Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 243/2024//HS-ST

Ngày: 18/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Diệp.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Cần

Ông Nguyễn Quốc Dũng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 268/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 277/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Hồ Văn T, sinh năm 1992; nơi sinh: Hà Tĩnh; thường trú: xóm T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: tổ E, khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T1 và bà Nguyễn Thị H, bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/7/2024 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Lê Tấn Đ, sinh năm 1995; địa chỉ: khu phố A, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị T2 – Chủ Dịch vụ cầm đồ H2; địa chỉ: khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Văn T và Lê Tấn Đ có mối quan hệ là bạn với nhau. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 05/7/2019, Lê Tấn Đ tổ chức uống bia cùng với bạn là Phạm Văn T3, Hồ Văn T và Nguyễn Đức H1 tại phòng trọ của Đ số C07 nhà trọ N, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trong lúc uống bia, Đ lấy chiếc điện

thoại di động của Đ có nhãn hiệu Oppo F11 Pro màu xanh kết nối Bluetooth với loa di động mà T3 mang đến để mọi người cùng hát karaoke. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Đ say nên nằm ngủ trên tấm nệm. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, T, T3, Hữu nghỉ không uống bia nữa, còn Đ vẫn nằm ngủ nên T để chiếc điện thoại di động của Đ trên đầu chiếc tủ nhỏ bằng gỗ cạnh chiếc nệm Đ đang nằm, sau đó khép cửa phòng của Đ lại rồi T3, H1, T đi về. T3 sử dụng xe mô tô của Đ để chở loa về phòng trọ của T3, còn H1 điều khiển xe mô tô của mình chở T đi theo T3. Trên đường đi thì T nói với T3, H1 là T để quên nón và điện thoại tại phòng trọ của Đ nên mượn xe của T3 để quay lại lấy thì T3 đồng ý. Khi về đến phòng trọ của T3 thuộc nhà trọ T5, khu phố D, phường H thì T lấy xe mô tô quay lại phòng trọ của Đ. T dựng xe mô tô trước cửa phòng C07 của Đ, lúc này cửa chỉ khép hờ chứ không khóa, Đ vẫn đang nằm ngủ, T đẩy cửa đi vào lấy chiếc mũ lưỡi trai màu trắng và điện thoại di động của T để quên trên nền nhà rồi quay ra. Lúc này, T nhìn thấy điện thoại Oppo F11 Pro của Đ vẫn còn để trên chiếc tủ nhỏ bằng gỗ và Đ vẫn còn đang nằm ngủ nên T nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại để mang đi bán. Thực hiện ý định này, T lấy chiếc điện thoại của Đ bỏ vào trong túi quần rồi đi ra khỏi phòng trọ, T khép cửa phòng trọ lại rồi điền khiển xe mô tô đến tiệm C tại khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương để cầm điện thoại. Khi đến tiệm cầm đồ Hồ N, T gặp bà T2 thì T khai tên giả là N và đưa điện thoại Oppo F11 Pro cho bà T2 để cầm, do T biết mật khẩu điện thoại nên bà T2 nghĩ là điện thoại của T nên đồng ý cầm với giá 4.000.000 đồng, sau đó T mang xe mô tô về trả cho T3. Khoảng 18 giờ 00 cùng ngày, T3 đến phòng của Đ để gọi Đ đi làm thì lúc này Đ vẫn đang ngủ. Khi Đ tỉnh dậy, kiểm tra phát hiện điện thoại di động của mình đã bị mất nên trình báo Công an phường H. Công an phường H đã tiến hành mời Phạm Văn T3, Hồ Văn T, Nguyễn Đức H1 về trụ sở làm việc. Qua làm việc, Hồ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp điện thoại Oppo F11 Pro của Lê Tấn Đ.

Công an phường H tạm giữ: 01 điện thoại di động Oppo F11 Pro màu xanh, 01 chứng minh nhân dân mang tên Hồ Văn T.

Công an phường H tiến hành lập hồ sơ và bàn giao T cùng hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 218/KLTS-TTHS ngày 24/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên kết luận giá trị của chiếc điện thoại Oppo F11 Pro là 6.720.000 đồng.

Cáo trạng số 284/CT-VKS-TU ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hồ Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn T 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F11 Pro, màu xanh, số Imeil: 863880040752835, số I: 863880040752827 là tài sản của ông Lê Tấn Đ và 01 giấy chứng minh nhân dân là giấy tờ tùy thân của bị cáo T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương đã ban hành quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại cho ông Đ và chứng minh nhân dân cho bị cáo T nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vấn đề dân sự: bị hại không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình, làm công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: bị hại ông Lê Tấn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Hồng T4 – Chủ Dịch vụ cầm đồ Hồng Thuận được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình điều tra, ông Đ, bà T4 đã có lời khai nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Đ, bà T4.

[3] Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như vật chứng thu giữ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 05/7/2019, tại phòng trọ số C nhà T, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Hồ Văn T có hành vi lén lút chiếm đoạt của bị hại ông Lê Tấn Đ 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo F11 Pro, màu xanh, trị giá tài sản tại thời điểm chiếm đoạt 6.720.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố cũng như luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người thành

niên, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ, giao bị cáo về địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

[8] Về khấu trừ thu nhập: theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự thì người bị phạt cải tạo không giam giữ bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, bị cáo giao nộp đơn xác nhận của chính quyền địa phương cho thấy bị cáo có mẹ trên 70 tuổi, bị cáo là người trực tiếp nuôi dưỡng mẹ, hiện nay bị cáo chưa có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng: không đặt ra xem xét.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về trách nhiệm hình sự: căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự,

    Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 07 (Bảy) tháng Cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Trường hợp bị cáo Hồ Văn T thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hồ Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Công an thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hương Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 243/2024//HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 243/2024//HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn Tr phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 NBLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger