Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 243/2024/HNGĐ-ST

Ngày 06-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Đỗ Xuân Quyết;

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 116/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Q, sinh năm 1991; địa chỉ: Số B, M, tổ M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú: Đài Loan; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/4/2024 và các bản tự khai, nguyên đơn (chị Phạm Thị Q) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng vào ngày 07/3/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống được một thời gian, sau đó đến năm 2017 anh T đi lao động bên Đài Loan từ đó đến nay. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống và lối sống. Do xa cách về địa lý, khả năng đoàn tụ không có và do anh T đi từ năm 2017 đến nay, ít khi liên lạc về với gia đình nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và không thể khắc phục được. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Phạm Văn T.

- Về con chung: Chị và anh T có hai con chung là Phạm Quang A, sinh ngày 23/9/2014 và Phạm Quang P, sinh ngày 05/7/2017. Hiện nay cả hai cháu đang sinh sống với chị. Ly hôn, chị Q đề nghị Tòa án giao cả hai con cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn thì chị và anh T sẽ tự thỏa thuận và tự giao cho nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị và anh T tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai của anh Phạm Hồng Q1 (là em trai của anh Phạm Văn T) trình bày: Gia đình đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và Thông báo yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn (anh Phạm Văn T). Sau khi nhận được Thông báo của Toà án, gia đình đã liên lạc và thông báo cho anh T nội dung khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Q nhưng anh T không cung cấp địa chỉ cụ thể ở bên Đài Loan cho gia đình vì đang sống bất hợp pháp. Anh T không thường xuyên liên lạc với bố mẹ và gia đình. Nhiều năm nay anh T không có tiền gửi về nhà nhưng anh T vẫn thường xuyên liên lạc với anh Q1. Sau khi được thông báo và biết việc chị Q có đơn ly hôn gửi Toà án thì anh T có ý kiến cũng đồng ý ly hôn với chị Q.

Tại phiên tòa, chị Q vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do, Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do vắng mặt của các đương sự, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án đã thu thập thể hiện mâu thuẫn tình cảm giữa chị Q và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cho chị Q được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị Q và anh T có hai con chung là Phạm Quang A, sinh ngày 23/9/2014 và Phạm Quang P, sinh ngày 05/7/2017. Chị Q nhận nuôi cả hai con nên cần giao cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Q không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

2

Về án phí: Chị Q phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn (anh Phạm Văn T) có địa chỉ nơi cư trú tại thôn X, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng. Hiện anh T đang sinh sống tại Đài Loan nhưng không xác định được rõ địa chỉ cụ thể. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn (chị Phạm Thị Q) vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn (anh Phạm Văn T) vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị Q và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng theo quy định của pháp luật (Giấy chứng nhận kết hôn số 12, ngày 07/3/2014). Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị Q là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện trong thời gian chung sống giữa anh T và chị Q phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng sống xa cách nhau đã lâu, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ nên chị Q khởi kiện đề nghị giải quyết ly hôn với anh T.

[5] Xét thấy, chị Q và anh T đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và chung sống với nhau; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình làm cho cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[6] Về con chung: Chị Q và anh T có hai con chung là Phạm Quang A, sinh ngày 23/9/2014 và Phạm Quang P, sinh ngày 05/7/2017. Hiện chị Q là người đang trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai con. Ly hôn, chị Q nhận tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Do vậy cần giao cho chị Q được trực tiếp nuôi cả hai con là phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế; phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[7] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Q không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3

[8] Về tài sản chung: Chị Q không đề nghị Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9] Về án phí: Chị Phạm Thị Q là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị Q có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Q, cụ thể:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Q được ly hôn với anh Phạm Văn T.
  2. Về con chung: Giao con là Phạm Quang A, sinh ngày 23/9/2014 và Phạm Quang P, sinh ngày 05/7/2017 cho chị Phạm Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo qui định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị Q không có yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Chị Q không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Nguyên đơn (chị Phạm Thị Q) phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0000348, ngày 25/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị Q đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

    Chị Phạm Thị Q được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

    Anh Phạm Văn T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND phường Đồng Hoà, quận Kiến An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 243/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 243/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger