Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 243/2024/DS – ST

Ngày: 01 – 8 – 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Nam
  2. Bà Lê Thị Thanh Vân.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thụ lý số 373/2024/TLST – DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 519/2024/QĐXXST – DS ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đặng, sinh năm 1955
  2. Địa chỉ: Số G C, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

    Ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Trần Danh M, sinh năm 1951. Địa chỉ: số F, khóm Đ, phường M, thành phố L, An Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 12/6/2024).

  3. Bị đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1968
  4. Ông Trang Văn D, sinh năm 1968

    Địa chỉ: Số G, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, có mặt tất cả các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Đặng, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn là ông Trần Danh M trình bày:

Giữa ông Đ1 và vợ chồng ông D, bà Đ có mối quan hệ quen biết do là hàng xóm của nhau. Trong năm 2021 và năm 2022, ông Đ1 có cho ông D và bà Đ vay tiền 02 lần:

Lần 1: Ông D, bà Đ vay của ông Đ1 200.000.000 đồng. Mục đích vay mua xe tải vận chuyển trái cây lên Tiền Giang bán, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng. Phương thức trả lãi mỗi tháng, trả vốn hàng quý với số tiền 20.000.000 đồng, đến 30.000.000 đồng. Ông D, bà Đ có viết biên nhận nhận tiền ngày 30/3/2021. Sau khi nhận đủ tiền vay, ông D, bà Đ trả lãi được 13.000.000 đồng cho đến nay. Cụ thể ngày 01/5/2021 trả lãi 6.000.000 đồng, ngày 02/6/2021 trả lãi 6.000.000 đồng và ngày 03/7/2021 trả lãi 1.000.000 đồng.

Lần 2: Đến ngày 12/6/2022, ông D, bà Đ tiếp tục vay thêm 60.000.000 đồng. Ông D có viết biên nhận của 02 lần vay là 260.000.000 đồng và cam kết sau 03 tháng sẽ trả lãi, vốn. Trường hợp không thực hiện được nghĩa vụ trả lãi và vốn thì ông D, bà Đ sẽ làm giấy sang tên đất xe tải đã mua cho ông Đ1. Tuy nhiên, sau đó, ông D, bà Đ không trả vốn và lãi cũng không sang tên xe cho ông Đ1. Ông Đặng g tiền trực tiếp cho ông D, ông D là người trực tiếp nộp lãi cho ông Đ1. Ông Đ1 nhiều lần yêu cầu trả nợ, ông D, bà Đ có hứa hẹn nhưng không thực hiện và trốn nợ nay mới quay về. Do đó, ông Đ1 yêu cầu D và bà Đ trả lại cho ông tổng số tiền còn nợ là 260.000.000 đồng; yêu cầu ông D, bà Đ trả lãi theo lãi suất quy định của pháp luật kể từ ngày vay là ngày 12/6/2022 đến ngày Tòa án xét xử.

* Theo các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn là ông Trang Văn D trình bày:

Ông với bà Phạm Thị Đ là vợ chồng. Do cần tiền để đầu tư vốn mua bán mít thái nên ông có hỏi vay ông Đ1 200.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng. Ông có viết biên nhận nợ ngày 30/3/2021 và ký tên vào biên nhận. Do ông Đ1 yêu cầu phải có vợ cùng ký tên mới đồng ý cho vay nên ông đã tự ký tên vào Biên nhận ngày 30/3/2021 thay vợ ông là bà Phạm Thị Đ. Sau đó, ông đưa biên nhận cho ông Đ1 và ông Đặng g tiền cho ông. Sau khi nhận đủ tiền vay, ông có nộp lãi được 17.000.000 đồng của 03 tháng, tháng thứ 3 nợ lại 1.000.000 đồng do dịch bệnh Covid không làm ăn được. Hai lần đầu ông trả lãi cho ông Đ1, đến lần thứ 3, ông trả cho ông K, cháu của ông Đ1. Ông Đ1 là người ghi lại việc trả lãi, ông không có theo dõi. Do dịch bệnh nên ông không còn khả năng nộp lãi tiếp tục. Đến ngày 12/6/2022, ông có ghi biên nhận nợ ông Đ1 60.000.000 đồng, số tiền này không phải là tiền vốn vay mà là tiền lãi của số tiền 200.000.000 đồng trong 10 tháng dịch bệnh mà ông không nộp được. Từ sau khi ghi biên nhận ngày 12/6/2022, ông không nộp lãi thêm cho ông Đ1. Nay, ông thừa nhận vợ chồng ông có nợ ông Đ1 là 200.000.000 đồng tiền vốn và đồng ý trả lãi cho ông Đ1 theo quy định của pháp luật.

* Bà Phạm Thị Đ là đồng bị đơn trong vụ án trình bày tại phiên tòa:

Bà và ông Trang Văn D là vợ chồng. Bà thừa nhận vợ chồng bà có nợ ông Đ1 là 200.000.000 đồng. Bà thống nhất với lời trình bày của ông D. Ngoài ra, bà không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.

[2] Ông Nguyễn Đặng 1 nguyên đơn trong vụ án ủy quyền cho ông Danh M. Việc ủy quyền được lập thành văn bản, được chứng nhận và nội dung ủy quyền không trái với quy định pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung:

[3] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, nguyên đơn cung cấp chứng cứ là bản phôtô Biên nhận ngày 31/3/2021 và bản chính biên nhận ngày 12/6/2022. Nội dung thể hiện, ngày 30/3/2021 ông Trang Văn D và bà Phạm Thị Đ có mượn của ông Đ1 200.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, trả lãi mỗi tháng, trả vốn hàng quý với số tiền 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; ngày 12/6/2022, ông D tiếp tục viết biên nhận có nợ ông Đ1 60.000.000 đồng, tổng cộng 260.000.000 đồng và cam kết trả lãi, trường hợp không nộp lãi trong 03 tháng thì sang tên xe cho ông Đ1.

[4] Căn cứ vào các chứng cứ trên và sự thừa nhận của bị đơn là đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa ông Đ1, ông D, bà Đ tự nguyện xác lập giao dịch dân sự là hợp đồng vay tài sản có thời hạn và có lãi. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 465, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (viết tắt BLDS 2015) để xem xét yêu cầu khởi kiện. Xét thấy, ông D, bà Đ đã không trả lãi cho ông Đ1 từ sau ngày 12/6/2022 và đến nay vẫn không trả tiền vốn vay là vi phạm nghĩa vụ của bên vay, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp của bên cho vay. Do đó, căn cứ Điều 466, Điều 470 của BLDS 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông D, bà Đ phải có nghĩa vụ trả lại tiền vốn vay và lãi cho ông Đ1.

[5] Xét về tiền vốn vay: Căn cứ biên nhận ngày 12/6/2022, do ông D viết có nợ ông Đ1 là 60.000.000 đồng, tính tổng cộng là 260.000.0000 đồng. Tuy nhiên, nội dung không ghi rõ 60.000.000 đồng này là tiền vốn vay hay là tiền lãi. Đồng thời, thời gian mà ông Đ1 không nhận tiền lãi của ông D, bà Đ từ tháng 07/2021 đến tháng 6/2022 là 12 tháng. Như vậy, lời trình bày của ông D về việc ông Đ1 yêu cầu ông ghi biên nhận nợ tiền lãi tính tròn 10 tháng với số tiền 60.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận. Việc ông Đ1 cho rằng ông cho ông D, bà Đ mượn thêm 60.000.000 đồng tiền vốn sau khi họ đã không nộp lãi trong 12 tháng là không phù hợp. Do đó, tiền vốn vay còn nợ được Hội đồng xét xử xác định là 200.000.000 đồng.

[6] Về tiền lãi: Xét thấy phía bị đơn đồng ý trả lãi cho nguyên đơn từ khi vay tiền với mức lãi suất theo quy định pháp luật. Do mức lãi suất mà các bên thỏa thuận 3%/tháng, là cao hơn mức lãi suất được quy định tại Điều 468 của BLDS 2015 nên mức lãi suất vay được điều chỉnh là 20%/năm. Tiền lãi được tính cụ thể như sau:

Tính từ ngày 31/3/2021 đến ngày xét xử tính tròn là 40 tháng:

200.000.000 đồng x 1.67% x 40 tháng = 133.600.000 đồng.

Xét thấy, ông D, bà Đ cho rằng có nộp lãi được 17.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh và không được sự thừa nhận của Đặng nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Số tiền lãi ông D bà Đ đã nộp được Hội đồng xét xử xác định là 13.000.000 đồng. Sau khi trừ tiền lãi đã nộp, ông D, bà Đ còn phải nộp lãi cho ông Đ1 là 120.600.000 đồng.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn không phải nộp án phí do thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 của 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Ông D và bà Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 16.030.000 (mười sáu triệu không trăm ba mươi nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Các Điều 463, 465, 466, 468 và 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Các Điều 2, 6, 7, 9 và 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Đặng, về việc yêu cầu ông Trang Văn D, bà Phạm Thị Đ trả số tiền vốn là 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng theo Biên nhận nợ ngày 12/6/2022.
  2. Chấp nhận phần yêu câu khởi kiện còn lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Đặng đối v bị đơn là ông Trang Văn D và bà Phạm Thị Đ.
  3. Buộc ông Trang Văn D và bà Phạm Thị Đ có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Đặng tổng s tiền là 320.600.000 (ba trăm hai mươi triệu sáu trăm nghìn) đồng. Trong đó bao gồm tiền vốn còn nợ là 200.000.000 đồng (theo Biên nhận ngày 30/3/2021) và lãi là 120.600.000 đồng.

    Kể từ ngày 02/8/2024, cho đến khi trả hết số tiền vốn còn nợ, ông D và bà Đ còn phải chịu lãi của số tiền vốn còn nợ theo mức lãi suất là 20%/năm.

  4. Về án phí:
  5. Ông Đặng k phải nộp án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

    Ông D và bà Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 16.030.000 (mười sáu triệu không trăm ba mươi nghìn) đồng.

  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a,7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích theo Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự)./.


Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP.LX
  • - Chi cục THADS TP. LX;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Trần Phạm Xuân Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 243/2024/DS – ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 243/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger