Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 243/2024/DSPT

Ngày: 03 - 6 - 2024

V/v “tranh chấp hợp đồng

cầm cố quyền sử dụng đất,

Hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
Các Thẩm phán: Ông Thái Quang Hải;
Ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 03 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2024/TLPT- DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS- ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cờ Đỏ, bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ kháng nghị, bị đơn ông Lê Văn É kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 151/20234QĐPT-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 187/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị Mỹ K, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Đỗ Vinh Q, sinh năm 1950 thuộc Văn phòng L5; địa chỉ: 2 khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

  2. Bị đơn: Ông Lê Văn É, sinh năm 1967; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

    Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Tùng L, sinh năm 1968; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Văn bản uỷ quyền lập ngày 27/3/2018 và ngày 29/3/2018. (có mặt)

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Ông Dương Văn An E, sinh năm 1988; nơi cú trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

    2. Ông Dương Văn A, sinh năm 1980; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

    3. Ông Vương Văn T, sinh năm 1972; nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

    4. Bà Dương Thị T1, sinh năm 1976; nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Long An. (vắng mặt)

    5. Bà Dương Thị Tuyết A1, sinh năm 1968; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

      Đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông An E, ông A, T, ông T1, bà Tuyết A1: Bà Dương Thị Mỹ K, sinh năm 1985; nơi cú trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

    6. Ông Lê Văn Q1, sinh năm 1963; (vắng mặt)

    7. Ông Lê Văn N, sinh năm 1969; (vắng mặt)

    8. Bà Lê Thị L1, sinh năm 1971; (vắng mặt)

      Cùng trú tại: KV L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

      Đại diện theo uỷ quyền của ông Q1, bà N, bà L1: Ông Nguyễn Tùng L, sinh năm 1968; nơi cú trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

  4. Người kháng cáo: Ông Lê Văn É là bị đơn trong vụ án.

  5. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ K đồng thời là đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông An E, ông A, ông T, bà T1, bà Tuyết A1 trình bày:

Cha mẹ bà là ông Dương Văn Q2 (chết năm 2021) và bà Nguyễn Thị L2 (chết năm 2016). Cha mẹ bà có 08 người con: Ông Dương Văn An E, ông Dương Văn A, ông Vương Văn T, bà Dương Thị T1, bà Dương Thị Tuyết A1, bà Dương Thị Tuyết E1 (chết năm 2005), ông Dương Trung H (chết năm 1988) và bà Dương Thị Mỹ K.

Trước đây, ông Q2 có tổng diện tích đất là 10 công nhà nước (tương đương 10.000 m²). Đất toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Năm 1991, ông Q2 nhượng lại cho ông Lê Phú L3 (cha ông Én) diện tích 04 công tầm nhà nước (tương đương 4.000 m²) và một nền đất thổ cư; nhượng lại cho ông K1 (không rõ họ, tên) 03 công tầm nhà nước (tương đương 3.000 m²) nhưng ông K1 để lại cho ông L3 sử dụng (việc nhượng lại theo chính sách hộ A-B). Trong năm 1991, ông Q2 đi kê khai và được đứng trên sổ mục kê tại thửa 472, tờ bản đồ 06. Phần diện tích đất còn lại, ông Q2 có thoả thuận cầm cố cho ông L3 diện tích đất là 2.992 m². Đến năm 1994, cũng trên phần đất này, ông Q2 tiếp tục thoả thuận chuyển nhượng cho ông L3 một phần diện tích nền nhà có kích thước cạnh ngang tiếp giáp lộ giao thông là 04 m x cạnh dài 16m. Hai phần diện tích cầm cố và bán nên nhà đều có giấy tay. Do mâu thuẫn gia đình, ông Q2 nhậu say về đốt cháy toàn bộ căn nhà đang ở cùng các giấy tờ trong đó có Giấy cầm cố quyền sử dụng đất. Theo kết quả đo đạc thực tế thửa 472, tờ bản đồ 06, diện tích 6.946 m² (trong đó có phần diện tích ông Q2 giao trả lại cho ông L3 4.000 m² + 01 phần diện tích đất nền nhà; một phần diện tích đất nền nhà ông Q2 chuyển nhượng cho ông L3 (năm 1994) và phần diện tích còn lại ông Q2 cầm cố cho ông L3 vào khoảng năm 1991).

Hiện toàn bộ phần diện tích đất tranh chấp, ông É đang quản lý sử dụng. Khi còn sống, ông Q2 có yêu cầu ông É chuộc lại phần đất cầm cố diện tích 2.992 m² nhưng ông É không đồng ý. Sau đó, bà tiến hành làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu đo đạc thửa đất 472 thì phía bị đơn ông É ngăn cản.

Nay nguyên đơn bà K yêu cầu tuyên bố hợp đồng cố đất được xác lập vào năm 1991 giữa ông Q2 với ông L3 là vô hiệu. Buộc bị đơn ông Lê Văn É có trách nhiệm trả lại cho bà phần đất diện tích là 2.992m², tại thửa 472 và đồng ý trả lại cho bị đơn ông É 02 chỉ vàng 24k và 50 giạ lúa (tương đương 1.000 kg) theo giống lúa cao sản hiện nay.

Theo Đơn phản tố và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Lê Văn É và đồng thời là đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Q1, ông N, bà L1 - Ông Nguyễn Tùng L trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp trước đây là của ông Lê Phú L3 (cha ông É) khai mở. Trước đây, Tập đoàn lấy đất của ông L3 để cấp cho ông Q2 theo chính sách nhường cơm sẻ áo. Trước năm 1991, khi thực hiện chính sách hộ A-B, ông L3 được ông Q2 giao trả toàn bộ diện tích đất để nhận lại 50 giạ lúa. Do ông Q2 không có chỗ ở khác nên ông L3 để lại cho ông Q2 một phần diện tích đất (01 nền nhà) để lưu cư đến khi nhà nước có chính sách di dân về khu dân cư vượt lũ thì ông Q2 di dời nhà trả lại đất. Đến năm 1994, có chủ trương di dân về khu dân cư vượt lũ xã T, gia đình ông Q2 đã di dời đến chỗ ở mới nhưng không đồng ý tháo dở, di dời nhà mà yêu cầu gia đình ông É phải trả thêm 80 giạ lúa thì đồng ý di dời. Ông L3 đồng ý và giao thêm ông Q2 80 giạ lúa. Khi ông Q2 di dời xong, ông Lục tặng cho toàn bộ phần đất nhận từ ông Q2 cho ông É sử dụng ổn định cho đến nay. Như vậy, gia đình ông L3 phải mua đất của ông Q2 đến 02 lần. Trong đó, thửa đất 472 ông Q2 cho rằng là đất thổ cư nhưng theo sổ mục kê là đất trồng lúa và liền kề thửa 472 khoảng diện tích 4.000 m² (Mua bán bằng giấy tay và giao đất cho ông É sử dụng từ năm 1991 cho đến nay).

Từ khi sử dụng cho đến nay là khoảng 33 năm, ông É chưa đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguyên đơn bà K lợi dụng ông Q2 còn đứng tên trên sổ mục kê đối với phần đất tranh chấp nên khởi kiện tranh chấp nhưng gia đình bà K chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất.

Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phía bị đơn không đồng ý. Bị đơn ông É không thừa nhận trước đây ông L3 có cầm cố quyền sử dụng đất với ông Q2 mà xác định toàn bộ phần đất tranh chấp, ông Q2 đã nhận giá trị thói thành quả lao động từ ông L3 và ông L3 nhận chuyển nhượng đất từ ông Q2. Nay phía bị đơn ông É yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 6.946m², tại thửa 472, tờ bản đồ 06, thuộc quyền sử dụng của ông É.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS- ST ngày 23/01/2024 Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Mỹ K đối với bị đơn ông Lê Văn É về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất xác lập vào năm 1991 là vô hiệu.

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Văn É đối với nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ K về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất theo văn bản (giấy tay) lập ngày 01/3/1991.

Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất vào năm 1991 là vô hiệu.

Buộc bà Dương Thị Mỹ K có trách nhiệm trả cho bị đơn ông Lê Văn É 02 chỉ vàng 24k và số tiền 11.000.000 đồng.

Buộc bị đơn ông Lê Văn É phải trả cho nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ K một phần đất tại vị trí A: 791,2m² (đã trừ đường giao thông 64,6 m²), loại đất LUC và vị trí D: 1.301,6 m², loại đất LUC, thuộc một phần thửa 472, tờ bản đồ số 06.

Công nhận cho ông Lê Văn É được quyền sử dụng diện tích tại vị trí B: 671,8m² (đã trừ đường giao thông 86,8 m²), loại đất LUC và vị trí C: 100,5 m², loại đất LUC và vị trí E: 2.652 m², loại đất LUC, thuộc một phần thửa 472, tờ bản đồ số 06.

Đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Vị trí, kích thước phần đất giao cho các bên được xác định theo bản trích đo địa chính do Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C lập ngày 08/9/2023 và ngày 24/11/2023 (đính kèm bản án). Đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để là thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng; án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo; quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.

Bản án trên đã bị đơn ông Lê Văn É kháng cáo; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ kháng nghị. Theo Quyết định kháng nghị số 11/QĐ - VKS - DS ngày 22/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp chứng cứ mới.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, công nhận cho bị đơn quyền sử dụng phần đất có diện tích 6.946m² do đất này cha bị đơn khai mở và gia đình bị đơn đã có quá trình quản lý, sử dụng hơn 33 năm. Ngoài ra, tại phiên tòa đại diện bị đơn có yêu cầu kháng cáo bổ sung về việc đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận Bản trích đo địa chính số 1394A/TTKTTNMT ngày 24/11/2023 của Trung tâm K, thành phố Cần Thơ vì Bản trích đo này Tòa sơ thẩm chưa công bố nên phía bị đơn không biết.

Nguyên đơn, đồng thời là người đại diện ủy quyền của ông An E, ông A, T, ông T1, bà Tuyết A1 đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm Chủ tọa, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Nhận thấy, phần đất tại thửa 472, tờ bản đồ số 6, diện tớch 2.992m², loại đất LUC (phần tranh chấp tại vị trớ A, B) theo bản trớch đo địa chớnh số 982/TTKTTNMT ngày 08/9/2023 của Trung tõm K thuộc Sở T4 thành phố cần Thơ, đất tọa lạc ấp T, xó T, huyện C, thành phố Cần Thơ do ụng Dương Văn Q2 (cha ruột bà Dương Thị Mỹ K) đứng tòn sổ mục kờ. Phần đất này hiện tại do bị đơn ụng Lờ Văn ẫ quản lý và sử dụng.

Theo bị đơn trỡnh bày, phần đất cú nguồn gốc là của ụng Lờ Phỳ L3 (cha bị đơn) khai mở. Do thực hiện chớnh sỏch nhường cơm sẻ ỏo nòn phần đất của ụng L3 được tập đoàn giao cho ụng Q2 sử dụng. Sau khi cú chớnh sỏch trả lại đất thở ngày 01/3/1991 ụng Q2 lập tờ thỏa thuận giao trả toàn bộ số đất của ụng là 04 cụng tầm nhà nước và một thổ cư từ cõy Gũn trở qua cho ụng L3 để nhận 50 giạ lỳa, cam kết khụng ý kiến khiếu nại và được ụng Nguyễn Mộng L4 tổ nụng nghiệp ấp xỏc nhận vào ngày 03/3/1991 (nội dung giao trả thể hiện tại tờ giấy viết tay tại bỳt lục 69). Đến ngày 18/02/1994 õm lịch, ụng Q2 tiếp tục lập “Tờ bỏn đất thổ cư” cho ụng L3 với giỏ 80 giạ lỳa. Việc mua bỏn cú 02 người lõn cận chứng kiến là ụng Phạm Phỏt Đ và ụng Trần Văn T2 được ụng Nguyễn Văn T3 là Tổ phú Tổ tự quản số 9 khu vực K thuộc ấp T xó́c nhận. ễng Lờ Phỳ L3 (ụng Lờ Văn ẫ) sử dụng ổn định, liòn tục tròn 30 năm, khụng ai tranh chấp.

Nguyờn đơn bà Dương Thị Mỹ K cho rằng ụng Dương Văn Q2 (cha ruột bà K) cú 10 cụng đất, ụng Q2 bỏn cho ụng K2 03 cụng, bỏn cho ụng Lờ Phỳ L3 (cha ụng Lờ Văn ẫ) 04 cụng, sau đú ụng K2 bỏn phần của ụng K2 cho ụng Phỳ L3, ụng Q2 cũn lại phần đất cú diện tớch là 2.992m² thửa 472, tờ bản đồ số 6 (Dương Văn Q2 đứng tòn tròn sổ mục kờ ruộng đất thỏng 9/1989), đất tọa lạc ấp T, xó T, huyện C và phần đất cũn lại của thửa 472 diện tớch 2.992m² ụng Q2 đó cố cho ụng L3 vào năm 1991 với giỏ 02 chỉ vàng 24k và 50 giạ lỳa. Sau một thời gian cũng tròn thửa đất đú ụng Q2 cú bỏn cho ụng Phỳ L3 01 phần diện tớch căn nhà mặt lộ 04m với diện tớch ngang 04m x dài 16m, hiện tại căn nhà do ụng ẫ đang ở, việc cố và bỏn đất cú viết giấy tay mỗi bòn giữ một bản, nhưng do nhà bị chỏy nòn khụng cũn giấy tờ liờn quan đến việc cố và bỏn đất. Tuy nhiờn, ngoài phần đất tại thửa 472 ụng Dương Văn Q2 đứng tòn tròn sổ mục kờ thở khụng cũn chứng cứ khỏc chứng minh ụng Q2 cũn phần đất khỏc ngoài phần đất đó giao trả và chuyển nhượng cho ụng L3 năm 1991 và năm 1994. Mặt khỏc, nguyờn đơn cho rằng ụng Q2 cố đất cho ụng L3 năm 1991 nhưng phớa bị đơn ụng ẫ khụng thừa nhận và nguyờn đơn khụng cung cấp được chứng cứ, văn bản nào chứng minh cú việc việc cố đất như nguyờn đơn trỡnh bày.

Như vậy, căn cứ vào cỏc chứng cứ là tờ viết tay của ụng Dương Văn Q2 nội dung giao trả toàn bộ số đất cho ụng Lờ Phỳ L3, nhận 50 giạ lỳa vào ngày 01/3/1991 và Tờ bỏn đất thổ cư ngày 18/2/1994 nhận 80 giạ lỳa (bỳt lục 68,69) cú đủ căn cứ xỏc định ụng L3 đó thối thành quả lao động cho ụng Q2 để nhận lại đất gốc và đó thỏa thuận mua lại luụn phần trước đõy ụng Q2 ở nhờ. Do đú, khụng cũn phần đất khỏc để ụng Q2 cố đất cho ụng L3. Nòn việc Tủa ỏn cấp sơ thẩm tuyờn chấp nhận một phần yòu cầu khởi kiện của nguyờn đơn, đồng thời tuyờn hợp đồng cầm cố năm 1991 vụ hiệu là hoàn toàn khụng cú căn cứ.

Ngoài ra, đối với phần đất diện tớch 3.954m² thuộc một phần thửa 472 (vị trớ c theo bản trớch đo địa chớnh số 982/TTKTTNMT ngày 08/9/2023 của Trung tõm K thuộc Sở Tài nguyờn và Mụi trường thành phố T4), tại biờn bản hũa giải 03/7/2023 và biờn bản hũa giải ngày 09/11/2023 nguyờn đơn xỏc định đõy là phần diện tớch ụng Q2 đó giao trả cho ụng L3, xỏc định khụng tranh chấp và đồng ý cụng nhận cho bị đơn ụng ẫ. Do đú cú cơ sở để cụng nhận phần đất trờn theo yòu cầu phản tố của bị đơn. Tuy nhiờn, Tủa ỏn cấp sơ thẩm lại căn cứ theo bản trớch đo địa chớnh số 1394A/TTKTTNMT ngày 24/11/2023 của Trung tōm K thuộc Sở Tài nguyờn và Mụi trường thành phố T4 (viết tắt Bản trớch đo địa chớnh số 1394A//TTKTTNMT) để buộc bị đơn giao trả vị trớ A, D cho cho nguyờn đơn (trong đú vị trớ D là một phần diện tớch nguyờn đơn xỏc định khụng tranh chấp, được ký hiệu c theo bản trớch đo địa chớnh số 982/TTKTTNMT ngày 08/9/2023 của Trung tõm K thuộc Sở Tài nguyờn và Mụi trường thành phố T4) là khụng cú căn cứ, vượt quỏ phạm vi yòu cầu khởi kiện của nguyờn đơn, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dõn sự năm 2015.

Mặt khỏc, tại phần quyết định của bản ỏn, Tủa ỏn cấp sơ thẩm ỏp dụng Bản trớch đo địa chớnh số 1394A//TTKTTNMT ngày 24/11/2023 của Trung tōm K thuộc Sở Tài nguyờn và Mụi trường thành phố T4, được ghi nhận là bản trớch đo được “Điều chỉnh theo Cụng văn số 127/2023/TA ngày 17/11/2023 của Tũa ỏn nhõn dõn huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ thay thế Bản trớch đo địa chớnh số 982/TTKTTNMT ngày 08/9/2023 của Trung tõm K thuộc Sở Tài nguyờn và Mụi trường thành phố T4”. Tuy nhiờn, đối với Bản trớch đo tròn thở khụng được Tủa ỏn cấp sơ thẩm cụng bố trong cỏc buổi tiếp cận, cụng khai chứng cứ và cũng khụng cụng bố tại phiòn tũa sơ thẩm để cỏc đương sự biết (tại phiòn tũa sơ thẩm, Thẩm phỏn chủ tọa phiờn tũa chỉ cụng bố cỏc Biòn bản xỏc minh ngày 22/11/2023, ngày 03/01/2024) là vi phạm khoản 1 Điều 109 Bộ luật Tố tụng dõn sự “Mọi chứng cứ được cụng bố và sử dụng cụng khai như nhau, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”. Đồng thời, quỏ trỡnh Tủa ỏn cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết, tại cỏc buổi hũa giải cỏc đương sự đều thống nhất đối với Bản trớch đo địa chớnh số 982/TTKTTNMT ngày 08/9/2023 của Trung tõm K thuộc Sở Tài nguyờn và Mụi trường thành phố T4 và khụng cú yờu cầu tũa ỏn điều chỉnh lại Bản trớch đo hay xỏc định lại vị trớ phần đất tranh chấp. Do đú, việc Tủa ỏn cấp sơ thẩm giải quyết vụ ỏn căn cứ vào Bản trớch đo địa chớnh số 1394A/TTKTTNMT chưa được cụng khai chứng cứ để cỏc đương sự biết là ảnh hưởng nghiờm trọng đến quyền và lợi ích hợp phỏp của cỏc đương sự.

đương sự.

Từ cỏc phõn tớch tròn cho thấy, khỏng cỏo của bị đơn và khỏng nghị

của Viện kiểm sỏt nhõn dõn thành phố Cần Thơ là cú cơ sở.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, và toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, sửa bản án sơ thẩm số 02/2024/DS- ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà K yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất vào năm 1991 là vô hiệu. Buộc bị đơn ông É có trách nhiệm trả lại diện tích đất là 2.992 m², thuộc thửa đất số 472, tờ bản đồ 06. Bà K đồng ý trả cho ông É 02 chỉ vàng 24k và 50 giạ lúa. Bị đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 6.946 m², thửa 472, tờ bản đồ 06 theo văn bản (giấy tay) lập ngày 11/3/1991. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ thụ lý giải quyết và xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là đúng luật.

[2] Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS- ST của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ được tuyên vào ngày 23/01/2024. Ngày 24/ 01/2024 ông É có đơn kháng cáo và ngày 06/02/2024 nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Như vậy, ông É đã thực hiện quyền và nghĩa vụ kháng cáo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ thực hiện quyền kháng nghị đúng thẩm quyền và thời gian kháng nghị.

[3] Nhận thấy, theo nội dung đơn kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát đều có cùng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn đồng thời xem xét không chấp nhận Bản trích đo địa chính số 1394A ngày 24/11/20243 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét kháng nghị của Viện kiểm sát cũng đồng thời là xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

[4] Xét kháng nghị số 11/QĐ - VKS - DS ngày 22/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc không công nhận hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất có diện tích 2.992m² cho nguyên đơn do không có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy, trong năm 1991 ông Q2 có kê khai 01 phần đất và được Nhà nước cho đăng ký trong sổ mục kê được thể hiện là thửa 472, tờ bản đồ số 06 diện tích đăng ký là 2.992m². Đối chiếu với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/8/2023 và ngày 16/02/2023; Bản trích đo địa chính ngày 08/9/2023 thể hiện phần diện tích đất tranh chấp tại vị trí A+ B là 2.992 m², thuộc thửa 472, tờ bản đồ số 06 và vị trí C diện tích 3.954 m² (phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Theo Công văn số 1586/UBND- TNMT, ngày 18/10/2023 của Ủy ban nhân dân huyện C thể hiện: “...Phần đất tranh chấp là 2.992 m² (vị trí A, B) và phần diện tích 3.954 m² (vị trí C) không tranh chấp, thuộc thửa 472..".

[5] Đối với phần đất 3.954 m² (vị trí C) của bản trích đo địa chính, căn cứ vào tờ giao trả đất lập ngày 01/3/1991 của ông Q2 có xác nhận của Tổ nông nghiệp ấp P ngày 03/3/1991 có nội dung “ tôi bằng lòng giao trả toàn bộ số đất của tôi là 04 công (bốn công) và một thổ cư từ cây gòn trở qua cho ông Lê Phú L3 để nhận 50 giạ lúa”. Như vậy, theo nội dung của tờ giao trả đất này thì ông Q2 chỉ trả cho ông L3 diện tích đất là 04 công và một nền thổ cư. Quá trình giải quyết phía nguyên đơn cũng thừa nhận phần đất diện tích 3.954 m² (vị trí C) nguyên đơn không tranh chấp do cha bị đơn đã giao lại cho ông L3 từ năm 1991, phần diện tích đất này cũng tương đối phù hợp với diện tích đât ông Q2 giao lại ông L3 qua Tờ thỏa thuận năm 1991. Do đó, có cơ sở để xác định phần đất ông Q2 giao trả cho ông L3 theo Tờ thỏa thuận ngày 01/3/1991 có diện tích 3.954m² tại vị trí C của bản trích đo địa chính

[6] Riêng nền thổ cư, mặc dù Tờ giao trả đất không xác định diện tích cũng như vị trí cụ thể. Tuy nhiên, theo bản trích đo địa chính ngày 08/9/2023 thể hiện ông É đang sử dụng thực tế phần diện tích đất dùng để cất nhà là 758,6m² (có 86,8 m² đường giao thông). Tại phiên toà, nguyên đơn bà K thừa nhận phần diện tích đất nền nhà theo văn bản (giấy tay) lập ngày 11/3/1991 và Tờ bán đất thổ cư (giấy tay) lập ngày 08/2/1994 thì phần đất nền nhà ông Q2 giao trả có diện tích là 758,6m² (có 86,8 m² đường giao thông). Như vậy, căn cứ vào thực tế sử dụng và sự thừa nhận của các bên cho thấy nền thổ được xác định tại vị trí B của Bản trích đo địa chính, có diện tích 758,6m², tổng diện tích đất ông Q2 giao trả cho ông L3 là 4.712,6m² tại vị trí B,C, Bản trích đo địa chính số 982 ngày 08/9/2023 Trung tâm K thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố T4. Phần diện tích còn lại của thửa 472 là 2.187.4m², thửa đất này theo sổ mục kê do ông Q2 kê khai và được đăng ký sử dụng. Tại phiên tòa, đại diện của bị đơn cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp này trước đây là của ông L3 tự khai phá, sau đó thực hiện chính sách quản lý đất của Nhà nước nên ông L3 giao đất cho tập đoàn V đã cấp lại cho ông Q2 theo chính sách nhường cơm sẻ áo đến trước năm 1991 ông Q2 mới giao lại cho ông L3 nên đất là thuộc quyền sử dụng của ông L3. Tuy nhiên, phía bị đơn không có chứng cứ nào thể hiện ông Q2 đã giao trả hết thửa đất này cho ông L3. Mặt khác, theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP (ngày 29/10/2004) quy định: Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất cũng như không xem xét giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất mà Nhà nước đã giao cho người khác sử dụng theo các chính sách ruộng đất trước ngày 15/10/1993, trong đó có bao gồm đất đã chia cho người khác khi hưởng ứng cuộc vận động san sẻ bớt một phần ruộng đất để chia cho người không có ruộng và thiếu ruộng tại miền nam sau ngày giải phóng. Như vậy, khi thực hiện chính sách giao đất cho tập đoàn thì ông L3 đã không còn quyền sử dụng đất này. Ông Q2 được giao đất và đã kê khai đăng ký vào sổ mục kê quản lý đất của địa phương, đây là cơ sở pháp lý để ông Quang hợp thức h quyền sử dụng đất. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận quyền sử dụng đất còn lại có diện tích 2.992 m² là của ông Q2, cha nguyên đơn là có căn cứ; Bị đơn chỉ chứng minh được nguồn gốc đất sử dụng theo tờ thỏa thuận ngày 01/3/1991 với diện tích 4.712,6m² nên yêu cầu được công nhận toàn bộ diện tích đất 6.946m² chỉ có căn cứ chấp nhận một phần.

[7] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn bà K thừa nhận, sau khi giao trả lại phần đất theo văn bản lập ngày 11/3/1991, phần diện tích còn lại là 2.992 m² thì ông Q2 có thoả thuận cầm cố quyền sử dụng đất cho ông L3 với giá cầm cố là 02 chỉ vàng 24k và 50 giạ lúa. Đến năm 1994, ông Q2 tiếp tục thoả thuận chuyển nhượng cho ông L3 một phần diện tích đất nền nhà (không rõ diện tích cụ thể). Tại phiên toà, nguyên đơn bà K thừa nhận 02 phần đất nền nhà là có tổng diện tích là 758,6m² (có 86,8 m² đường giao thông) thì phần diện tích đất cầm cố còn lại 2.233,4m² (có 64,6 m² đường giao thông) thuộc quyền sử dụng của ông Q2. Phía bị đơn ông É không thừa nhận ông L3 có cầm cố quyền sử dụng đất với ông Q2 nhưng phía bị đơn không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh phần diện tích đất này là ông L3 đã thoả thuận chuyển nhượng hay nhận lại đất giao trả từ ông Q2. Trong trường hợp này, lời thừa thừa nhận của nguyên đơn thuộc trường hợp không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Dân sự. Do đó, có cơ sở xác định ông Q2 có cầm cố quyền sử dụng đất cho ông L3. Việc ông É sử dụng phần diện tích đất còn lại là do ông L3 nhận cầm cố quyền sử dụng đất từ ông Q2.

[8] Xét Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất được xác lập vào năm 1991: Theo quy định tại khoản 4 Điều 12 và Điều 179 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 116, Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mục đích và nội dung của giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Q2 với ông L3 là vi phạm điều cấm của pháp luật. Do đó, giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập, nội dung và hình thức trong giao dịch này không phù hợp quy định của pháp luật nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất xác lập vào năm 1991 vô hiệu là phù hợp, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ và kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.

[9] Đối với kháng nghị về việc Tòa án cáp sơ thẩm buộc bị đơn giao trả vị trí A, D của Bản trích đo địa chính số 1394A ngày 24/11/2023 cho nguyên đơn là không có căn cứ, vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy, theo đơn khởi kiện nguyên đơn chỉ tranh chấp và yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng đất qua đo đạt thực tế có diện tích 2.187,4m² thể hiện tại vị trí A+ B của bản trích đo địa chính số 982. Riêng phần đất diện tích 3.954m² thuộc một phần thửa 472, tại vị trí C bản trích đo địa chính 982/TTKTTNMT ngày 08/9/2023 như đã phân tích trên đây là phần đất mà ông Q2 đã giao trả lại cho ông L3 theo Tờ thỏa thuận ngày 01/3/1991. Mặt khác, tại các phiên hòa giải ngày 03/7/2023 và 09/11/2023 nguyên đơn cũng xác định đây là diện tích đất ông Q2 giao trả ông L3, nguyên đơn không tranh chấp và đồng ý công nhận theo yêu cầu phản tố của bị đơn. Theo bản trích đo địa chính số 1394A ngày 24/11/2023 thì vị trí D có một phần thuộc vị trí C của bản trích số 982/TTKTTNMT ngày 08/9/2023. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn giao trả vị trí A, D của Bản trích đo địa chính số 1394A ngày 24/11/2023 cho nguyên đơn là không có căn cứ, vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện. Do đó, phần kháng nghị này của Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận;

[10] Ngoài ra, kháng nghị của Viện kiểm sát cũng như kháng cáo bổ sung của bị đơn tại phiên tòa đều đề nghị không chấp nhận bản trích đo địa chính số 1394A/TTKTTNMT ngày 24/11/2023. Hội đồng xét xử xét thấy, bản trích đo địa chính số 1394A/TTKTTNMT ngày 24/11/2023 được thực hiện dựa trên căn cứ là công văn 127/2023/TA ngày 17/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ. Như vậy, Bản trích đo cũng là tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập, cần được công bố công khai chứng cứ theo quy định. Tuy nhiên, theo hồ sơ thể hiện, tài liệu này chưa được công bố để các đương sự tiếp cận, thể hiện ý kiến đối với Bản trích đo này. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm sử dụng bản trích đo địa chính số 1394A/TTKTTNMT ngày 24/11/2023 để làm căn cứ tuyên án là vi phạm tố tụng và ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên kháng nghị của Viện kiểm sát về việc không chấp nhận Bản trích đo này.

[12] Theo hồ sơ thể hiện, các đồng thừa kế của ông Q2 và bà L2 chỉ ủy quyền cho bà K tham gia tố tụng, không ủy quyền về tài sản cho bà K. Do đó, Tòa án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn trả đất cho bà K và bà K có trách nhiệm trả vàng và tiền cho bị đơn là không đúng cần điều chỉnh lại;

[13] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn không phải chịu. Bị đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 12, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần kháng nghị số 11/QĐ-VKS-DS ngày 22/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ và chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn É.

  2. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS- ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

    1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Mỹ K đối với bị đơn ông Lê Văn É về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất xác lập vào năm 1991 là vô hiệu.

    2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Văn É đối với nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ K về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất theo văn bản (giấy tay) lập ngày 01/3/1991.

Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất vào năm 1991 là vô hiệu.

Buộc bà Dương Thị Mỹ K và những người đồng thừa kế của ông Q2, bà L2 (Dương Văn An E, Dương Văn A, Vương Văn T, Dương Thị T1, Dương Thị Tuyết A1) có trách nhiệm trả cho bị đơn ông Lê Văn É 02 chỉ vàng 24k và số tiền 11.000.000 đồng.

Buộc bị đơn ông Lê Văn É phải trả cho nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ K và những người đồng thừa kế của ông Q2, bà L2 (Dương Văn An E, Dương Văn A, Vương Văn T, Dương Thị T1, Dương Thị Tuyết A1) một phần đất tại vị trí A: 2233,4m² (đã trừ đường giao thông 98,7m² đường giao thông), loại đất LUC và vị trí D: 1.301,6 m², loại đất LUC, thuộc một phần thửa 472, tờ bản đồ số 06.

Công nhận cho ông Lê Văn É được quyền sử dụng diện tích tại vị trí B: 758,6m², loại đất LUC và vị trí C: 3954m², loại đất LUC và vị trí E: 2.652 m², loại đất LUC, thuộc một phần thửa 472, tờ bản đồ số 06.

Đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Vị trí, kích thước phần đất giao cho các bên được xác định theo bản trích đo địa chính 982/TTKTTNMT ngày 08/9/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C lập và đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để là thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

  1. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản là 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng), nguyên đơn và bị đơn mỗi bên phải chịu 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Nguyên đơn nộp số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), bị đơn đã nộp số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) và đã chi xong.

  2. Về án phí:

    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị K và những người đồng thừa kế của ông Q2, bà L2 (Dương Văn An E, Dương Văn A, Vương Văn T, Dương Thị T1, Dương Thị Tuyết A1) phải nộp số tiền 1.150.000 đồng (một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009597 ngày 14/11/2022. Buộc bà K và những người đồng thừa kế của ông Q2, bà L2 (Dương Văn An E, Dương Văn A, Vương Văn T, Dương Thị T1, Dương Thị Tuyết A1) phải nộp thêm số tiền 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng)

      Ông Lê Văn É phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004510 ngày 19/06/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ thành án phí.

    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn É không phải chịu. Bị đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007877 ngày 06/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND huyện Cờ Đỏ;
  • - Chi cục THA-DS huyện Cờ Đỏ;
  • - Phòng KTNV& THA;
  • - Văn phòng;
  • - Đương sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 243/2024/DSPT ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 243/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiều - Én - Tranh chấp HĐCN QSD đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger