TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 243/2023/HS-ST
Ngày 15-8-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Thúy Lan.
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 228/2023/HSST ngày 03/7/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 368/2023/QĐXXST-HS ngày 01/8/2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 2000, tại tỉnh Tây Ninh; thường trú: Số B, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1977 và bà Lê Thị Hoàng O, sinh năm 1981; có 01 em, sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/3/2023 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Chị La Thị Út N, sinh năm 1988 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1946; thường trú: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lê Thị Hoàng O, sinh năm 1981; thường trú: xóm C, thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T đã được Sở giao thông vận tải tỉnh L cấp giấy phép lái xe hạng A1, số [...] ngày 23/11/2018, có giá trị không thời hạn.
Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 12/5/2020, T điều khiển xe mô tô biển số 70L1 - 674.56 lưu thông trên đường ĐT743A, theo hướng từ Công an phường B, thành phố D về hướng ngã ba suối Lồ Ồ. Khi T điều khiển xe đến đoạn đường thuộc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, do không chú ý quan sát nên khi thấy chị La Thị Út N đi bộ băng qua đường, từ lề trái qua lề phải theo hướng đi của Nguyễn Văn T nên T xử lý không kịp đã để phần bánh xe phía trước va chạm vào người chị La Thị Út N, làm chị La Thị Út N ngã xuống đường, bị thương nặng. Sau khi xảy ra tai nạn, T đã cùng người dân đưa chị N vào cấp cứu tại Trạm y tế phường B, thành phố D, rồi chị N được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B điều trị và tử vong cùng ngày. Riêng T cũng bị thương, sau đó vào điều trị tại Trung tâm y tế thị xã T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 13/5/2020 đến ngày 15/5/2020 thì được xuất viện. Đến ngày 18/5/2020, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D để khai báo về hành vi phạm tội của mình, Cơ quan CSĐT Công an thành phố D đã thụ lý vụ việc theo thẩm quyền.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 12/5/2020 thể hiện:
- Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường rải nhựa, phẳng, có vạch sơn liền nét giữa đường chia 02 chiều đường xe chạy, mỗi phần dường có vạch sơn đứt quãng chia làn đường xe chạy, làn đường xe hai bánh rộng 2,30m, làn đường xe ô tô rộng 3,70m.
- Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- Xe mô tô biển số 70L1-674.56 sau tai nạn ngã nghiêng bên phải, đầu xe hướng về Công an phường B, đuôi xe hướng về ngã ba S Ồ, trục bánh trước cách lề chuẩn 2,30m, trục bánh sau cách lề chuẩn 3,10m, xe để lại vết cày dứt quãng gác chân trước bên phải dài 39,00m, đầu vết hướng Công an phường B, cách lề chuẩn 5,00m.
- Hiện trường để lại vết máu nạn nhân, tâm vết máu cách lề chuẩn 9,80m, cách đầu vết cày xe mô tô biển số 70L1-674.56 là 5,00m.
- Khoảng cách từ điểm mốc (trụ đèn đường số 59) đến trục bánh trước xe mô tô biển số 70L1-674.56 là 3,10m.
* Tại biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 13/5/2020: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 70L1-674.56
- Cổ xe bị gãy.
- Phần mủ phía trên đèn chiếu sáng mài mòn kích thước 08cm x 16cm.
- Cạnh yếm chắn gió bên phải mài mòn kích thước 14cm x 08cm.
- Đầu tay cầm phải mài mòn.
- Đầu tay thắng trước mài mòn.
- Đầu gác chân trước bên phải, chân thắng sau mài mòn.
- Đầu gác chân sau bên phải mài mòn.
- Mặt ngoài ống xả mài mòn phần mủ.
- Chụp mủ dè ống phuộc trước bên trái bể kích thước 11cm x 17cm, cách mặt đất 55cm.
- Yếm chắn gió bên trái bể, chụp đèn tín hiệu trước bên trái bung ra ngoài, điểm cao nhất cách mặt đất 73cm.
- Cạnh mặt nạ trước bên trái có vết xước đen chiều hướng từ trước ra sau từ dưới lên trên kích thước 25cm x 08cm.
- Đầu cần số cong về sau.
* Kết luận giám định pháp y tử thi số 365/GĐPY ngày 16/5/2020 của Phòng K Công an tỉnh B, về nguyên nhân tử vong của nạn nhân La Thị Út N, như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Nhiều vết sây xát da, bầm tụ máu bên ngoài.
- Gãy hai xương cẳng chân trái.
- Gãy nhiều xương sườn; dập phổi, dập tim.
- Vỡ gan.
- Ô bụng chứa khoảng 1500ml máu không đông.
- Nguyên nhân chết: Đa chấn thương, chấn thương ngực bụng, vỡ gan, dập phổi, dập tim, gãy hai xương cẳng chân./.
* Theo Kết luận giám định số 115/GĐCH-PC09 ngày 29/7/2020 của Phòng kỹ huật Hình sự Công an tỉnh B, kết luận về Dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 70L1-674.56 và người đi bộ La Thị Út N như sau:
Không xác định được dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 70L1-674.56 và người đi bộ La Thị Út N.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành điều tra, xác minh, làm rõ nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe không chú ý quan sát nên khi thấy chị La Thị Út N đi bộ băng qua đường T xử lý không kịp đã để phần bánh xe phía trước va chạm vào người chị La Thị Út N, làm chị La Thị Út N ngã xuống đường, bị thương nặng và tử vong tại bệnh viện. Hành vi của Nguyên Văn T vi phạm vào khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018), đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ngày 08/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số 240/CT-VKS-DA ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng.
* Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, xác định xe mô tô biển số 70L1-674.56 thuộc sở hữu của chị Lê Thị Hoàng O (là mẹ của Nguyễn Văn T), chị O cho bị cáo mượn đi làm. Cơ quan CSĐT Công an thành phố D đã trả lại xe cho chị O.
* Về trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Hoàng O đã bồi thường cho bà Phạm Thị M là mẹ chị La Thị Út N số tiền là 141.000.000 đồng. Bà M đồng ý nhận số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai của bị cáo và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 12/5/2020, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển số 70L1 - 674.56 lưu thông trên đường ĐT743A, khi đi đến đoạn đường thuộc khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, do không chú ý quan sát nên đã để phần bánh xe phía trước va chạm vào người chị La Thị Út N, làm chị La Thị Út N ngã xuống đường, bị thương nặng và tử vong tại bệnh viện.
[3] Như vậy, hành vi của bị cáo vi phạm khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ, đã đủ yếu tố cấu thành tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 240/CT-VKS-DA ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe và tính mạng con người được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất,mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn, hối cải; bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và là người lao động nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[8] Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kể từ khi được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương. Bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng không ảnh hưởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phương. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng gia đình đã thỏa thuận bồi thường tổng số tiền là 141.000.000 đồng cho đại diện gia đình bị hại. Đại diện gia đình bị hại đồng ý nhận và không yêu cầu bồi thường gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
[10] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho Uy ban nhân dân phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú: 45/2023/HSST-LCĐKNCC ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
Bản án số 243/2023/HS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)
- Số bản án: 243/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
