Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 243/2024/HS-ST

Ngày 26-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Trịnh Văn Lực;

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà:

Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 249/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành L, sinh năm 2002, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thường

trú: ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: số B, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1972 và bà Bùi Thị X, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/5/2024 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Duy L1, sinh năm 1998. Thường trú: ấp D, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  2. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998. Thường trú: số C, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  3. Ông Lê Thanh T, sinh năm 1993. Thường trú: số A, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thành L làm nghề mua bán xe máy cũ trên địa bàn thành phố D, tỉnh Bình Dương có quen biết với anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H cùng làm nghề mua bán xe máy cũ. Khoảng tháng 8/2023, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy L1 có nhu cầu vay tiền để tổ chức đám cưới vào tháng 11/2023 nên có hỏi Nguyễn Thành L vay tiền. Do vậy, chị H có sử dụng tài khoản Facebook của mình tên “Nguyễn H” để nhắn tin Messenger đến tài khoản Facebook của Nguyễn Thành L tên “Thành Lộc” để thỏa thuận vay tiền. Ngoài ra, việc thỏa thuận vay tiền cũng được thực hiện qua ứng dụng Z, chị H sử dụng tài khoản Zalo tên “Nghanh” đăng ký bằng số điện thoại 0799.787.xxx nhắn tin với Nguyễn Thành L sử dụng tài khoản Zalo tên “Nguyễn Thành L” đăng ký bằng số điện thoại 0336.871.xxx. Sau khi thỏa thuận với nhau vào ngày 03/8/2023, chị H đồng ý và bắt đầu vay tiền của L các khoản vay như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 03/8/2023, Nguyễn Thành L đưa tiền mặt 30.000.000 đồng cho chị H tại siêu thị B thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dường. Đối với khoản vay này hình thức vay đứng, đóng lãi theo tháng, mỗi tháng chị H phải đóng tiền lãi đứng là 4.500.000 đồng (tương ứng với lãi suất 15%/tháng, 180%/năm) cho đến thời điểm trả hết tiền gốc. Anh L2 và chị H đã đóng tiền lãi cho Nguyễn Thành L cụ thể như sau: ngày 05/9/2023, anh L2 sử dụng tài khoản số: 0899997861, tên N, Ngân hàng M chuyển đến tài khoản số: 1013781099, tên NGUYEN THANH LOC, Ngân hàng V1 của L số tiền 4.500.000 đồng; ngày 04/10/2023 đóng 3.000.000 đồng, ngày 06/10/2023 đóng tiếp 1.500.000 đồng chuyển từ tài khoản Nguyễn Duy L1; ngày 30/10/2023 đóng lãi 2.000.000 đồng (tài khoản số: 1168797979, tên NGUYEN THI HANH, Ngân hàng T1), ngày 06/11/2023 đóng 2.500.000 đồng từ tài khoản Nguyễn Duy L1; ngày 08/12/2023 đóng lãi 4.500.000 đồng từ tài khoản Nguyễn Thị H. Khoản vay này đã đóng tiền lãi được 4 tháng với tổng số tiền lãi là 18.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự tiền lãi suất cho phép là 20%/năm (1,67%/tháng) thì trong 04 tháng tiền lãi cho phép là 2.004.000 đồng. Tuy nhiên, Nguyễn Thành Lộc L đã lấy tiền lãi 18.000.000 đồng nên tiền thu lợi bất chính mà Nguyền Thành L3 đã nhận của anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H đối với khoản vay này: 15.996.000 đồng.

Ngày 16/8/2023, Nguyễn Thành L cho chị Nguyễn Thị H vay số tiền 10.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị H là người vay và nhận tiền chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thành L, hình thức vay đứng, lãi suất tiền lãi đứng 15%/tháng (180%/năm), tương ứng 1.500.000 đồng. Khoản vay này anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H đã đóng lãi cụ thể như sau: ngày 20/9/2023 đóng 1.000.000 đồng, ngày 21/9/2023 đóng 500.000 đồng; ngày 19/10/2023 đóng 1.500.000 đồng cả 02 lần này đều được chị H sử dụng tài khoản số: 1168797979, tên NGUYEN THI HANH, Ngân hàng T1 chuyển cho Nguyễn Thành L; ngày 17/11/2023 chị Nguyễn Thị H sử dụng tài khoản số: 9469891, tên NGUYEN THI HANH, Ngân hàng A đóng 1.500.000 đồng; ngày 16/12/2023 đóng 1.500.000 đồng từ tài khoản số: 1168797979, tên NGUYEN THI HANH, Ngân hàng T1. Đối với khoản vay này đã đóng tiền lãi được 4 tháng với tổng số tiền 6.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự tiền lãi suất cho phép là 20%/năm (1,67%/tháng) thì trong 04 tháng tiền lãi cho phép là 668.000 đồng nhưng Nguyễn L đã lấy tiền lãi 6.000.000 đồng. Như vậy, tiền thu lợi bất chính mà Nguyễn Thành L đã nhận của anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H đối với khoản vay này: 5.332.000 đồng. Tuy nhiên, khoản vay này Nguyễn Thành L không có tiền nên đã nói với Lê Thanh T (là bạn, cùng mua bán xe máy cũ với L) về việc chị H đang có nhu cầu vay số tiền 10.000.000 đồng thì T đồng ý đưa tiền cho Nguyễn Thành L để cho chị H vay, lãi suất là 15%/tháng. Nguyễn Thành L là người trực tiếp giao dịch với chị Nguyễn Thị H, khoản lãi này Nguyễn Thành L đều đưa tiền mặt lại cho Lê Thanh T số tiền là 6.000.000 đồng.

Ngày 07/9/2023, Nguyễn Thành L sử dụng tài khoản số: 1013781099, tên NGUYEN THANH LỌC, Ngân hàng V1 chuyển đến tài khoản số: 1168797979, tên NGUYEN THI HANH, Ngân hàng T1 của chị H số tiền 9.500.000 đồng, có thỏa thuận trước chị H tự nguyện cho L 500.000 đồng (không phải tiền dịch vụ). Như vậy, số tiền vay là 10.000.000 đồng, hình thức vay đứng, lãi suất tiền lãi đứng 15%/tháng (180%/năm), tương ứng 1.500.000 đồng. Khoản vay này anh L1 và chị H đã đóng tiền lãi cụ thể như sau: ngày 09/10/2023, anh L1 sử dụng tài khoản số: 0899997861, tên N, Ngân hàng M chuyển khoản đến tài khoản của Nguyễn Thành L số tiền 1.500.000 đồng; ngày 08/11/2023, chị H sử dụng tài khoản số: 1168797979, tên NGUYEN THI HANH, Ngân hàng T1 chuyển đến tài khoản của L số tiền 1.500.000 đồng; ngày 11/12/2023, chị H sử dụng tài khoản số: 1168797979, tên NGUYEN THI HANH, Ngân hàng T1 chuyển đến tài khoản của Nguyễn Thành L số tiền 1.500.000 đồng. Đối với khoản vay này đã đóng tiền lãi được 03 tháng là 4.500.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự tiền lãi suất cho phép là 20%/năm (1,67%/tháng) thì trong 03 tháng tiền lãi cho phép là 501.000 đồng. Tuy nhiên, Nguyễn Thành L đã lấy tiền lãi 4.500.000 đồng nên số tiền thu lợi bất chính mà Nguyễn Thành L đã nhận của anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H đối với khoản vay này: 3.999.000 đồng.

Ngày 14/11/2023, Nguyễn Thành L sử dụng sử dụng tài khoản số: 1013781099, tên NGUYEN THANH LOC, Ngân hàng V1 chuyển qua qua tài khoản số: 1168797979, tên N1, Ngân hàng T1 số tiền vay 30.000.000 đồng, hình thức vay đứng, lãi suất tiền lãi đứng 15%/tháng (180%/năm), tương ứng 4.500.000 đồng. Khoản vay này anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H đã đóng tiền lãi cụ thể như sau: ngày 16/12/2023, chị H sử dụng tài khoản số: 1168797979, tên NGUYEN THI HANH, Ngân hàng T1 chuyển khoản cho Nguyễn Thành L số tiền 4.500.000 đồng đóng lãi. Khoản vay này đã đóng tiền lãi được 01 tháng là 4.500.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự tiền lãi suất cho phép là 20%/năm (1,67%/tháng) thì trong 01 tháng tiền lãi cho phép là 501.000 đồng. Tuy nhiên, Nguyễn Thành L đã lấy tiền lãi 4.500.000 đồng nên tiền thu lợi bất chính mà bị cáo L đã nhận của anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H đối với khoản vay này: 3.999.000 đồng.

Sau các lần đóng tiền lãi trên cho Nguyễn Thành L thì anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H không có khả năng tiếp tục đóng tiền lãi nữa nên đã dừng lại việc đóng tiền lãi. Tổng số tiền gốc của 04 khoản vay trên mà anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H còn nợ của Nguyễn Thành L là 80.000.000 đồng. Đến ngày 25/02/2024, anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H thỏa thuận đối với khoản tiền gốc còn nợ tổng là 80.000.000 đồng thì phải đóng tiền lãi cho Nguyễn Thành L 1 tháng tiền lãi là 8.000.000 đồng (tương ứng lãi suất 10%/tháng). Ngày 25/02/2024, anh Nguyễn Duy L1 sử dụng tài khoản số: 0899997861, tên N, Ngân hàng M của mình để chuyển khoản đến tài khoản của Nguyễn Thành L số tiền 8.000.000 đồng tiền lãi của 01 tháng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự tiền lãi suất cho phép là 20%/năm (1,67%/tháng) thì trong 01 tháng tiền lãi cho phép đối với khoản tiền gốc 80.000.000 đồng là 1.336.000 đồng. Tuy nhiên, Nguyễn Thành L lại lấy tiền lãi 8.000.000 đồng nên tiền thu lợi bất chính mà Nguyễn Thành L đã nhận của anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H đối với khoản đóng lãi này: 6.664.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính mà Nguyễn Thành L đã có được từ hành vi thu tiền lãi đối với 04 khoản vay như trên là: 35.990.000 đồng. Từ ngày 25/3/2024 thì anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H xin không đóng tiền lãi nữa mà mỗi tháng sẽ trả dần tiền gốc cho Nguyễn Thành L, mỗi tháng 5.000.000 đồng, trả trong 16 tháng thì L đồng ý. Ngày 25/4/2024, ông Nguyễn Văn V (cha ruột của chị H) sử dụng tài khoản số: [...], tên NGUYEN VAN VAY, Ngân hàng A chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng đến tài khoản của Nguyễn Thành L để trả tiền nợ gốc dùm cho chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy L1. Do vậy, cho đến nay, anh L1 và chị H còn nợ Nguyễn Thành L số tiền 75.000.000 đồng.

Đối với hành vi của Lê Thanh T đưa số tiền 10.000.000 đồng cho Nguyễn Thành L để cho anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H vay tiền đối với khoản vay ngày 16/8/2023 (lãi suất vượt 9 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự), thu lợi bất chính 5.322.000 đồng. Tuy lãi suất vượt quá 5 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự nhưng tiền thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này nên hành vi của Lê Thanh T chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Công an thành phố D đã đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố D ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Thanh T về hành vi “Không đăng ký ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền nhưng lãi suất vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự” theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống, tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình với hình phạt chính là 15.000.000 đồng và biện pháp khắc phục hậu quả là trả lại cho chị Nguyễn Thị H số tiền thu lợi bất chính 5.322.000 đồng.

Mặc dù anh Nguyễn Duy L1 và Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn ngày 19/02/2024 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, anh L1 và chị H sinh sống với nhau như vợ chồng từ năm 2020 cho đến ngày 12/11/2023 thì tổ chức đám cưới. Quá trình bắt đầu vay tiền của Nguyễn Thành L từ ngày 03/8/2023, mặc dù chị H là người trực tiếp liên lạc, trao đổi, thỏa thuận với Nguyễn Thành L để vay tiền nhưng việc vay tiền, chị Nguyễn Thị H đều thống nhất với anh Nguyễn Duy L1, việc đóng tiền lãi anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H đều sử dụng tiền chung từ việc kinh doanh, mua bán xe máy cũ để đóng tiền lãi.

Tại Cáo trạng số 264/CT-VKS ngày 05 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L số tiền từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

  • - Đối với số tiền thu lợi bất chính của chị H và anh L1 số tiền 30.658.000 đồng (đã trừ tiền thu lợi bất chính 5.332.000 đồng mà Lê Thanh T đã nhận) đề nghị buộc bị cáo nộp lại để trả cho chị H và anh L1.
  • - Đối với số tiền gốc bị cáo đã cho chị H và anh L1 vay 75.000.000 đồng. Đây là số tiền bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần buộc chị H và anh L1 liên đới nộp lại để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với số tiền gốc 5.000.000 đồng do ông Nguyễn Văn V (trả dùm tiền gốc cho chị H và anh L1). Đây là số tiền bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị buộc bị cáo nộp lại để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 điện thoại Iphone màu đỏ số sê ri C6KC7EFHN72L tịch thu của bị cáo Nguyễn Thành L. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với sim số 0336.871.807 tịch thu của bị cáo Nguyễn Thành L. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy L1 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và trình bày ý kiến: Về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh T trình bày: Ông T không biết việc vay mượn tiền giữa bị cáo L với chị H và anh L1. Ngày 16/8/2023, ông Lê Thanh T đưa số tiền 10.000.000 đồng cho Nguyễn Thành L để cho anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H vay với lãi suất 15%/tháng và thu lợi bất chính 5.322.000 đồng. Ông T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 15.000.000 đồng và biện pháp khắc phục hậu quả là trả lại cho chị Nguyễn Thị H số tiền thu lợi bất chính 5.322.000 đồng.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Thành L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành L đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào các ngày 03/8/2023, 16/8/2023, 07/9/2023, 14/11/2023, bị cáo Nguyễn Thành L đã có hành vi cho chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy L1 vay số tiền 80.000.000 đồng với lãi suất từ 120 – 180%/năm (gấp từ 6 đến 9 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, thu lợi bất chính số tiền 35.990.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành L cho chị H và anh L1 vay tiền với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/năm) và thu lợi bất chính trên 30.000.000 đồng (thu lợi bất chính 35.990.000 đồng) đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành L thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến các quy định về quản lý hoạt động tín dụng của Nhà nước, xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của người khác. Bị cáo biết rõ hành vi cho vay với mức lãi suất vượt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất cho phép của Bộ luật Dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam tư lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng không làm ảnh hưởng đến việc đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương.

[7] Đối với hành vi của ông Lê Thanh T, ngày 16/8/2023, có đưa số tiền 10.000.000 đồng cho Nguyễn Thành L để L cho anh Nguyễn Duy L1 và chị Nguyễn Thị H vay với lãi suất 15%/tháng và thu lợi bất chính 5.322.000 đồng. Xét thấy, đây là số tiền cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự nhưng số tiền thu lợi bất chính chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Thanh T 15.000.000 đồng và biện pháp khắc phục hậu quả là trả lại cho chị Nguyễn Thị H số tiền thu lợi bất chính 5.322.000 đồng cho chị Nguyễn Thị H theo quy định tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng theo quy định của pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

  • - Đối với số tiền thu lợi bất chính của chị H và anh L1 số tiền 30.658.000 đồng (đã trừ tiền thu lợi bất chính 5.322.000 đồng mà Lê Thanh T đã nhận) nên cần buộc bị cáo nộp lại để trả cho chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy L1.
  • - Đối với số tiền gốc bị cáo đã cho chị H và anh L1 vay 75.000.000 đồng. Xét thấy, đây là số tiền bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần buộc chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy L1 liên đới nộp lại để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với số tiền gốc 5.000.000 đồng do ông Nguyễn Văn V (trả dùm tiền gốc cho chị H và anh L1). Xét thấy, đây là số tiền bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 điện thoại Iphone màu đỏ số sê ri C6KC7EFHN72L tịch thu của bị cáo Nguyễn Thành L. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với sim số 0336.871.807 tịch thu của bị cáo Nguyễn Thành L. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt tiền đối với bị cáo số tiền từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng là cao nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tiền thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng

  3. Xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Thành L trả lại cho chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy L1 số tiền 30.658.000 đồng.
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Thành L nộp lại số tiền 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
    • - Buộc chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy L1 liên đới nộp lại số tiền 75.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với: 01 điện thoại Iphone 11, màu đỏ, số sê ri: C6KC7EFHN72L.
    • - Tịch thu tiêu hủy: sim số 0336.871.807.
    • (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/8/2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  5. Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 243/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 243/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger