Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 243/2023/DS-PT

Ngày: 04-12-2023

V/v: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD và đòi lại giấy chứng nhận QSD đất”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Trung.

Ông Trần Vĩnh Yên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Trần Ngọc Phương Trang – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Thị Hồng Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 237/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS-ST ngày 20-7-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 261/2023/QĐ-PT ngày 27 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 582/2023/QĐ-PT ngày 22 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Tư Liên T, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Số D, tổ A, ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T (Theo Giấy ủy quyền ngày 03/12/2020): Ông Huỳnh Phi L, sinh năm 1995.(có mặt)

Địa chỉ: Lô D, P Chung cư A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: Số C B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970.

2. Bà Đỗ Thị Hồng H, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Số B, ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của ông D và bà H (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 05/6/2021): Ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1968.(có mặt)

Địa chỉ: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Kim H1, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Kim H2 (Theo Giấy ủy quyền ngày 14/01/2022): Ông Huỳnh Phi L, sinh năm 1995.

1

2. Ông Lê Anh T1, sinh năm 1971.(vắng mặt)

Địa chỉ: H Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của ông Phan Tư Liên T và lời trình bày của ông Huỳnh Phi L - người đại diện theo ủy quyền của ông T:

Năm 2003, vợ chồng ông Nguyễn Văn D và bà Đỗ Thị Hồng H được Ủy ban nhân dân huyện L xét duyệt giao đất tái định cư (lô số A14) nay là thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai với diện tích thửa đất là 300,1m². Năm 2005, ông D – bà H thỏa thuận chuyển nhượng lô đất trên cho ông Phan Tư Liên T với giá 25.000.000 đồng. Ngày 19/7/2005, ông D – bà H lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên (giấy viết tay) cho ông T và ông T đã giao đủ số tiền 25.000.000 đồng cho ông D – bà H và nhận đất. Để bảo vệ đất, ông T đã cắm trụ bê tông, rào dây kẽm gai xung quanh thửa đất và quản lý sử dụng cho đến nay.

Ngày 04/3/2008, ông D – bà H có khởi kiện ông T đến Tòa án nhân dân huyện L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên và tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H với ông T có hiệu lực pháp luật và xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D – bà H. Theo đó, bản án cũng có thể hiện nội dung là do ông T không có yêu cầu phản bác cũng không phản tố nên Tòa án không có căn cứ xem xét các quan hệ ngoài yêu cầu của đương sự mà giành cho ông T quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

Ngày 08/12/2009, ông D – bà H đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất trên (số giấy chứng nhận AO 408741) và ông T là người nhận giấy (do được ông D – bà H ủy quyền nhận thay). Mặc dù sau đó ông T đã nhiều lần yêu cầu ông D – bà H làm thủ tục sang tên cho ông T và ông T sẽ hỗ trợ thêm tiền cho ông D – bà H nhưng cả hai vẫn không đồng ý.

Thời gian cụ thể về việc nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất ông T không nhớ rõ nhưng vào năm 2011 ông T có khởi kiện ông D – bà H về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 19/7/2005. Tuy nhiên, sau đó ông T đã rút đơn khởi kiện vì một số lý do cá nhân và Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án vào ngày 04/5/2011. Nay vì cơ quan có thẩm quyền không đồng ý sang tên quyền sử dụng thửa đất cho ông T trên cơ sở Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành nên ông T mới tiếp tục khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L giữa ông T và ông D – bà H được lập vào ngày 19/7/2005 là hợp pháp. Đồng thời yêu cầu ông D – bà H phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/7/2005 đối với thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L cho ông T.

Đối với phản tố của ông D – bà H3 về việc yêu cầu ông T phải trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T không đồng ý. Ông T đồng ý và không có ý kiến gì đối với bản đồ hiện trạng thửa đất số 1205/2022 ngày 08/02/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 và Chứng thư thẩm định giá mã hồ sơ K006230522/CT-TVV ngày 15/6/2022 của Công ty TNHH T3.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L xác định ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

2

* Tại các bản tự khai, đơn phản tố, lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Hữu Q – người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn D bà Đỗ Thị Hồng H:

Vào năm 2003, ông D – bà H có làm giấy hứa mua hứa bán cho ông T lô đất tái định cư được xét cấp nhưng không có ghi phần diện tích đất cụ thể do khi đó không có bản vẽ về đất và suất tái định cư Nhà nước cũng chưa có chủ trương cấp. Khi thực hiện việc hứa mua hứa bán hai bên có thỏa thuận giá chuyển nhượng là 25.000.000 đồng và ông D – bà H chỉ mới nhận của ông T số tiền 10.000.000 đồng tại thời điểm làm giấy viết tay hứa mua hứa bán. Giấy hứa mua hứa bán do ông T giữ nên ông D – bà H không có để cung cấp cho Tòa án. Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 19/7/2005 ông D – bà H xác định cả hai không ký và ai là người lập hợp đồng thì ông D – bà H không biết.

Năm 2005, ông D – bà H có đến nhà ông T mượn số tiền 4.000.000 đồng chứ không phải tiền chuyển nhượng đất, việc mượn tiền này có viết giấy tay và đã nộp tại hồ sơ vụ án xét xử năm 2010. Ông D – bà H khi đó có hứa miệng với ông T là khi nào đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng thì sẽ trừ số tiền 4.000.000 đồng vào số tiền 15.000.000 đồng còn lại, tuy nhiên sau đó ông D – bà H đã khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do ông T không thanh toán đủ số tiền 25.000.000 đồng nên ông D – bà H mới không trừ số tiền 4.000.000 đồng như đã hứa miệng với ông T. Việc ông T cho rằng sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông T cũng đã nhận đất, quản lý và sử dụng là không đúng vì bản thân ông D – bà H cũng muốn quản lý, sử dụng đất nhưng vì cán bộ địa phương không cho phép nên cả hai không làm được gì trên đất này.

Sau khi có bản án số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, ông T có đề nghị ông D – bà H làm thủ tục sang tên cho ông T và ông T đưa thêm tiền để làm thủ tục nhưng ông D – bà bà H không đồng ý. Tuy nhiên, ông D – bà H cũng không yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hoặc khởi kiện gì liên quan phần đất này.

Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H với ông T vào ngày 19/7/2005 là hợp pháp và yêu cầu ông D – bà H phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L và chuyển giao quyền sử dụng đất này cho ông T thì ông D – bà H không đồng ý. Ông D – bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông T phải trả lại cho ông D – bà H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 408741 do UBND huyện L cấp cho ông D – bà H vào ngày 08/12/2009 đối với thửa đất trên. Về thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất thì ông D – bà H không biết vì ông T đã giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ khi được cấp cho đến nay.

Căn cứ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, ông D – bà H đề nghị Toà án áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với đơn khởi kiện của ông T. Bởi lẽ ngày 26/02/2008, ông D – bà H đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H với ông T vào ngày 09/7/2003 và vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử bằng Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010. Tại thời điểm trên ông T biết rõ quyền lợi của mình bị xâm phạm và năm 2011 đã làm đơn khởi kiện

3

nhưng lại rút đơn, vì vậy nếu tính thời gian gần nhất ông T biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm là năm 2011 thì căn cứ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vào ngày 04/05/2011 cho đến ngày 15/3/2021, là ngày ông T làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 19/7/2005 với ông D – bà H cũng đã là 10 năm. Trong khi đó, theo Bộ luật Dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện về tranh chấp hợp đồng là 02 năm, còn theo Bộ luật Dân sự 2015 thì là 03 năm nên đề nghị Tòa án đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông T.

Nếu yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện không được chấp nhận thì ông D – bà H yêu cầu Toà án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H với ông T vào ngày 19/07/2005 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H với ông T vào ngày 09/7/2003. Bởi lẽ giao dịch giữa các bên có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội vì thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T khi hai bên thỏa thuận chuyển nhượng vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Năm 2009, ông D – bà H mới được xét cấp đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông T nhận là vì được ủy quyền từ năm 2003. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 19/7/2005 giữa ông D – bà H với ông T bị tẩy xoá, viết thêm bớt nhiều chỗ, bản chất không có thực. Ông D là người không biết đọc, không biết viết nên khi giao dịch dân sự phải có người làm chứng. Do vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 09/7/2003 và lập ngày 19/7/2005 cũng đều vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức, các bên ký kết với nhau bằng giấy viết tay, không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Ngoài ra, kết quả trong kết luận giám định năm 2010 không giám định họ và tên bên dưới chữ ký là không khách quan. Trong hồ sơ vụ án không có bản gốc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H với ông T vào ngày 19/7/2005 thì lấy căn cứ nào để đi giám định.

Trong phiên đối chất ngày 16/8/2022, nguyên đơn trả lời là hợp đồng trên không có bản chính, không biết do ai lập, không có đối tượng hợp đồng, trong khi đất (là đối tượng hợp đồng) đã được cấp trước ngày văn bản đó được lập hơn 02 tháng. Ngày 08/8/2003, ông D làm giấy ủy quyền cho ông T nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong khi ông D mù chữ, không biết đọc, không biết viết và việc này bà H là người đồng sở hữu không được biết. Hợp đồng ủy quyền ngày 08/8/2003 là hợp đồng giả cách, nhằm che giấu giao dịch bị cấm (giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất), chống lại quyết định của UBND huyện, do đó hợp đồng ủy quyền này vô hiệu nên yêu cầu Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định của pháp luật tuyên ông T phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D – bà H.

Đối với bản đồ hiện trạng thửa đất số 1205/2022 ngày 08/02/2022 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 thực hiện ông D – bà H đồng ý và không có ý kiến gì. Ông D – bà H cũng không có ý kiến đối với chứng thư thẩm định giá mã hồ sơ K006230522/CT-TVV ngày 15/6/2022 của Công ty TNHH T3.

* Theo lời trình bày của ông Huỳnh Phi L – là người đại diện cho người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim H1:

Bà H1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T, không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông D – bà H.

4

Bà H1 đồng ý với bản đồ hiện trạng thửa đất số 1205/2022 ngày 08/02/2022 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh huyện L2 và chứng thư thẩm định giá mã hồ sơ K006230522/CT-TVV ngày 15/6/2022 của Công ty TNHH T3 và không có ý kiến gì.

* Quá trình tiến hành tố tụng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Anh T1 vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS-ST ngày 20-7-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 180, khoản 2 Điều 184, Điều 185, điểm e khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 105, Điều 149, khoản 3 Điều 150, Điều 166, Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan T2 Liên T về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Nguyễn Văn D, bà Đỗ Thị Hồng H đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/7/2005.

    Hậu quả của việc đình chỉ là đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp.

  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn D, bà Đỗ Thị Hồng H về “ Kiện đòi tài sản giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với ông Phan Tư Liên T.

    Buộc ông Phan Tư Liên T trả cho ông Nguyễn Văn D, bà Đỗ Thị Hồng H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 408741 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 08/12/2009 thửa đất 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai tên ông Nguyễn Văn D, bà Đỗ Thị Hồng H cho ông Nguyễn Văn D, bà Đỗ Thị Hồng H.

    Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 27/7/2023, ông Phan Tư Liên T có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS-ST ngày 20-7-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T về việc yêu cầu ông D và bà H phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 19/7/2005; chuyển giao quyền sử dụng thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L cho ông T. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông D và bà H về việc đòi ông T phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Xét thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan T2 Liên T về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bị đơn ông Nguyễn Văn D, bà Đỗ Thị Hồng H4 đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/7/2005 do hết thời hiệu khởi kiện. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông D, bà H4 về kiện đòi tài sản là giấy

5

chứng nhận quyền sử dụng đất, buộc ông T trả cho ông D, bà H4 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 408741 do UBND huyện L cấp ngày 08/12/2009 đối với thửa đất 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai đứng tên ông D, bà H4 là không đúng quy định của pháp luật, không phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ, bởi lẽ:

Năm 2003, ông D và bà H4 được UBND huyện L xét duyệt giao đất tái định cư (Lô số A14) nay là thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai diện tích 300,1m². Trước khi được UBND huyện L giao lô đất tái định cư thì cả hai đã thỏa thuận sang nhượng lô đất cho ông T với giá 25.000.000 đồng và lập giấy ủy quyền cho ông T được toàn quyền quyết định sử dụng lô đất tái định cư, kể cả thủ tục nhận đất (Giấy thỏa thuận sang nhượng đất ở khu tái định cư và giấy ủy quyền không ghi ngày tháng năm). Ngày 12/5/2005, UBND huyện L tiến hành bàn giao lô đất tái định cư (khu tái định cư T) cho ông D – bà H4. Ngày 19/7/2005, ông D – bà H4 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lô đất tái định cư cho ông T theo giấy thỏa thuận sang nhượng đất ở khu tái định cư trước đây cả hai đã cam kết, đồng thời cũng đã nhận đủ số tiền 25.000.000 đồng và bàn giao đất cho ông T, sau khi nhận đất ông T cũng đã trồng trụ bê tông và rào dây kẽm gai để quản lý đất. Năm 2008, ông D – bà H4 khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Long Thành yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với lô đất tái định cư (lô A14) thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L vì ông D – bà H4 cho rằng do ông T không thanh toán hết số tiền chuyển nhượng. Tuy nhiên, theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/7/2005 thể hiện thì ông D – bà H4 đã nhận đủ số tiền 25.000.000 đồng của ông T, đồng thời theo Kết luận giám định số 2378/C21B ngày 26/01/2010 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thì chữ ký tên Đỗ Thị H trên tài liệu cần giám định và chữ ký tên Đỗ Thị H trên các tài liệu cần so sánh là do cùng một người ký ra. Do vậy, Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã căn cứ Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H với ông T không bị coi là vô hiệu và đã tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D – bà H, do ông D – bà H đều không kháng cáo nên bản án trên có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H với ông T đã xác lập để chuyển nhượng lô đất tái định cư (lô A14) thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai ngày 19/7/2005 đã được giải quyết bằng Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên là hợp pháp nên đương nhiên được pháp luật công nhận, vì vậy lẽ ra Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành sau khi tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D và bà H về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền dụng đất đối với lô đất tái định cư (Lô A) thì đồng thời phải công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cho ông T mới là phù hợp, chứ không giành quyền khởi kiện cho ông T bằng một vụ kiện dân sự khác. Ngày 08/12/2009, ông D – bà H được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên, nhưng cả hai không làm thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng cho ông T theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký nên

6

ông T không thể tự thực hiện thủ tục sang tên chuyển quyền tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền được, vì vậy ông T mới làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H với ông T và yêu cầu ông D – bà H phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để ông T được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H với ông T đối với lô đất tái định cư (Lô A 14) nay là thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai đã được Tòa án giải quyết bằng Bản án có hiệu lực pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận áp dụng thời hiệu theo yêu cầu của ông D – bà H để đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông T là không chính xác, mà phải đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông T theo điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời công nhận quyền sử dụng thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai cho ông T mới là phù hợp pháp luật.

Đối với yêu cầu phản tố của ông D – bà H về việc buộc ông T phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 408741 do UBND huyện L cấp ngày 08/12/2009 đối với thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai cho ông D – bà H. Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu phản tố của ông D – bà H và buộc ông T phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông D – bà H là không có căn cứ, đồng thời trái với Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, bởi lẽ ông D – bà H không còn quyền gì đối với thửa đất đã chuyển nhượng cho ông T nên yêu cầu đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có cơ sơ chấp nhận.

Đối với yêu cầu của ông D – bà H về việc tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhận thấy yêu cầu này đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành giải quyết không chấp nhận theo Bản án số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định cho rằng yêu cầu của ông D – bà H được đưa ra sau khi Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, hòa giải nên không xem xét giải quyết là không chính xác.

Do Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết không đúng quy định của pháp luật, nhận định không phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ nên việc áp dụng pháp luật về đường lối giải quyết vụ án không chính xác, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của ông T nên kháng cáo của ông T có cơ sở chấp nhận. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa tòan bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS-ST ngày 20-7-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành theo hướng:

  1. Công nhận quyền sử dụng phần đất diện tích 300,1m² thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai cho ông Phan Tư Liên T.
  2. Ông T được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên chuyển quyền theo quy định của pháp luật.

  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn D và bà Đỗ Thị Hồng H về việc buộc ông Phan T2 Liên T phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 408741 do UBND huyện L cấp ngày 08/12/2009 đối với thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai cho ông D và bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

7

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phan Tư L1 Trường trong hạn luật định và ông T đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.

[3] Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn ông Phan Tư Liên T khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và vợ chồng ông Nguyễn Văn D và bà Đỗ Thị Hồng H lập ngày 19/7/2005 là hợp pháp. Yêu cầu ông D – bà H phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/7/2005 đối với thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn ông Nguyễn Văn D và bà Đỗ Thị Hồng H yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án buộc ông T trả lại cho ông D – bà Hoa giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất trên.

[4] Nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm:

Năm 2003, ông D – bà H được UBND huyện L xét duyệt giao đất tái định cư (Lô số A14) nay là thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L với diện tích 300,1m². Trước khi được UBND huyện L giao lô đất tái định cư trên thì ông D – bà H đã thỏa thuận sang nhượng lô đất cho ông T với giá 25.000.000 đồng, đồng thời ông D – bà H còn lập giấy ủy quyền cho ông T được toàn quyền quyết định sử dụng lô đất tái định cư, kể cả thủ tục nhận đất (Giấy thỏa thuận sang nhượng đất ở khu tái định cư và giấy ủy quyền không ghi ngày tháng năm).

Ngày 12/5/2005, UBND huyện L bàn giao đất tái định cư khu tái định cư T cho ông D – bà H. Ngày 19/7/2005, ông D – bà H lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (trọn lô đất tái định cư) cho ông T theo giấy thỏa thuận sang nhượng đất trước đây đã cam kết. Ông D – bà H cũng đã nhận đủ số tiền 25.000.000 đồng và bàn giao lô đất cho ông T, ông T sau khi nhận đất đã trồng trụ bê tông và rào dây kẽm gai để quản lý đất.

Năm 2008, ông D – bà H khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Long Thành yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với lô đất tái định định cư (lô A14) thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L giữa ông D – bà H và ông T với lý do ông T chưa thanh toán hết số tiền chuyển nhượng. Tuy nhiên, theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/7/2005 thể hiện ông D – bà H đã nhận đủ số tiền 25.000.000 đồng của ông T và mặc dù ông D – bà H khẳng định không ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng trên nhưng tại Kết luận giám định số 2378/C21B ngày 26/01/2010 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận chữ ký tên Đỗ Thị H trên tài liệu cần giám định và chữ ký tên Đỗ Thị H trên các tài liệu cần so sánh là do cùng một người ký ra.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã căn cứ Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H với ông T không bị coi là vô hiệu và đã tuyên

8

không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D – bà H. Do ông D – bà H đều không kháng cáo bản án trên nên bản án có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H và ông T về việc chuyển nhượng lô đất tái định cư (lô A14) thuộc thửa đất 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 19/7/2005 đã được giải quyết bằng Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Do vậy, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đương nhiên là hợp pháp, được pháp luật công nhận và quyền sử dụng thửa đất 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L đã thuộc về ông T kể từ ngày bản án trên có hiệu lục pháp luật. Lẽ ra, bản án dân sự sơ thẩm số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành sau khi tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D – bà H về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền dụng đất đối với lô đất tái định cư (Lô A) thì đồng thời phải công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho ông T hoặc phải tuyên ông T được quyền liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật mới là phù hợp, chứ không nhận định giành quyền khởi kiện cho ông T bằng một vụ kiện dân sự khác.

Ngày 08/12/2009, ông D – bà H được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất nêu trên nhưng cả hai đã không làm thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng cho ông T theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký nên ông T không thể tự thực hiện thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền được, vì vậy ông T mới làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên giữa ông D – bà H với ông T và yêu cầu ông D – bà H phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để ông T được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng.

Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D – bà H với ông T đối với lô đất tái định cư (Lô A 14) nay là thửa 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành giải quyết bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận áp dụng thời hiệu theo yêu cầu của ông D – bà H để đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông T là không chính xác, mà cần phải đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông T theo điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời tuyên ông T được quyền liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật mới là phù hợp pháp luật.

Từ việc áp dụng không đúng điều luật để đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông T đã dẫn đến việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của ông D - bà H, buộc ông T phải trả lại cho ông D – bà Hoa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 408741 do UBND huyện L cấp ngày 08/12/2009 đối với thửa đất 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L trái với Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2010/DS-ST ngày 09/4/2010 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Bởi lẽ căn cứ theo quyết định của bản án trên thì ông D – bà H đã không còn quyền sử dụng đối với thửa đất nên yêu cầu đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cả hai là không có cơ sơ chấp nhận.

Ngoài ra, quá trình Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án phía ông D – bà H tiếp tục yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên.

9

Nhận thấy mặc dù yêu cầu trên đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành giải quyết tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2010/DS-ST ngày 09-4-2010, nhưng trong phần nhận định của bản án này, Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định cho rằng yêu cầu của ông D – bà H được đưa ra sau khi Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, hòa giải nên không xem xét giải quyết cũng là không chính xác.

Do Tòa án cấp sơ thẩm nhận định về đường lối giải quyết vụ án không phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ nên dẫn đến việc áp dụng pháp luật giải quyết vụ án không chính xác, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T nên cần chấp nhận đơn kháng cáo của ông T, sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS-ST ngày 20-7-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành theo hướng đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông T theo điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự và ông T được quyền liên hệ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng thửa đất 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L quy định của pháp luật. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông D – bà H về việc buộc ông T phải trả lại cho ông D – bà H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 408741 do UBND huyện L cấp cho ông D – bà H ngày 08/12/2009 đối với thửa đất 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L.

[7] Về chi phí tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông T phải chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng là đúng quy định (ông T đã nộp đủ số tiền 41.977.954 đồng chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản; số tiền 3.128.000 đồng chi phí cho việc thực hiện thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng).

[8]Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông T phải chịu 300.000 đồng và được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005103 ngày 05/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.
  • - Ông D và bà H phải chịu 300.000 đồng và được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005449 ngày 14/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông T được chấp nhận nên ông T không phải chịu, hoàn trả lại cho ông T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0009898 ngày 02/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với các chứng cứ thể hiện tại hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Phan Tư Liên T.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2022/DSST ngày 20-7-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 180, khoản 2 Điều 184, Điều 185, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 427 Bộ luật Dân

10

sự năm 2005; Điều 105, Điều 149, khoản 3 Điều 150, Điều 166, Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Tư Liên T về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Nguyễn Văn D và bà Đỗ Thị Hồng H. Ông Phan Tư Liên T được quyền liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn D và bà Đỗ Thị Hồng H về việc “Đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 408741 do UBND huyện L cấp ngày 08/12/2009 đối với thửa đất 93, tờ bản đồ số 43 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai)” đối với ông Phan Tư Liên T.
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Phan Tư Liên T phải chịu số tiền 41.977.954 đồng (ông T đã nộp đủ).
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005103 ngày 05/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.
    2. Ông Nguyễn Văn D và bà Đỗ Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005449 ngày 14/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Tư Liên T không phải chịu. Hoàn trả lại cho ông Phan Tư L1 Trường số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0009898 ngày 02/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS huyện Long Thành;
  • - TAND huyện Long Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thảo

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 243/2023/DS-PT ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng qsd và đòi lại giấy chứng nhận qsd đất

  • Số bản án: 243/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD và đòi lại giấy chứng nhận QSD đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T/C HĐCN QSD đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger