tuyến đường T thuộc Tổ D, thôn Q, xã B, huyện T, lực lượng Công an xã B phối hợp với Công an huyện T phát hiện Lê Minh T2 điều khiển xe môtô BKS 92H1-658.70 chở theo Nguyễn Minh T1 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện Nguyễn Minh T1 đang cầm trên tay 01 ống nhựa không màu được hàn kín bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá. Cơ quan Công an huyện đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Minh T1, Lê Minh T2, đồng thời tiến hành thu giữ ống nhựa trên và các đồ vật có liên quan.

Qua làm việc, các đối tượng khai nhận: khoảng 10 giờ ngày 24/12/2022, Nguyễn Minh T1 sử dụng số thuê bao 0374.756.529 gọi đến số thuê bao 0396.260.142 của Lê Minh T2, rủ T2 góp mỗi người 150.000 đồng để mua ma túy sử dụng thì T2 đồng ý. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T1 gọi điện cho Mai Trọng H hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì H đồng ý. Sau đó, T1 điều khiển xe môtô đến phòng trọ của Mai Trọng H tại Tổ C, thôn L, xã B, huyện T để lấy ma túy và đưa cho H 300.000 đồng. Sau khi mua xong, T1 giữ gói ma túy trong người. Đến sáng ngày 25/12/2022, T2 điều khiển xe môtô BKS 92H1-658.70 chở T1 xuống thị trấn H để uống Methadone. Trên đường đi T1 có nói với T2 đã mua ma túy và cất giữ trong người. Sau đó, T1 và T2 đi từ thị trấn H về đến Tổ D, thôn Q, xã B, huyện T thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

Quá trình điều tra xác định được: Mai Trọng H bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2013, loại Methamphetamine. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12/2022 đến đầu tháng 01/2023, Mai Trọng H nhiều lần mua ma túy đá của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại thị xã Đ với số tiền mỗi lần là 1.100.000 đồng về để sử dụng và bán lại cho các đối tượng có nhu cầu. H dùng số điện thoại 0914.921.xxx hoặc Zalo liên lạc với các con nghiện để bán ma túy tại khu vực gần phòng trọ của mình. Cụ thể, Mai Trọng H đã nhiều lần bán ma túy như sau:

- Bán cho Nguyễn Minh T1: ngoài lần bán ma túy cho T1 như trên, Mai Trọng H đã bán ma túy cho T1 02 lần khác:

  • + Lần 1: vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 22/12/2022, Nguyễn Minh T1 gọi điện thoại cho Mai Trọng H hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì H đồng ý và hẹn đến nhà trọ của H để giao ma túy. Sau đó, T1 đến nhà trọ của H và đưa cho H 300.000 đồng, H đưa cho T1 một gói ma túy, T1 đem về sử dụng hết.
  • + Lần 2: vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/12/2022, Nguyễn Minh T1 và Lê Minh T2 góp mỗi người 150.000 đồng để mua ma túy, T1 gọi điện thoại cho Mai Trọng H hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì H đồng ý và hẹn đến nhà trọ của H để giao ma túy. Sau đó, T1 chở Lê Minh T2 đến trước nhà trọ của H rồi T1 đi vào trong nhà trọ một mình, còn T2 đứng đợi phía trước. T1 gặp H thì đưa cho H 300.000 đồng, H đưa cho T1 một gói ma túy. T1 và T2 đem gói ma túy về chia nhau sử dụng hết.

- Bán cho Nguyễn Nhật T3 05 lần:

  • + Lần 1: vào khoảng cuối tháng 12/2022, Mai Trọng H gọi điện thoại cho Nguyễn Nhật T3 hỏi T3 có mua ma túy không, vì trước đó T3 đã gọi điện thoại hỏi mua ma túy của H, thì T3 đồng ý. Sau đó, T3 cùng Trần Quốc B (sinh năm 1994, trú: thôn V, xã B, huyện T) góp mỗi người 200.000 đồng rồi đến nhà trọ của H. Lúc này, H nhờ Nguyễn Văn H2 (sinh năm 2004, trú: thôn L, xã B, huyện T) ra trước nhà trọ lấy 400.000 đồng giúp H (H2 không biết đó là tiền mua ma túy). H bỏ gói ma túy đá vào trong vỏ bao thuốc lá rồi đi ra trước gặp T3. H vứt bao thuốc lá đựng ma túy xuống đất để T3 nhặt lấy. Sau đó, T3 và B lấy gói ma túy về chia nhau ra sử dụng hết.
  • + Lần 2 và lần 3: vào chiều ngày 02/01/2023 và chiều ngày 03/01/2023, Nguyễn Nhật T3 gọi điện thoại cho Mai Trọng H hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì H đồng ý và hẹn đến nhà trọ của H tại Tổ C, thôn L, xã B để giao ma túy. Sau đó, trong cả 02 lần T3 và B đều góp mỗi người 150.000 đồng rồi đi đến nhà trọ của H để đưa tiền cho H rồi lấy ma túy đem về chia ra sử dụng hết.
  • + Lần 4: vào sáng ngày 04/01/2023, Nguyễn Nhật T3 gọi điện thoại cho Mai Trọng H hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì H đồng ý và hẹn Trường đến sau Bệnh viện Đ, xã B để lấy. T3 cùng Nguyễn Song H3 (sinh năm 1997, trú: thôn C, xã B, huyện T) góp mỗi người 150.000 đồng để mua ma túy sử dụng. Khi T3 và H3 đến địa điểm trên thì gọi điện lại cho H. H nói với T3 sẽ nhờ Nguyễn Văn H2 (sinh năm 2004; trú: thôn L, xã B, huyện T) đến giao ma túy và gửi số điện thoại của H2 là 0762.783.278 cho T3. T3 liên lạc với H2 nói đã đến nơi. Sau đó, H bỏ gói ma túy đá vào trong gói thuốc lá hiệu White H4 đưa cho H2 đem ra bán cho T3. Nguyễn Văn H2 điều khiển xe môtô tô BKS 92G1-258.80 đến giao ma túy cho T3 rồi lấy số tiền 300.000 đồng về đưa cho H. T3 và H3 đem gói ma túy về chia nhau sử dụng hết.
  • + Lần 5: vào tối ngày 05/01/2023, Nguyễn Nhật T3 gọi điện thoại cho Mai Trọng H và hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá thì H đồng ý và hẹn đến trước nhà trọ của H để giao ma túy. Khoảng 30 phút sau, T3 cùng Nguyễn Song H3 góp mỗi người 250.000 đồng. T3 đến nhà trọ gặp H đưa cho H 448.000 đồng, H đưa cho T3 một gói ma túy. T3 và H3 đem gói ma túy về chia nhau sử dụng hết.

Như vậy, Mai Trọng H đã 08 lần bán ma túy cho Nguyễn Minh T1, Nguyễn Nhật T3 với tổng số tiền là 2.648.000 đồng, trong đó, Nguyễn Minh H5 giúp Mai Trọng H giao ma túy 01 lần vào ngày 04/01/2023 cho Nguyễn Nhật T3.

Tại Bản kết luận giám định số 187/KL-KTHS (MT) ngày 30/12/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Q xác định mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng gửi giám định (mẫu kí hiệu A) là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu kí hiệu A có khối lượng là 0,127gam. H6 lại đối tượng giám định: 0,046 gam mẫu ký hiệu A và toàn bộ bao gói mẫu vật sau giám định. Tất cả các đối tượng hoàn lại trong bì niêm phong số 187/PC09.

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Tuyên bố: bị cáo Mai Trọng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Minh T1 và Lê Minh T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Mai Trọng H 08 (T4) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/3/2023.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/12/2022.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Minh T2 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/12/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 31/8/2023, các bị cáo Mai Trọng H, Nguyễn Minh T1, Lê Minh T2 có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Mai Trọng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và các bị cáo Nguyễn Minh T1, Lê Minh T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét nhân thân, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo H 08 năm 06 tháng tù, các bị cáo T1, T2 mỗi bị cáo 02 năm 06 tháng tù là phù hợp và không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo H, T1 không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới; bị cáo T2 có đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn, đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nhưng không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Các bị cáo Mai Trọng H, Nguyễn Minh T1, Lê Minh T2 không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Mai Trọng H, Nguyễn Minh T1, Lê Minh T2 có đơn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của các bị cáo là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Mai Trọng H, Nguyễn Minh T1, Lê Minh T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.

[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: khoảng 08 giờ 40 phút ngày 25/12/2022, tại tuyến đường T thuộc Tổ D, thôn Q, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam, lực lượng Công an xã B phối hợp với Công an huyện T bắt quả tang Nguyễn Minh T1 và Lê Minh T2 đang cất giữ 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,127 gam, mục đích để chuẩn bị sử dụng. Số ma tuý này T1 và T2 góp tiền mua của Mai Trọng H. Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12/2022 đến đầu tháng 01/2023, với mục đích kiếm tiền tiêu xài và có ma tuý để sử dụng, bị cáo Mai Trọng H đã mua ma túy của người đàn ông (không rõ lai lịch) ở thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam rồi phân chia ra nhiều gói nhỏ và đã bán trái phép cho Nguyễn Minh T1 03 lần, bán cho Nguyễn Nhật T3 05 lần, số tiền bị cáo H thu được từ việc bán ma túy là 2.648.000 đồng. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Mai Trọng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251, các bị cáo Nguyễn Minh T1 và Lê Minh T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Mai Trọng H, Nguyễn Minh T1 và Lê Minh T2, thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra; đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, riêng các bị cáo Nguyễn Minh T1, Lê Minh T2 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo Mai Trọng H bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, để làm căn cứ xử phạt bị cáo Mai Trọng H 08 năm 06 tháng tù, các bị cáo Nguyễn Minh T1, Lê Minh T2 mỗi bị cáo 02 năm 06 tháng tù là có căn cứ pháp luật và không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Mai Trọng H, Nguyễn Minh T1 không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới; gia đình bị cáo Lê Minh T2 có nộp đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn và nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét thấy hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Mai Trọng H, Nguyễn Minh T1, Lê Minh T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Mai Trọng H, Nguyễn Minh T1, Lê Minh T2, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2023/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam về hình phạt.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Mai Trọng H 08 (T4) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 07/3/2023.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 25/12/2022.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Minh T2 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 25/12/2022.

Các bị cáo Mai Trọng H, Nguyễn Minh T1, Lê Minh T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (28/11/2023).

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - CQTHAHS CA huyện Thăng Bình;
  • - CQCSĐT CA huyện Thăng Bình;
  • - VKSND huyện Thăng Bình;
  • - TAND huyện Thăng Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thăng Bình;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Q.Nam;
  • - Phòng HSNV Sở Tư pháp Q.Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Quốc Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 244/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về hình sự về tội phạm ma túy

  • Số bản án: 244/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội phạm ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Mai Trọng H 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger