Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 243/2025/DS-PT

Ngày: 20/6/2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚCCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:ÔngVũ Hồng Luyến;

Các Thẩm phán: Ông Trần Vĩnh Yên

Ông Phạm Thành Dương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 448/2024/TLPT-DS, ngày 26/12/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Thống Nhất bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 166/2025/QĐ-PT ngày 06/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 414/2025/QĐ-PT ngày 23/5/2025, của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV T8.

    Địa chỉ: D, đường số A, khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

    - Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T – Tổng giám đốc

    Địa chỉ: Số D, đường số A khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

    - Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Anh D, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (Văn bản ủy quyền ngày 03/11/2023).

  2. Bị đơn: Ông Hồ Ngọc L, sinh năm 1954.

    Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Anh Hồ Ngọc Gia Đ, sinh năm 1986;
    • Bà Công Huyền Tôn Nữ Ngọc T1, sinh năm 1959;
    • Anh Hồ Gia U, sinh năm 1976;
    • Chị Hồ Tiểu P, sinh năm 1980;
    • Anh Hồ Gia N, sinh năm 1982;
    • Chị Dương Nguyễn Dạ T2, sinh năm 1988;
    • Chị Lý Thị Thu T3, sinh năm 1989;
    • Chị Nguyễn Thị Bích T4, sinh năm 1990;

    Cùng địa chỉ: Số nhà E, ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

    - Người đại diện theo ủy quyền của ông L, anh Đ: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp T, xã T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

    - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L, anh Đ: Luật sư Phạm Quốc V - Công ty L2.

(Ông L, ông H, ông Đ, bà T1, ông U, bà P, ông N, bà Dạ T2, bà Thu T3, bà T4, luật sư V có mặt; các đương sự khác vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện; Đơn khởi kiện bổ sung và quá trình tố tụng, đại diện nguyên đơn ông Tạ Anh D trình bày:

Diện tích 582.5m² thuộc thửa đất 1287, tờ bản đồ địa chính số 04, xã B, huyện L (cũ) nay thuộc thửa đất 106, tờ bản đồ địa chính 11 xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai có diện tích 604.0m² đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ giao cho Công ty TNHH một thành viên T8 (viết tắt là Công ty T8) sử dụng từ năm 1983 với hình thức cho thuê hàng năm, nay được cấp đổi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 616130 ngày 05/11/2020.

Về nguồn gốc: Công ty T8 được giao tiếp quản quản lý và sử dụng đất tại xã X, huyện T từ sau năm 1975 theo Quyết định số 1587/QĐ-UBT ngày 23/10/1985 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ, sau đó giao cho Nông trường B trực thuộc Công ty T8 trực tiếp quản lý sử dụng đất trong quá trình trồng và khai thác mủ cao su theo kế hoạch của Công ty T8. Việc giao đất cụ thể như sau: Căn cứ Quyết định số 1689/QĐ.UBT ngày 29/10/1983 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cho phép Công ty T8 khai hoang để trồng cao su. Theo đó, Nông trường B được giao quản lý sử dụng 600 ha đất tại xã B, huyện L (cũ) nay là xã X, huyện T để trồng và khai thác mủ cây cao su, thửa đất 106 cũng nằm trong khu vực đất được giao.

Về quá trình quản lý, sử dụng: Vào năm 1981, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 4144/QĐ-UBT ngày 22/11/1981 chấp thuận vùng chuyên canh cao su Đồng Nai có tổng diện tích tự nhiên là 114.400 ha, nằm trên 35 xã, thuộc 06 huyện T, X, T, L, C, Xuyên Mộc. Căn cứ Quyết định số 1689/QĐ.UBT ngày 29/10/1983, Nông trường B trực tiếp quản lý sử dụng 600 ha đất để trồng cao su trong đó có cả thửa đất số 1287 nay là thửa 104. Năm 1984, Nông trường B xây dựng cửa hàng để phục vụ cho cán bộ công nhân viên Nông trường, toàn bộ diện tích của cửa hàng nằm trong tổng diện đích khuôn viên văn phòng đội và trạm y tế đội. Năm 1988, Nông trường B cho gia đình ông Hồ Ngọc L mượn (nhà trong) của Cửa hàng (không có giấy tờ cho mượn) để buôn bán.

Năm 2001, thực hiện chủ trương bán nhà ở cho công nhân theo Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ, Công ty T8 đã bàn giao toàn bộ quỹ đất nhà ở công nhân cho Công ty T8 để lập thủ tục bán nhà. Công ty T8 hợp đồng với công ty M1 đo đạc lập bản đồ chi tiết thửa đất khu dân cư, khi đo vẽ khu đất do nhầm lẫn là nhà ở Công nhân nên đã tách phần đất cửa hàng (thửa đất 106) ra ngoài diện tích đất Trụ sở cơ quan - văn phòng đội, trạm y tế đội để bàn giao.

Ngày 01/7/2002, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định 2182/QĐ về việc thu hồi 516.721.8m² (bao gồm thửa đất 106 xã X hiện cho gia đình ông L đang mượn sử dụng) của Công ty T8 giao cho Ủy ban nhân dân huyện L nay là huyện T quản lý (trực tiếp giao cho Công ty T8) lập hồ sơ và bán theo Nghị định 61 ngày 05/7/1994. Sau khi phát hiện, có một phần diện tích nằm trong Quy hoạch đất trụ sở Công ty được bàn giao cho địa phương quản lý, Nông trường B đã lập tờ trình số 29/TTr-NTBL ngày 09/6/2009 xin điều chỉnh giao lại thửa 106 để sử dụng. Ngày 20/8/2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 2332/QĐ-UBND điều chỉnh Quyết định số 2182/QĐ-UBND ngày 01/7/2002, cụ thể giảm diện tích 582,5m² trước đây (nay là 604m²) thuộc thửa đất 106, tờ bản đồ 11, xã X, để Nông trường B tiếp tục quản lý sử dụng. Ngày 24/10/2012, Ủy ban nhân dân xã X thực hiện công bố Quyết định này. Tại buổi công bố Quyết định ông Hồ Ngọc L đã chấp nhận Quyết định số 2332/QĐ-UBND, đồng thời yêu cầu Công ty T8 phải có trách nhiệm hoán đổi cho ông chỗ ở hợp lý, có giá trị ngang với thửa 106, đối với yêu cầu này Công ty T8 không chấp nhận.

Ngày 09/7/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định 2372/QĐ-UBND công nhận kết quả rà soát hiện trạng sử dụng đất của Công ty T8 (Nông trường Cao su B), trong đó có thửa đất số 106, toàn bộ diện tích công ty được giao theo hình thức thuê hàng năm hiện đã đóng thuế đầy đủ.

Từ năm 2012, Tổng Công ty, đã phối hợp Ủy ban nhân dân tỉnh xã X, Ủy ban nhân dân huyện T đã nhiều lần tổ chức hòa giải với ông Hồ Ngọc L nhưng ông L không đồng ý trả đất cho Công ty T8. Vì hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã X không thành nên Ủy ban nhân dân xã đề nghị các bên khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất giải quyết tranh chấp.

Nay Công ty T8 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hồ Ngọc L, những người đang sinh sống trên đất phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên đất và trả lại toàn bộ 604.0m² diện tích đất thuộc thửa đất số 106, tờ bản đồ địa chính số 11 xã X, huyện T cho Công ty T8. Công ty T8 không yêu đồng ý hỗ trợ, bồi thường về tài sản trên đất cho gia đình ông L.

Về chi phí tố tụng Công ty T8 đã nộp đầy đủ tiền tạm ứng và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Theo bị đơn ông Hồ Ngọc L và người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Đức H trình bày:

Vào năm 1982, vợ chồng ông L được Nông trường B - Công ty T8 tuyển dụng vào làm công nhân tại Đội C của nông trường. Đến năm 1984, ông L được nông trường chuyển công tác vào ấp T, xã X theo kế hoạch kinh doanh của N, cụ thể làm việc tại Đội 3 trồng cây cao su. Ban đầu mới đến, gia đình ông ở chung tập thể ở mấy khu chòi do Nông Trường xây dựng cho nhân viên ở. Được một thời gian những người thuộc diện “cán bộ” ở Đội 3 như ông được Nông trường giới thiệu đến ở nhờ nhà người dân. Khi ở ổn định vài tháng thì ông L đưa vợ, con đến sinh sống trên thửa đất đang tranh chấp. Tại thời điểm đó vùng đất này không có đường đi, không có dân và chính quyền nào quản lý. Đến năm 1984, ngoài giờ lao động, gia đình ông L có mở quán tại nhà buôn bán nhỏ lẻ. Do làm thêm tư nhân và thời kỳ đó vẫn chưa được kinh doanh tự do, nông trường không có cửa hàng bán thực phẩm, vật dụng nên giữa gia đình ông L (vẫn đang là công nhân của nông trường) và Ban L3 có thỏa thuận về việc buôn bán của hộ Gia đình ông L như sau: Vợ chồng ông L ở đây phục vụ buôn bán hàng cho công nhân của Đội 3, có trách nhiệm bao vốn chi tiêu cho công nhân của Đội hàng tháng. Đến kì lương ban chỉ huy đội 3 sẽ có trách nhiệm thanh toán hoàn lại vốn cho gia đình ông L. Vợ chồng ông L chỉ phục vụ việc buôn bán, không phải lao động trực tiếp, do đó các chế độ hưởng (ăn theo) thực phẩm, nhu yếu phẩm sẽ bị cắt. Gia đình ông L kinh doanh được khoảng 3, 4 tháng thì Nông trường cho rằng “Buôn bán ồn ào” nên đề nghị gia đình ông dọn quán đi chỗ khác, tự chọn chỗ nào đất trống mà ở. Thời kỳ này cũng không có văn bản gì, chỉ họp hành vài người của Nông trường và vợ chồng ông L, hai bên nhất trí. Sau đó, gia đình ông L dọn ra khỏi chỗ ở ban đầu này (do Cán bộ lâm trường chỉ chỗ khi Gia đình ông L đến sinh sống). Sau khi rời khỏi chỗ ban đầu (như nêu trên), vợ chồng ông L chọn dựng nhà lá trên vị trí đất hiện nay. Khi gia đình ông L đến dựng nhà lá vào khoảng cuối năm 1984. Đây là khu vực không có nhiều nhà dân sinh sống ổn định vì chỉ được 1 khoảng thời gia ngắn sẽ dọn đi. Đối với cán bộ Nông trường như ông L thì còn bám trụ cho đến ngày nghỉ hưu. Kể từ năm 1986 trên phần đất tranh chấp hiện nay, ngoài gia đình ông L sinh sống thì không có nhà ai khác sinh sống nữa. Đến năm 1992 vợ chồng ông L được Công ty T8 cho nghỉ hưu sớm vì lý do sức khoẻ. Lúc này, toàn bộ gia đình ông L gồm vợ, con sống bằng công việc buôn bán nhỏ này. Suốt giai đoạn từ 1992 khi vợ chồng ông L nghỉ mất sức đến năm 1997 rồi các năm 1999, 2001, 2008 (thời điểm ông L nhiều lần đi đăng ký đất nhưng không được) toàn bộ gia đình ông L trực tiếp sử dụng thửa đất 106.

Từ năm 2008 đến 2020, giữa gia đình ông L và Nông trường B tranh chấp với nhau quyết liệt nhất nhưng chưa có Cơ quan nhà nước nào giải quyết xong. Tuy nhiên, đến năm 2020 Công ty T8 lại được Ủy ban nhân dân xã X, Ủy ban nhân dân huyện T xác nhận không tranh chấp đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất trong khi người sử dụng trực tiếp là gia đình ông L (khai thác, trồng trọt, chăn nuôi, làm nhà và đóng thuế cho nhà nước đầy đủ) ổn định trên 36 năm lại không được cấp Giấy. Kể từ năm 1985 đến nay, gia đình ông L đã đóng thuế sử dụng và trực tiếp quản lý thửa đất 106, ngoài thửa đất 106 ông L không được Nông trường giao đất sử dụng tại vị trí nào khác. Hiện trên đất tranh chấp, gia đình ông L đã xây dựng 03 căn nhà tạm đúng như những tài sản Toà án nhân dân huyện Thống Nhất đã tiến hành kiểm tra xem xét tại chỗ và định giá. Đối với giá trị tài sản trên đất đã được định giá theo chứng thư Thẩm định ông L không có ý kiến gì và cũng không yêu cầu Công ty T8 phải bồi thường.

Nay Công ty T8 khởi kiện yêu cầu gia đình ông L phải di dời, tháo dỡ các phần công trình được xây dựng trên đất và trả lại phần đất đã lấn chiếm có diện tích là 604 m² thuộc thửa đất số 106, tờ bản đồ địa chính số 11 tọa lạc tại xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì gia đình ông L không đồng ý. Lý do không đồng ý vì Gia đình ông đã sử dụng ổn định gần 40 năm đến nay, trong quá trình sử dụng gia đình ông đã đóng thuế sử dụng đất đầy đủ đúng quy định pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn xác định không khởi kiện phản tố, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không khởi kiện độc lập đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty T8 và yêu cầu Tòa án giải quyết đối với các tài sản trên đất tranh chấp. Tuy nhiên, đề nghị đưa Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ, Ủy ban nhân dân xã X, Ủy ban nhân dân huyện T vào tham gia tố tụng để được đối chất về việc xác định trách nhiệm của ai trong khi thửa đất 106 có tranh chấp mà các cơ quan trên vẫn xác định không tranh chấp để cấp quyền sử dụng đất cho công ty T8.

Tại phiên tòa đại diện ông L thay đổi lời khai về nguồn gốc sử dụng thửa đất: Thửa đất 106 được gia đình khai phá từ đất rừng tự nhiên, phần đất này không nằm trong tổng diện tích công ty T8 được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ giao sử dụng như nguyên đơn trình bày. Ngoài lời khai, bị đơn không giải thích được lý do vì sao mình thay đổi lời khai mà chỉ cho rằng không hiểu biết pháp luật nên đã nhầm lẫn khi khai về nguồn gốc thửa đất từ trước tới nay tại Cơ quan liên quan và Tòa án.

Về chi phí tố tụng: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Theo Người có quyền, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Ngọc Gia Đ và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Anh Đ thống nhất với lời trình bày của ông L về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất 106, tờ bản đồ số 11 xã X. Anh Đ không đồng ý trả lại đất cho Công ty T8 cũng không yêu cầu bồi thường tài sản trên đất.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan bà T1, chị P, chị T4, anh N, anh U, chị T3, chị Dạ T2 trình bày:

Bà T1, anh N, chị P, chị T4, anh U, chị T2, chị Dạ T2 thống nhất ý kiến của ông L trong vụ án, không đồng ý trả lại đất cho Công ty T8 và không yêu cầu bồi thường tài sản trên đất.

*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L, ông Đ ông V trình bày: Đề nghị Tòa án xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và công nhận cho gia đình ông L được quyền sử dụng thửa đất đang tranh chấp vì thửa đất 106, tờ bản đồ số 11 xã X được gia đình ông Hồ Ngọc L sử dụng ổn định, không tranh chấp, đóng thuế sử dụng đất đầy đủ từ 1985 đến khi phát sinh tranh chấp với Công ty T8 và hiện trên đất tranh chấp vẫn có các tài sản do gia đình xây dựng.

Gia đình ông L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn vì các lý do sau: Việc ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp cho Công ty T8 được quyền sử dụng thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 616130 vào năm 2020 khi đất đang có tranh chấp là vi phạm Điều 25 Nghị định 43/2024/NĐ-CP và Luật đất đai. Mặt khác, trên thực tế tính đến đến thời điểm Công ty T8 được cấp Quyền sử dụng thì Nông trường B không trực tiếp quản lý, canh tác trên đất một ngày nào là không thỏa mãn điều kiện “đang sử dụng đất” khi cấp Quyền sử dụng đất. Tại trang 2 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CY 616130 có nói rõ mục đích giao đất: Cấp giấy chứng nhận theo hợp đồng cho thuê đất trả tiền hàng năm. Như vậy, thửa đất 106 Tập đoàn C được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cho thuê bằng 1 hợp đồng cụ thể. Tuy nhiên, tại thời điểm này, trên thửa 106 có các tài sản do gia đình ông L tạo lập là vi phạm điều cấm tại Điều 117 Bộ luật Dân sự nên Hợp đồng thuê đất này vô hiệu. Căn cứ vào Quyết định số 2332/QĐ-UBND ngày 24/10/2012, về việc điều chỉnh quyết định số 2182/QĐ-UBND ngày 01/7/2002 không nói rõ về thửa đất 106 và hiện nay không có bất kỳ bản vẽ hiện trạng nào thể hiện thửa đất 106, tờ 11 xã X được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ giao cho Công ty T8 quản lý sử dụng.

Do vậy, việc Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY616130 cho Công ty T8 đối với thửa đất gia đình ông L đang sinh sống và tạo dựng tài sản trên đất gần 40 năm, có nộp thuế làm cho quyền lợi hợp pháp của gia đình ông L bị xâm phạm nên đề nghị Tòa án xem xét.

Về tố tụng đề nghị Tòa án phải đưa Ủy ban nhân dân xã X, Ủy ban nhân dân huyện T, sở T tham gia tố tụng để chịu trách nhiệm trước pháp luật trong việc dù đất đang tranh chấp nhưng vẫn xác nhận đất đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất.

*Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, đã Căn cứ các Điều 26, 34, 37, 39, 228, 264, 266, 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự, các Điều 101, 105, 203 Luật đất đai năm 2013, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH một thành viên T8.
  2. Buộc bị đơn ông Hồ Ngọc L và những người đang sinh sống trên đất phải tháo dỡ, di dời toàn bộ các tài sản trên đất để giao lại toàn bộ đất có diện tích 604m² thuộc thửa đất số 106, tờ bản 11, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai cho Công ty TNHH một thành viên T8 (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp số CY 616130 cấp ngày 05/11/2020).
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Hồ Ngọc L phải thanh toán lại chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và Thẩm định giá tài sản, số tiền là 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) cho Công ty TNHH một thành viên T8.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Ông Hồ Ngọc L được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
    • Công ty TNHH một thành viên T8 được nhận lại số tiền 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0008966 ngày 12/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Các đương sự có mặt tại phiên tòa được làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Ngày 07/10/2024, Bị đơn ông Hồ Ngọc L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do không đồng ý bản án. Yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giải quyết theo thủ tục phúc thẩm theo hướng hủy toàn bộ bản án dân sự lý do chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ.

Ngày 07/10/2024 những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Công Huyền Tôn Nữ Ngọc T1, anh Hồ Gia U, chị Hồ Tiểu P, anh Hồ Ngọc Gia N, anh Hồ Ngọc Gia Đ, chị Dương Nguyễn Dạ T2, chị Lý Thị Thu T3, chị Nguyễn Thị Bích T4 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giải quyết theo thủ tục phúc thẩm theo hướng hủy toàn bộ bản án dân sự lý do chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm Luật sư V trình bày: Tôi đồng ý yêu cầu Tòa án tỉnh Đồng Nau hủy bản án sơ thẩm vì: việc Tòa án huyện T thu thập hồ sơ là không đủ, cụ thể Tòa án Thống Nhất không xác định được thẩm quyền quản lý đất của Nông trường B, ở thời điểm năm 1985 nông trường B được nhà nước giao nông trường làm cao su, nhưng ông L đã ở đấy từ trước rồi, do đó cấp sơ thẩm bỏ sót chứng cứ đó/ Thứ 2 liên quan đến đóng thuế của gia đình ông L khẳng định gia đình ông L đóng thuế từ năm 93 đến năm 2023, tuy nhiên bản án sơ thẩm đã tuyên án tước đi số tiền đóng thuế đó/ bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng vì chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì năm 2020 Công ty T8 mới được UBND tỉnh Đ cấp giấy cho thuê trả tiền hàng năm/ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà sở tài nguyên cấp cho Công ty T8 là sai đối tượng sử dụng đất, ở đây là cấp cho người không sử dụng đất, hồ sơ thể hiện từ năm 1984 đến 2020 Nông trường B không sử dụng đất, người sử dụng đất ở đây là gia đình ông L, quá trình sử dụng đất của gia đình ông L từ năm 84 đến năm 2020 là hợp pháp, vì sử dụng công khai, có đóng tiền thuế, từ năm 1984 -2012 Nông trường mới có động tác đi đòi đất đầu tiên/ vi phạm của cấp sơ thẩm đã không xử lý tài sản của gia đình ông L, Tòa án sơ thẩm tiếp tay cho tập đoàn C chiếm đoạt tài sản của gia đình ông L hay không/ Khi sở tài nguyên cấp giấy cnqsd đất cho Nông trường là sai vì toàn bộ tài sản trên đất của gia đình ông L thì tại sao UB tỉnh Đ lại cho nông trường thuê đất này, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện không đúng chính sách của nhà nước rằng là xóa nhà tạm, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. (căn cứ điểm b, khoản 3, Điều 188, Đ100, Đ101 luật đất đai 2013, Điều 50 luật đất đai 2003) không yêu cầu hủy giấy.

* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về đường lối giải quyết:

Nguồn gốc diện tích 582,5m² thửa đất số 1287 tờ bản đồ 04 xã B huyện L (cũ) nay là thửa đất số 106 tờ bản đồ số 11 xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai có diện tích 604m² trong tổng số 600 ha đất tại xã B, huyện L (cũ) nay là xã X huyện T tỉnh Đồng Nai được UBND tỉnh Đ giao cho Tổng công ty T8 sử dụng từ năm 1983 với hình thức cho thuê đất hàng năm, ngày 05/11/2020 được cấp đổi theo giấy chứng nhận QSD đất số CY 616130.

Nguyên đơn cho rằng, vào năm 1984, Nông trường B xây dựng cửa hàng để phục vụ cho cán bộ công nhân viên nông trường. Năm 1985 ông L đã được Nông trường cấp cho một mảnh đất, đến năm 1988 ông L đã bán cho người khác. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên Nông trường B cho gia đình ông Hồ Văn L1 mượn ở tạm tại thửa đất 106 tờ bản đồ số 11 (thửa cũ 1287) (Bút lục số 340). Ông Hồ Ngọc L thì cho rằng phần đất tranh chấp là do Nông trường đề nghị gia đình ông dọn quán đi nơi khác tự chọn chỗ đất nào trống thì ở nên gia đình ông đã dọn ra khỏi chỗ ban đầu và dựng nhà ở buôn bán nhỏ trên phần đất thuộc thửa 106 từ năm 1984 đền nay, từ năm 1999, 2001, 2008 ông L đi kê khai đăng ký nhưng đều không được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Tại phiên tòa sơ thẩm ông L lại cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp là do gia đình ông khai phá đất rừng thiên nhiên. Tuy nhiên, ông L cho rằng thửa đất 106 là do Nông trường cấp cho gia đình ông thì trong trường hợp này Nông trường không có thẩm quyền cấp đất, còn trường hợp ông cho rằng gia đình ông khai phá đất rừng thiên nhiên thì căn cứ vào Thông tin quy hoạch từ khi cho thuê đất và được chỉnh lý theo bản đồ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 đã được UBND tỉnh Đ phê duyệt tại Quyết định số 4302/QĐ-UBND ngày 28/11/2017 thửa đất số 106 nằm trong khuôn viên Tòa nhà Văn phòng Đội 3- Nông trường B (quy hoạch xây dựng trụ sở Công ty T8) được UBND tỉnh Đ giao đất cho Công ty T8 quản lý thì không phải đất rừng thiên nhiên. Tại Biên bản công bố quyết định số 2332/QĐ-UBND tỉnh Đ về việc điều chỉnh Điều I Quyết định số 2182/QĐ-CT-UBT ngày 01/7/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ (Bút lục số 36) về việc điều chỉnh diện tích thu hồi (không thu hồi diện tích thuộc thửa 106, diện tích thửa 106 thuộc diện tích do Công ty T8 quản lý), ông L chấp nhận quyết định của UBND tỉnh Đ, ông L đề nghị Công ty T8 phải hoán đổi cho ông chỗ ở hợp lý và ngang giá trị sử dụng.

Căn cứ Tờ trình số 748/STNMT-CCQLĐĐ ngày 22/3/2012 của Sở Tại nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai. Các quyết định 4144 ngày 26/11/2007; Quyết định 2372 ngày 09/7/2020 của UBND tỉnh Đ và Trích lục biên vẽ thửa đất số 502/2020 do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh Đ lập ngày 08/4/2020 UBND tỉnh Đ đã ủy quyền cho giám đốc Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất số CY616130 cho Công ty TNHH MTV T8 ngày 06/11/2020 đối với thửa đất số 106 tờ bản đồ số 11 xã X huyện T tỉnh Đồng Nai. Như vậy, thửa đất số 1287 tờ bản đồ số 04 xã B huyện L cũ nay là thửa 106 tờ bản đồ số 11 xã X huyện T tỉnh Đồng Nai được UBND tỉnh Đ cho Công ty T8 thuê sử dụng hàng năm theo Quyết định số 1587 ngày 23/10/1985 nay được cấp đổi theo Giấy chứng nhận QSD đất số CY616130 ngày 05/11/2020 là có cơ sở, nguồn gốc thửa đất trên được UBND tỉnh Đ giao cho Công ty T8 sử dụng là hợp pháp nên yêu cầu khởi kiện của Công ty T8 yêu cầu ông L và những người đang sinh sống trên đất phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất trả lại toàn bộ diện tích thuộc thửa 106 tờ bản đồ số 11 xã X huyện T tỉnh Đồng Nai được cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên T8, buộc bị đơn ông Hồ Ngọc L và những người đang sinh sống trên đất phải tháo dỡ, di dời toàn bộ các tài sản trên đất để giao lại toàn bộ đất có diện tích 604m² thuộc thửa đất số 106, tờ bản 11, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai cho Công ty TNHH một thành viên T8 là có căn cứ phù hợp pháp luật.

Do đó, kháng cáo của bị đơn ông Hồ Ngọc L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Công Huyền Tôn Nữ Ngọc T1, Ông Hồ Gia H1, chị Hồ Tiểu P, chị Hồ Ngọc Gia N, anh Hồ Ngọc Gia Đ, chị Lý Thị Thu T3, chị Nguyễn Ngọc Bích T5, chị Dương Nguyễn Dạ T2 là không có cơ sở chấp nhận.

Bởi các lẽ trên:

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị HĐXX phúc thấm:Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hồ Ngọc L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Công Huyền Tôn Nữ Ngọc T1, Ông Hồ Gia H1, chị Hồ Tiểu P, chị Hồ Ngọc Gia N, anh Hồ Ngọc Gia Đ, chị Lý Thị Thu T3, chị Nguyễn Ngọc Bích T5, chị Dương Nguyễn Dạ T2.Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về việc xác định tư cách tham gia tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự đầy đủ.
  2. Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu của nguyên đơn xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  3. Về nội dung tranh chấp:
    • Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp:

      Quyết định số 1689/QĐ.UBT ngày 29/10/1983 của UBND tỉnh Đ về việc cho phép Tổng Công ty T8 khai hoang để trồng cây cao su. Năm 1984, Nông trường B xây dựng cửa hàng (thửa đất số 1287), toàn bộ diện tích xây dựng cửa hàng nằm trong tổng diện tích khuôn viên văn phòng đội và trạm y tế đội để phục vụ cho cán bộ công nhân viên Nông trường. Năm 1988, Nông trường B cho gia đình ông Hồ Ngọc L mượn (nhà trong) của Cửa hàng (không có giấy tờ cho mượn) để buôn bán.

      Năm 2001, thực hiện chủ trương bán nhà ở cho công nhân theo Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ, Công ty T8 đã bàn giao toàn bộ quỹ đất nhà ở công nhân cho Công ty T8 để lập thủ tục bán nhà. Công ty T8 hợp đồng với công ty M1 đo đạc lập bản đồ chi tiết thửa đất khu dân cư, khi đo vẽ khu đất do nhầm lẫn là nhà ở Công nhân nên đã tách phần đất cửa hàng (thửa đất 106) ra ngoài diện tích đất Trụ sở cơ quan - văn phòng đội, trạm y tế đội để bàn giao.

      Ngày 01/7/2002, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định 2182/QĐ về việc thu hồi 516.721.8m² (bao gồm thửa đất 106 xã X hiện cho gia đình ông L đang mượn sử dụng) của Công ty T8 giao cho Ủy ban nhân dân huyện L nay là huyện T quản lý (trực tiếp giao cho Công ty T8) lập hồ sơ và bán theo Nghị định 61 ngày 05/7/1994. Sau khi phát hiện thửa đất nằm trong Quy hoạch đất trụ sở Công ty nằm trong diện tích bàn giao địa phương, Nông trường B đã lập tờ trình số 29/TTr-NTBL ngày 09/6/2009 xin điều chỉnh giao lại thửa 106 để sử dụng. Ngày 20/8/2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 2332/QĐ-UBND điều chỉnh Quyết định số 2182/QĐ-UBND ngày 01/7/2002, cụ thể giảm diện tích 582,5m² trước đây (nay là 604m²) thuộc thửa đất 106, tờ bản đồ 11, xã X, để Nông trường B tiếp tục quản lý sử dụng. Ngày 24/10/2012, Ủy ban nhân dân xã X thực hiện công bố Quyết định số 2332/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ, ông L có mặt và không có ý kiến đối với quyết định.

      Sau khi có kết quả đo đạc rà soát hiện trạng sử dụng đất của Nông trường B theo Quyết định 4144/QĐ-UBND ngày 26/11/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ phê duyệt về quỹ đất làm trụ sở cơ quan và Tờ trình số 748/STNMT-CCQLĐĐ ngày 22/3/2012 của Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đ xác nhận nguồn gốc đất của Công ty T8 và kết luận hộ ông Hồ Ngọc L không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận. Ngày 09/7/2020 UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 2372/QĐ-UBND điều chỉnh Quyết định công nhận kết quả rà soát hiện trạng sử dụng đất của Công ty TNHH MTV T8 (Nông trường B) trong đó có nội dung: “Chấp thuận cho Công ty TNHH MTV T8 thuê 22.722.544,3m² tại các xã B, G, X, Q huyện T ....”

      Kèm theo Quyết định này có danh mục các thửa đất cho thuê bao gồm thửa đất số 106, tờ bản đồ số 11 xã X ở vị trí số thứ tự số 72 của Danh sách kèm theo Quyết định.

      Tờ trình số 748/STNMT-CCQLĐĐ ngày 22/3/2012 của sở tài nguyên môi trường tỉnh Đ, các Quyết định 4144 ngày 26/11/2007, Quyết định 2372 ngày 09/7/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ và Trích lục biên vẽ thửa đất số 502/2020 do Trung tâm K lập ngày 08/4/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ đã ủy quyền cho Giám đốc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY616130 cho Công ty TNHH MTV T8 vào ngày 05/11/2020 đối với thửa đất 106, mục đích sử dụng: Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, thời hạn sử dụng: 15/10/2043, nguồn gốc sử dụng: Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm theo quy định.

    • Về nội dung kháng cáo: ông Hồ Ngọc L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho rằng nguồn gốc diện tích đất nông nghiệp 604m² tọa lạc tại ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai là do gia đình ông khai hoang từ năm 1982. Gia đình ông L sử dụng đất ổn định và đóng thuế đầy đủ hàng năm cho Nhà nước. Đến năm 2002 thì UBND tỉnh thu hồi thửa đất của Tổng Công ty T8 để hoá giá bán cho dân theo Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994. Trong tổng diện tích đất thu hồi giao cho địa phương quản lý có cả diện tích đất gia đình ông L đang sinh sống nên thửa đất 106 hiện do địa phương quản lý. Căn cứ và Luật đất đai năm 2013, gia đình ông có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì gia đình ông đã sử dụng ổn định trên 40 năm và có đóng thuế sử dụng đất đầy đủ.

      Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ thể hiện, năm 2001, thực hiện chủ trương bán nhà ở cho công nhân theo Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ, Công ty T8 đã bàn giao toàn bộ quỹ đất nhà ở công nhân cho Công ty T8 để lập thủ tục bán nhà. Công ty T8 hợp đồng với công ty M1 đo đạc lập bản đồ chi tiết thửa đất khu dân cư, khi đo vẽ khu đất do nhầm lẫn là nhà ở công nhân nên đã tách phần đất cửa hàng (thửa đất 106) ra ngoài diện tích đất Trụ sở cơ quan - văn phòng đội, trạm y tế đội để bàn giao.

      Tại văn bản trả lời số 81/ CV-QLN-KDN, ngày 18/3/2024 (Bút lục số 334) Công ty cổ phần T8 trả lời với căn nhà thuộc thửa 1287 tờ bản đồ số 14 BĐĐC xã Xuân thiện, huyện L nêu trên không có hồ sơ về việc tiếp nhận để thực hiện bán theo chủ trương bán nhà theo Nghị định 61/CP.

      Như vậy, căn cứ vào Điều 3, khoản 3 điều 11, Điều 105 Luật đất đai, Điều 37, 76 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014, Điều 10 Thông tư 24/2014 ngày 19/5/2014 có cơ sở để xác định thửa đất 1287, tờ bản đồ địa chính số 04, xã B, huyện L (cũ) nay là thửa đất số 106, tờ bản đồ số 11 xã X được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cho Công ty T8 thuê sử dụng hàng năm theo Quyết định số 1587 ngày 23/10/1985 nay được cấp đổi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 616130 ngày 05/11/2020 là có cơ sở, nguồn gốc thửa đất trên được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ giao Công ty T8 sử dụng là hợp pháp nên việc Công ty T8 yêu cầu ông L và những người đang sinh sống trên đất phải tháo dỡ công trình xây dựng trên đất, trả lại toàn bộ diện tích đất của thửa đất số 106, bản đồ số 11, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

      Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện của bị đơn và người liên quan không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ chứng minh cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng về việc cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu đầy đủ.

      Bị đơn ông L và người liên quan cũng chỉ trình bày ông là Công nhân Nông trường cao su Bình Lộc nay thuộc Công ty T8, vào năm 1982 Nông trường giới thiệu, cho tôi gia đình ông vào khai phá diện tích đất hiện nay, Việc nông trường cho vào khai phá chỉ bằng miệng, không có giấy tờ gì. Sau khi gia đình khai phá và sinh sống trên đất hơn 40 năm đến nay. Như vậy ông L thừa nhận diện tích đất ông khai phá do Nông trường cho khai phá nhưng không có giấy tờ chứng minh, ngoài ra trong quá trình sử dụng gia đình ông cũng không đăng ký, kê khai. Từ năm 2024 gia đình ông làm nhà thì nông trường cản trở không cho làm như vậy tranh chấp từ năm 2004 nhưng năm 2020 lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công Ty là vi phạm luật đất đai, vì đất đang tranh chấp lại đi cấp giấy

      Qua các tài liệu chứng cứ của các đương sự cung cấp thì thấy yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu là có căn cứ đúng pháp luật.

      Như vậy yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Hồ Ngọc L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có căn cứ, nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Hồ Ngọc L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Công Huyền Tôn Nữ Ngọc T1, anh Hồ Gia U, chị Hồ Tiểu P, anh Hồ Ngọc Gia N, anh Hồ Ngọc Gia Đ, chị Dương Nguyễn Dạ T2, chị Lý Thị Thu T3, chị Nguyễn Thị Bích T4.

  4. Về chi phí tố tụng: Ông L phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và Thẩm định giá tài sản, số tiền là 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng). Hiện Công ty T8 đã tạm ứng chi phí trên nên ông L phải thanh toán lại cho Công ty T8.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông L thuộc trường hợp được miễn án phí. Hoàn trả lại cho Công ty T8 số tiền 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông L thuộc trường hợp được miễn án phí.

    Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Công Huyền Tôn Nữ Ngọc T1, anh Hồ Gia U, chị Hồ Tiểu P, anh Hồ Ngọc Gia N, anh Hồ Ngọc Gia Đ, chị Dương Nguyễn Dạ T2, chị Lý Thị Thu T3, chị Nguyễn Thị Bích T4, mỗi người phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí được chuyển thành án phí.

  7. Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn không phù hợp với chứng cứ tài liệu trong hồ sơ nên không được chấp nhận.
  8. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận phần.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Ngọc L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Công Huyền Tôn Nữ Ngọc T1, anh Hồ Gia U, chị Hồ Tiểu P, anh Hồ Ngọc Gia N, anh Hồ Ngọc Gia Đ, chị Dương Nguyễn Dạ T2, chị Lý Thị Thu T3, chị Nguyễn Thị Bích T4.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST, ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Áp dụng Điều 158,166,168,169.174 và 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai năm 2003; các Điều100, 101, 166, 167, 203 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ các Điều 26, 34, 37, 39, 228, 264, 266, 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự, các Điều 101, 105, 203 Luật đất đai năm 2013, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH một thành viên T8.
  2. Buộc bị đơn ông Hồ Ngọc L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Công Huyền Tôn Nữ Ngọc T1, anh Hồ Gia U, chị Hồ Tiểu P, anh Hồ Ngọc Gia N, anh Hồ Ngọc Gia Đ, chị Dương Nguyễn Dạ T2, chị Lý Thị Thu T3, chị Nguyễn Thị Bích T4 phải tháo dỡ, di dời toàn bộ các tài sản trên đất để giao lại toàn bộ đất có diện tích 604m² thuộc thửa đất số 106, tờ bản 11, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai cho Công ty TNHH một thành viên T8 (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp số CY 616130 cấp ngày 05/11/2020).
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Hồ Ngọc L phải thanh toán lại chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và Thẩm định giá tài sản, số tiền là 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) cho Công ty TNHH một thành viên T8.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Hồ Ngọc L được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

    Công ty TNHH một thành viên T8 được nhận lại số tiền 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0008966 ngày 12/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Hồ Ngọc L.

    Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Công Huyền Tôn Nữ Ngọc T1, anh Hồ Gia U, chị Hồ Tiểu P, anh Hồ Ngọc Gia N, anh Hồ Ngọc Gia Đ, chị Dương Nguyễn Dạ T2, chị Lý Thị Thu T3, chị Nguyễn Thị Bích T4, mỗi người phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí được chuyển thành án phí.

    Số tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0008196; 0008197; 0008198; 0008199; 0008200; 0008201 và 0008202 ngày 16/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí.

  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thành Dương Trần Vĩnh Yên Vũ Hồng Luyến

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh ĐN;
  • - TAND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hồng Luyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 243/2025/DS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 243/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH MTV T8 - Hồ Ngọc L - Tranh chấp QSDĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger