|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 243/2024/DS- PT
Ngày: 13/12/2024
“V/v Tranh chấp yêu cầu tuyên
bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất vô hiệu”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, bà Triệu Thị Luyện.
Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đình Sắc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 12/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 209/2024/DS-PT ngày 06/11/2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 290/2024/QĐ-PT ngày 08/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 402/2024/QĐ-PT ngày 20/11/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 168/2024/QĐ PT – DS ngày 09/12/2024 giữa:
* Nguyên đơn: Anh Nghiêm Xuân H, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Số B đường G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Dương Ngô G, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Số C đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
* Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Viết S, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Hoàng Diệu L, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số B đường G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị L: Anh Dương Ngô G, sinh năm 1983. Có mặt.
Địa chỉ: Số C đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
Người kháng cáo: Anh Hoàng Văn T là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
*Trong đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ thì nguyên đơn anh Nghiêm Xuân H, anh H ủy quyền cho ông Dương Ngô G, ông G trình bày:
Đề nghị Toà án:
- Tuyên hợp đồng mua bán đất tiêu chí đất ở và kinh doanh dịch vụ ngày 07/12/2020 giữa ông Hoàng Văn T và ông Nghiêm Xuân H là vô hiệu.
- Buộc ông Hoàng Văn T phải hoàn trả cho ông Nghiêm Xuân H số tiền 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng).
Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện như sau:
Anh T và anh H có quan hệ bạn bè xã hội, có thời gian anh H và anh T cùng kinh doanh đất.
Ngày 07/12/2020 anh H và anh T có thỏa thuận chuyển nhượng cho nhau đất tiêu chí tại xã N, huyện Y.
Đất tiêu chí các bên chỉ hiểu là: Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của các cá nhân sử dụng đất để làm khu dân cư, khu đô thị, khu thương mại; Nhà nước thu hồi một diện tích nhất định (1.250m²) của cá nhân, thì cá nhân được Nhà nước cho ưu tiên mua một lô đất ở diện tích 72 m², giá mua theo giá Nhà nước quy định. Vị trí: Khu dân cư ở xã N, huyện Y. Hai bên chỉ hiểu như vậy.
Anh T trao đổi với anh H như vậy; anh H không phải là người xã N, huyện Y. Cũng không phải là người có đất nông nghiệp bị thu hồi, không phải là người thuộc diện được mua đất tiêu chí. Nhưng anh T nói sẽ mua được tiêu chuẩn đất của người khác và bán lại cho anh H. Vì tin tưởng như vậy, nên anh H đồng ý lập hợp đồng mua đất như trên.
Anh H đã giao cho anh T: 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng); anh T đã nhận tiền và viết giấy biên nhận cho anh H, có sự chứng kiến của anh Hoàng Văn Q.
Sau một thời gian đợi, không thấy dự án khu dân cư triển khai, anh T không có đất chuyển nhượng cho anh H.
Anh H nhiều lần yêu cầu anh T thực hiện hợp đồng, nếu không thực hiện được thì trả lại tiền, nhưng anh T không hợp tác.
Anh T đã xâm phạm quyền lợi của anh H, nên anh H yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho anh H.
* Bị đơn anh Hoàng Văn T trình bày: Anh và anh Nghiêm Xuân H có quan hệ bạn bè. Ngày 07/12/2020 hai bên có thỏa thuận giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tiêu chi. Trong đó anh là bên chuyển nhượng đất, anh H là bên nhận chuyển nhượng đất. Đất chuyển nhượng tại xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Anh đã nhận của anh Nghiêm Xuân H 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng) đề mua đất tiêu chí và đã bàn giao đầy đủ giấy tờ có liên quan đến lô đất tiêu chí cho anh H.
Thực tế tại thời điểm giao dịch chưa có đất, anh cũng không biết đất ở vị trí nào. Mục đích 2 bên giao dịch như vậy để sau này có đất thì được mua với giá thấp hơn giá thị trường, mặt khác, nếu có chuyển nhượng lại thì vẫn có lãi.
Hiện nay dự án đất đang chờ Ủy ban nhân dân tỉnh B phê duyệt để bốc thăm đất tiêu chí, nên tạm thời phải chờ. Đề nghị Tòa án tạo điều kiện cho anh và anh H được thương lượng, đợi dự án được thực hiện và cả hai cùng thỏa thuận mua đất.
Anh H yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, anh đồng ý.
Vợ anh là Tăng Thị Ánh. Không liên quan gì đến việc này. Việc làm ăn, kinh doanh của anh là riêng. Anh cũng đã nói chuyện với vợ anh về anh H khởi kiện đòi tiền 1,4 tỷ đồng. Vợ anh biết và đề nghị không tham gia tố tụng vì không liên quan gì.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Diệu L trình bày: Chị là vợ anh Nghiêm Xuân H. Chị đã biết anh H khởi kiện anh Hoàng Văn T yêu cầu anh T trả 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng), chị nhất trí ý kiến của anh H. Số tiền này là tiền riêng của anh H, không liên quan gì đến chị.
Việc anh H và anh T giao dịch ký hộp đồng chuyển nhượng đất cho nhau chị không biết và không liên quan gì; chị và anh H đã thống nhất đây là tài sản riêng của anh H, nên chị đề nghị Tòa án không đưa vào tham gia tối tụng.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ:
- Căn cứ các Điều: 117, 119, 122, 123, 357, 398, 401, 500, 501, 502 của BLDS;
- Điều: Khoản 1 Điều 167, 168, điểm a khoản 1 Điều 188 của Luật đất đai năm 2013.
- Các Điều: Khoản 3 Điều 26, 35, 39, 147, 150, khoản 1 Điều 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Tuyên bố hợp đồng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đât: “Giấy nhận tiền bán tiêu chí đất ở và kinh doanh dịch vụ xã N” ngày 07/12/2020 giữa ông Hoàng Văn T và ông Nghiêm Xuân H là vô hiệu.
- Buộc anh Hoàng Văn T phải trả anh Nghiêm Xuân H 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng).
- Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu án 54.300.000 đồng (Năm mươi tư triệu ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại anh Nghiêm Xuân H 27.000.000 đồng (hai mươi bẩy triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0008235 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền phải thi hành thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi với số tiền chưa thi hành theo mức lãi suất qui định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự (tiền án phí không tính lãi).
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 17/10/2024, bị đơn anh Hoàng Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Anh T đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm; bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo và quan điểm đã trình bày. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm do cấp sơ thẩm do không đưa đủ người tham gia tố tụng gồm: UBND xã N, U D là cơ quan có thẩm quyền thu hồi diện đất của 03 gia đình gồm bà Trịnh Thị C, ông Dương Văn L1 và ông Phùng Văn N, cùng địa chỉ: thôn N, xã N, thành phố B; chị Tăng Thị Á (vợ anh T) tham gia tố tụng khi chị cũng có quyền định đoạn với số tiền phát sinh trong thời ký hôn nhân mà anh T nhận từ anh H; + người làm chứng là anh hoàng Văn Q, địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện L. Toà án cấp sơ thẩm cũng không giải thích hậu quả hợp đồng vô hiệu, không đánh giá khách quan, không thu thập đủ tài liệu chứng cứ, cụ thể Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố anh T phải trả cho anh H số tiền 1.400.000.000 đồng nhưng không tuyên anh H phải cho anh T những gì đã nhận là hồ sơ mua bán đất với các hộ gia đình bà Trịnh Thị C, ông Dương Văn L1 và ông Phùng Văn N. Ngoài ra Tòa án sơ thẩm cho rằng anh T không có đất bàn giao cho anh H là không đúng, do anh T đã bàn giao 03 hồ sơ của bà C, ông L1, ông N và cũng đã không đánh giá nội dung anh H biết việc UBND xã N tạm dừng việc mua đất tiêu chí nhưng vẫn tìm gặp anh T để làm hợp đồng giao nhận tiền mua bán đất.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự có mặt đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận đơn kháng cáo của anh Hoàng Văn T. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Lục Nam giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Hoàng Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai tuy nhiên đều đã có văn bản ủy quyền. Tòa án xét xử vắng mặt họ là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Hoàng Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm sau:
[2.1] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
Theo quy định tại Điều 2, mục III giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Toà án nhân dân tối cao quy định: “Khi giải quyết vụ án dân sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì Tòa án giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Việc giải thích phải được ghi vào biên bản và lưu hồ sơ vụ án. Trường hợp Tòa án đã giải thích nhưng tất cả đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà không phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; trừ trường hợp đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba”.
Căn cứ lời khai của các đương sự xác định sau khi viết văn bản thỏa thuận ngày 07/12/2020, anh H đã giao cho anh T đủ số tiền 1.400.000.000đ và anh T giao cho anh H bản gốc giấy thỏa thuận về việc chuyển nhượng đất giữa bà C, ông L1, ông N chuyển nhượng, ủy quyền cho chị Nguyễn Thị T1 cùng những giấy ủy quyền chưa điền nội dung có chữ ký của người ủy quyền Trịnh Thị C, con Hoàng Văn T2, đơn đề nghị với nội dung chuyển nhượng đất. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên văn bản thỏa thuận ngày 07/12/2020 vô hiệu nhưng không giải thích cho anh T về việc anh T có yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn xác định hiện tại anh Hoàng Văn T và chị Tăng Thị Á đang là vợ chồng. Sau khi nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ anh Nghiêm Xuân H với số tiền là 1.400.000.000 đồng. Anh T đã sử dụng số tiền trên vào việc trả tiền mua đất trước đó và chi tiêu chung trong gia đình. Tuy nhiên, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm không đưa chị Á vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa chị Tăng Thị Á là vợ anh Hoàng Văn T vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để làm rõ trách nhiệm trả tiền cho anh H là đưa thiếu người tham gia tố tụng. Vi phạm Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.3] Việc thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ, cụ thể như sau: Anh Hoàng Văn T và anh Nghiêm Xuân H cùng thừa nhận ngày 07/12/2020 anh H và anh T ký giấy nhận tiền bán tiêu chí đất ở và kinh doanh dịch vụ xã N với nội dung anh T chuyển nhượng cho anh H 01 lô tiêu chí đất ở và kinh doanh dịch vụ xã N với diện tích 1.250m² gồm các hộ có tên trong hồ sơ: Bà Trịnh Thị C diện tích 861,9m², ông Dương Văn L1, diện tích 382m², ông Phùng Văn N, diện tích 7m² với giá 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng). Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để xác định có việc anh T nhận chuyển nhượng phần đất trên từ bà C, ông L1, ông N.
Tại cấp phúc thẩm, bị đơn xuất trình tài liệu là bản phô tô giấy thỏa thuận không đề ngày, tháng, ghi năm 2007 về việc bà C, ông L1, ông N chuyển nhượng đất và ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T1, địa chỉ số nhà C, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ đầy đủ nên chưa làm rõ được nội dung vụ án làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Từ những căn cứ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà ở cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần chấp nhận kháng cáo của anh Hoàng Văn T. Căn cứ theo điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do hủy án sơ thẩm nên anh Hoàng Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của anh Hoàng Văn T. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thụ lý, giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm được xác định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm khoản Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Anh Hoàng Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả anh T số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh T đã nộp tại biên lai số 0008500 ngày 17/10/2024 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thu.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 243/2024/DS- PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
- Số bản án: 243/2024/DS- PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
