Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 243/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16-7-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Long.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh;
  • Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 556/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 284/2024/QÐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1991.

Địa chỉ: A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trịnh Văn T, sinh năm 1992.

Địa chỉ: A, tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/12/2015. Quá trình vợ chồng chung sống không hạnh phúc do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã nhau. Vì không muốn đỗ vỡ, vợ chồng đã nhiều lần trao đổi tìm cách giải quyết mâu thuẫn để xây dựng hạnh phúc nhưng không được. Bà N xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông T.

Về con chung: Có 01 con chung cháu Trịnh Ngọc H, sinh ngày 06/10/2017. Theo đơn khởi kiện, bà N xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Tại bản tự khai ngày 16/7/2024, bà N thay đổi yêu cầu, đồng ý giao con chung cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; tạm thời, bà N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 27/6/2024, bị đơn ông Trịnh Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/12/2015. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã nhau. Ông T xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn với bà N.

Về con chung: Có 01 con chung cháu Trịnh Ngọc H, sinh ngày 06/10/2017. Ly hôn, ông T xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Ngọc ly h ông Trịnh Văn T.
  • - Về con chung: Giao cháu Trịnh Ngọc H, sinh ngày 06/10/2017 cho ông Trịnh Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời, bà Lê Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: Bà Lê Thị N phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Trịnh Văn T cư trú tại A, tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Về việc vắng mặt đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập các đương sự để tham gia phiên tòa nhưng bà N và ông T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà N và ông T kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/12/2015. Căn cứ Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, hôn nhân giữa bà N và ông T là hợp pháp.

Các đương sự đều thừa nhận quá trình vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà N xin ly hôn thì ông T đồng ý ly hôn với bà N. Do đó, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cho bà N được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Bà N và ông T có 01 con chung cháu Trịnh Ngọc H, sinh ngày 06/10/2017. Bà N và ông T thống nhất giao cháu H cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Mặt khác, ông T có thu nhập ổn định để nuôi con. Vì vậy, xuất phát từ lợi ích mọi mặt cho con chung, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu H cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời, bà N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà N và ông T xác định tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Bà N và ông T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Bà N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N đối với bị đơn ông Trịnh Văn T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Ngọc ly h ông Trịnh Văn T.
  2. Về con chung: Giao cháu Trịnh Ngọc H, sinh ngày 06/10/2017 cho ông Trịnh Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời, bà Lê Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Lê Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung: Bà Lê Thị N và ông Trịnh Văn T xác định tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
  2. Về nợ chung: Bà Lê Thị N và ông Trịnh Văn T xác định không có nên không xem xét giải quyết.
  3. Về án phí: Bà Lê Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002694 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 243/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 243/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị N - Trịnh Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger