TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 243/2024/HNGĐ-ST Ngày 13-9-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Châu Trung Trực
Bà Phạm Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Chinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 364/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1979 (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Trần Văn C tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1999 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông C.
Về con chung: Có 04 người con chung tên Trần Văn N sinh ngày 15/3/2001, Trần Văn H sinh ngày 19/3/2004, Trần Thị N1 và Trần Thị N2 cùng sinh ngày 25/10/2016. Khi ly hôn cháu N và cháu H đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà yêu cầu nuôi cháu N1 và cháu N2, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định pháp luật nhưng ông Trần Văn C không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị M và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Tại biên bản ghi nhận ý kiến con chung ngày 06/8/2024 thể hiện cháu Trần Thị N1 và Trần Thị N2 có nguyện vọng sống chung với bà M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Trần Văn C được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Trần Văn C tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 1999. Tuy bà M và ông C xác lập quan hệ hôn nhân trên tinh thần tự nguyện và có đủ điều kiện kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình nhưng trong quá trình chung sống, đến thời điểm yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn không có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông C không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng theo quy định tại Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
- Về con chung: Bà M và ông C có 04 người con chung tên Trần Văn N sinh ngày 15/3/2001, Trần Văn H sinh ngày 19/3/2004, Trần Thị N1 và Trần Thị N2 cùng sinh ngày 25/10/2016. Đối với cháu N và cháu H hiện đã trưởng thành, có khả năng lao động, đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Đối với cháu N1 và cháu N2 hiện do bà M nuôi dưỡng. Trên cơ sở xem xét điều kiện để phát triển về mọi mặt của con chung và nguyện vọng của con chung từ đủ 07 tuổi trở lên, đồng thời không làm thay đổi cuộc sống đã ổn định của các cháu nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu N1 và cháu N2 cho bà M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà M xác định không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, ông C không cung cấp tài liệu, chứng cứ và văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của bà M. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, trường hợp sau này các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
- Về án phí sơ thẩm: Bà M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 14, 53, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- - Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị M và ông Trần Văn C là vợ chồng.
- - Về con chung: Giao cháu Trần Thị N1 và Trần Thị N2 cùng sinh ngày 25/10/2016 cho bà M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- - Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Bà M đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0001610 ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau được chuyển thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bà M, ông C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Đầm Dơi; - Chi cục THADS huyện Đầm Dơi; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Hồng Ý |
Bản án số 243/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 243/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị Mơ và ông Trần Văn Cường là vợ chồng. - Về con chung: Giao cháu Trần Thị Ngọc và Trần Thị Ngà cùng sinh ngày 25/10/2016 cho bà Mơ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Cường có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
