|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 243/2024/HS-ST Ngày: 30-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Phòng
- Ông Mai Thanh Giàu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Huỳnh Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 250/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Văn N, sinh ngày: 09/12/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Hộ khẩu thường trú: Số A đường N, Tổ A, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: không; con Lê Văn C, sinh năm: 1965 và bà Trần Liêng Thanh P, sinh năm: 1968; gia đình bị cáo có 02 anh em; vợ tên Lê Thị Kim H (đã ly hôn); con Lê Nam D, sinh năm 2017 và Lê Khánh V, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị đưa vào cơ sở cai nghiện, thời hạn 24 tháng theo Quyết định áp dụng đưa vào cơ sở chữa bệnh số 95/QĐ-UNBD ngày 06/5/2013 của Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh đưa Lê Văn N; bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/11/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Huỳnh C1, địa chỉ: B B, khu phố Ô, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 17/11/2023, Tổ tuần tra 363 Công an thành phố Thủ Đức tuần tra đến trước khu vực Ngã ba đường B và đường N thuộc phường T, thành phố T thì phát hiện Lê Văn N điều khiển xe mô tô biển số 59S2 – 928.20 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi phía trước, bên phải của áo mà Lê Văn N đang mặc có 01 (một) vỏ gói thuốc lá hiệu “JET” bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu. Nghi vấn gói nylon là ma túy nên Tổ tuần tra 363 Công an thành phố Thủ Đức tiến hành đưa N cùng vật chứng về trụ sở Công an phường T, thành phố T để xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Lê Văn N khai nhận Nam nghiện ma túy đá từ năm 2012. N mua ma túy của người đàn ông tên H1 (không rõ lai lịch, là người đi cai nghiện ma túy chung với N tại tỉnh Lâm Đồng). Lần gần nhất vào ngày 16/11/2023, N điều khiển xe quanh khu vực đường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (không nhớ địa chỉ cụ thể) để tìm H1 mua ma túy với giá 700.000 đồng về sử dụng cho bản thân. N đã sử dụng số ma túy trên một lần tại gầm cầu vượt ở đường T (không rõ địa chỉ), phường L, thành phố T, ma túy còn lại chưa sử dụng hết N bỏ vào vỏ gói thuốc lá hiệu “JET”, cất trong túi áo của N. Đến ngày 17/11/2023, Nam mặc áo đi công việc thì bị Tổ tuần tra 363 Công an thành phố T kiểm tra bắt, giữ và đưa N cùng vật chứng về trụ sở Công an phường T, thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Kết luận giám định số 13000/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu trong gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn N và hình dấu của Công an phường trường T, thành phố T là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9634g (không phẩy chín sáu ba bốn gam), loại Methamphetamine (Bút lục: 17).
Vật chứng vụ án:
- - 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 2527 (13000) có chữ ký của GĐV Trịnh Hải T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.
- - 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của Lê Văn N.
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Lead, biển số 59S2- 928.20 thu giữ của N.
Qua xác minh, xe mô tô hiệu Honda Lead, biển số 59S2 – 928.20 do chị Nguyễn Thị Huỳnh C1 (Sinh năm 1978; Nơi thường trú: D đường Đ, Phường A, quận B, thành phố T) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 17/11/2023, chị C1 cho bạn là Lê Văn N mượn xe mô tô trên để đi công việc. Chị C1 không biết việc N tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Thị Huỳnh C1.
Cáo trạng số 248/CT-VKSTPTĐ ngày 08/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 2527 (13000) có chữ ký của GĐV Trịnh Hải T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung cho bị cáo do không sử dụng vào việc phạm tội; 01 xe mô tô hiệu Honda Lead, biển số 59S2 -928.20 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý xong; bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn N phù hợp với nội dung: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 17/11/2023 của Công an phường T, thành phố T; Kết luận giám định số 13000/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 17/11/2023, trước khu vực Ngã ba đường B và đường N thuộc phường T, thành phố T Lê Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,9634 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của Lê Văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Lê Văn N là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, không chỉ gây tổn hại đến sức khoẻ và tinh thần của người sử dụng mà còn làm phá sản về kinh tế của gia đình người nghiện và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Lê Văn N thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy, bài trừ tệ nạn sử dụng lậu và lạm dụng chất ma túy, mà còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người xung quanh. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2013 đã từng đi cai nghiện ma túy nay lại có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Đối với người đàn ông tên H1 (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Lê Văn N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:
- - 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 2527 (13000) có chữ ký của GĐV Trịnh Hải T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định. Đây là chất ma tuý mà Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu, tiêu hủy;
- - 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo N.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 179/QĐ-VKS ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
- 01 xe mô tô hiệu Honda Lead, biển số 59S2 – 928.20, thu giữ của bị cáo. Qua xác minh, xe mô tô hiệu Honda Lead, biển số 59S2 – 928.20 do chị Nguyễn Thị Huỳnh C1 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 17/11/2023, chị C1 cho bạn là Lê Văn N mượn xe mô tô trên để đi công việc. Chị C1 không biết việc N tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Thị Huỳnh C1 là có căn cứ. (Bút lục: 28; 29).
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
-
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lê Văn N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2023.
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 2527 (13000) có chữ ký của GĐV Trịnh Hải T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.
- - Trả lại cho bị cáo Lê Văn N 01 điện thoại di động hiệu S.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 179/QĐ-VKS ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
-
Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Văn N phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nguyệt |
Bản án số 243/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 243/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 02 năm tù
