TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 243/2024/HS-ST Ngày: 25 - 11 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương
Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Quang
Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Huy
Bà Nguyễn Thị Chi
Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Anh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Kim Quyết – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 250/2024/TLST-HS ngày 10/10/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 279/2024/QĐXX-ST ngày 05/11/2024, đối với các bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: không. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1994, tại Hậu Giang.
Nơi thường trú: ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở hiện nay: Tổ B, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: Lớp 08/12. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hùng D, sinh năm 1968. Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1961. Gia đình bị cáo có 02 anh, em. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình, có vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1989 có 02 người con (lớn nhất sinh năm 2011 nhỏ nhất sinh năm 2014 (đã ly hôn) vợ sau: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1995 và có 02 con: lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 20/11/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 300/LTG-ĐTTH ngày 28/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Họ và tên: Thạch T2; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 23 tháng 7 năm 1995, tại Đồng Nai.
Nơi thường trú: tổ B, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: Tổ B, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: Lớp 06/12. Giới tính: Nam. Dân tộc: Stiêng; Tôn giáo: Phật. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Hữu T3, sinh năm 1956 và con bà Thạch Thị M, sinh năm 1964. Gia đình bị cáo có 03 chị, em. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 20/11/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 301/LTG-ĐTTH ngày 28/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Họ và tên: Nguyễn Thanh H; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 13 tháng 10 năm 1995, tại Đồng Nai.
Nơi thường trú: ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở hiện nay: tổ B, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Dân tộc: Kinh, Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1965 và con bà: Trần Thị Tuyết M1, sinh năm 1970. Gia đình bị cáo có 03 chị, em. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình, có chồng tên Nguyễn Văn T, sinh năm 1994 và có 02 con lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 437/LC-ĐTTH ngày 28/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang tại ngoại.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo theo quy định có ông Đinh Minh T4, thuộc Công ty L2, Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Bị hại:
- Nguyễn Văn L1, sinh năm 1982, thường trú tại ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Nguyễn Quốc B (là con ruột của L1), sinh năm 2005, thường trú tại ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
(Các bị cáo, luật sư bào chữa cho các bị cáo, anh L1, anh B có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 19/11/2023, Nguyễn Văn L1, sinh năm 1982, thường trú tại ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai rủ Thạch T2 đến phòng trọ của L1 tại tổ B, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai để uống rượu, T2 đồng ý và T2 rủ thêm Nguyễn Văn T; Huỳnh Thị Bích P (bạn gái của T2), sinh năm 1992, thường trú tại ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng đi đến phòng trọ của L1 uống rượu. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả nhóm đang ngồi uống rượu thì Nguyễn Quốc B (là con ruột của L1), sinh năm 2005, thường trú tại ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai đi làm về, L1 thấy B khó chịu vì tổ chức ăn nhậu tại phòng trọ nên L1 nói với cả nhóm: “Thôi nghỉ đi hôm nay con anh về chơi”, nghe vậy cả nhóm nghỉ nhậu. T2 đi về đến phòng trọ của mình cách phòng trọ của L1 khoảng 50m thì nghĩ đến việc B không chào hỏi và khó chịu ra mặt khiến cuộc nhậu mất vui, phải bỏ giữa chừng nên tức giận quay lại gặp B đang đứng trước phòng trọ của L1 nói “Mày nhìn đểu tao hả” rồi xông đến đánh B bằng tay. L1 thấy vậy tiến lại nói “Con tao mà T2” rồi dùng tay đẩy T2 ra để không cho T2 đánh B, nghĩ L1 bênh vực B nên T2 dùng tay đánh L1 thì bị L1 và B đánh lại, vật ngã xuống đường. T thấy T2 đánh nhau với L1 và B thì lao vào giúp sức cho T2 đánh lại L1 và B. Thấy T đánh mình, L1 và B chuyển qua đánh, vật T ngã xuống đường. Trong lúc L1 và B đánh nhau với T thì T2 chạy về phòng trọ cầm 01 con dao dài 37cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ quay trở lại hỗ trợ T đánh L1 và B. Đến nơi, T2 hét lớn: “Tao chém chết mẹ mày” và vung dao chém về phía L1, thấy vậy L1 buông T ra, né được nhát chém rồi lùi lại đứng ngang hàng với B, đối mặt với T2. T2 tiếp tục lớn tiếng chửi bới và vung dao lên chém nhiều nhát về phía L1, B nhưng không trúng. Thạch sau khi được T2 hỗ trợ thì chạy về phòng trọ của mình cách đó khoảng 50m để tìm hung khí quay lại cùng với T2 đánh L1 và B. Khi chạy về cách phòng trọ khoảng 05m, T gặp Nguyễn Thanh H, sinh năm 1995, thường trú tại ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vợ T) cầm theo 01 bao da màu đen, bên trong có 01 cây đao bằng kim loại dài khoảng 60cm đưa cho T và nói “Chém chết mẹ nó đi anh”. T cầm lấy cây đao từ H rồi chạy quay lại tìm L1, B để đánh, T vừa chạy vừa rút cây đao ra khỏi bao da, còn H chạy theo phía sau. Thấy T cầm đao xông về phía mình, L1 bỏ chạy vào bên trong phòng trọ, T2 lúc này vẫn cầm dao đứng đối diện giằng co với B. T thấy L1 chạy vào phòng trọ nên T đuổi theo L1 vào trong phòng trọ và cầm đạo trên tay trái chém theo hướng từ trên xuống dưới vào người L1, L1 đưa tay phải lên đỡ nên bị chém trúng bàn tay phải và ngã ngồi xuống nền nhà thì bị T chạy đến chém liên tiếp nhiều nhát vào người, trong đó 01 nhát vào vùng đầu gây thương tích ở tại bên phải và mặt bên phải, 01 nhát vào vai phải, 01 nhát vào xương sườn bên phải. Sau đó, L1 đẩy T ra khỏi phòng trọ rồi lao đến tiếp tục giằng co với T. Thấy cha bị chém, B lao đến thì bị T vung đao lên chém B, B giơ tay phải lên đỡ và bị chém trúng tay. Lúc này, người dân xung quanh tri hô và cáo ngăn nên T và T2 cầm theo hung khí bỏ trốn. Đến ngày 20/11/2023, T và T2 đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống 1109/KLTTCT-TTPYĐN ngày 23/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Văn L1 như sau:
- Các kết quả chính:
- Vết thương vành tai phải kích thước 02x0,1cm; không co rúm - vết thương má phải kích thước 07x0,2cm.
- Vết thương vai phải kích thước 12x0,2cm.
- Vết thương ngực bên phải kích thước 26x0,2cm.
- Vết thương mặt sau cẳng-cổ tay phải kích thước 11x0,2cm
- Kết luận:
- Kết luận khác:
- Vật gây thương tích: Vật sắc.
- + Thương tích tai phải, mặt, vai phải, ngực phải, cẳng cổ tay phải: Vật
- + Thương tích mu bàn tay phải: Vật tày.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là: 13%.
Đề nghị Cơ quan CSĐT trưng cầu giám định bổ sung sau khi bệnh nhân điều trị ổn định và xuất viện để xác định đầy đủ các tổn thương và di chứng kèm theo của tổn thương nếu có.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 0097/KLTTCT-TTPYĐN ngày 31/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Văn L1 như sau:
- Các kết quả chính:
- Sẹo mổ ngực bên phải kích thước 02x0,3cm. 02x0,4cm.
- Sẹo mu bàn tay phải kích thước
- Vết mổ xuyên định kết hợp xương đầu trong xương đòn phải kích thước 0,5x0,5cm.
- Gãy đầu trước xương sườn số 6 bên phải, can xấu.
- Gãy xương sườn số 7 bên phải, cáo xấu.
- Gãy xương sườn số 8 bên phải, cáo xấu.
- Gãy xương sườn số 9 bên phải, cáo xấu.
- Gãy xương sườn số 10 bên phải, can xấu.
- Gãy xương đòn phải đã kết hợp xương, can xấu, gồ.
- Vết thương cổ tay phải đứt gân duỗi cổ tay trụ, gân duỗi chung ngón 23-4-5, gân duỗi ngón 5 đã khâu nối gân, hiện để lại hạn chế vận động khớp cổ tay phải.
- Vết thương rách cơ hoành đã phẫu thuật khâu cơ hoành kết quả tốt.
- Vết thương rách nhu mô phổi phải hiện để lại mảng xẹp phổi thùy dưới phổi phải.
- Kết luận:
- Kết luận khác:
- Vật gây thương tích.
- + Thương tích tai phải, mặt, vai phải, ngực phải, cẳng cổ tay phải: Vật sắc.
- + Thương tích mu bàn tay phải: Vật tày.
Đã được Trung tâm pháp y tỉnh Đ giám định kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13% tại bản kết luận số 1109/KLTTCT-TTPYĐN ngày 23/11/2023.
Phần giám định bổ sung:
Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là: 65%.
Tại Bản kết luận giám định số: 0139/KLGĐHS-TTPYĐN ngày 26/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Nạn nhân Nguyễn Văn L1 vào viện trong tình trạng bệnh lơ mơ kích thích vật vã, da niêm nhạt, thở co kéo, thở mask 151/p, đặt nội khí quản. Mạch: 90l/p; HA: 90/60mmHg. Như vậy tổn thương của nạn nhân thuộc loại cấp cứu khẩn cấp (ngay lập tức), nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng (có thể tử vong bất cứ lúc nào).
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1110/KLTTCT-TTPYĐN ngày 23/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Quốc B như sau:
- Các kết quả chính:
- Vết thương mặt sau cổ tay phải kích thước 07x0,2cm.
- Vết mổ nằm dọc mặt sau cổ tay phải kích thước 07x0,2cm.
- Kết luận:
- Kết luận khác:
- Vật gây thương tích: Vật sắc.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là: 4%.
Đề nghị Cơ quan CSĐT trưng cầu giám định bổ sung sau khi bệnh nhân điều trị ổn định và xuất viện để xác định đầy đủ các tổn thương và di chứng kèm theo của tổn thương nếu có.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 0098/KLTTCT-TTPYĐN ngày 29/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Quốc B như sau:
- Các kết quả chính:
- Đã được Trung tâm P giám định kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04% tại Bản kết luận số 1110/KLTTCT-TTPYĐN ngày 23/11/2023.
- Vết thương dứt gân duỗi chung các ngón 3,4,5; bán phần gân khớp chung ngón 2, dứt gân duỗi riêng ngón 5, gãy xương cả, trật khớp cổ - bàn tay phải đã nắn chỉnh khớp khâu nổi gân, ổ gãy xuyên 2 đinh kirschner giữ trục khớp ổ gãy hiện để lại hạn chế vận động khớp cổ tay phải mức độ ít.
- Gãy nền xương bàn 5 bàn tay phải.
- Kết luận:
- Kết luận khác:
Phần giám định bổ sung
Tỷ lệ tổn thương tại thời điểm giám định bổ sung là: 18%.
Vật gây thương tích: Vật sắc.
Tại Bản kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0140/KLGĐHS-TTPYĐN ngày 22/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận về cơ chế, chiều hướng, lực tác động hình thành thương tích cho Nguyễn Quốc B như sau:
Vết thương hở mu bàn tay phải # 7cm, đứt bán phần gân duỗi chung ngón 2, đứt hoàn toàn gân duỗi chung ngón 3,4,5 đứt gân duỗi riêng ngón 5, gãy xương cả, gãy nền xương bàn 5, trật khớp cổ - bàn tay phải. Tổn thương này do vật sắc tác động với lực tương đối mạnh vào vùng cổ bàn tay phải theo hướng từ sau ra trước gây nên hoặc theo hướng từ trên xuống dưới trong trường hợp lực tác động từ trên xuống vào vùng đầu theo phản xạ bệnh nhân đưa tay lên đỡ, hoặc gần song song với bề mặt da gây nên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 con dao bằng kim loại dài 37cm, cán dao bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao dài 27cm.
- Đối với 01 cây đao bằng kim loại, dài khoảng 60cm của bị cáo Nguyễn Văn T, sau ghi gây án, bị cáo đã vứt mất nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị hại Nguyễn Văn L1, Nguyễn Quốc B yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích tổng cộng 400.000.000 đồng. Gia đình bị cáo Thạch T2 đã bồi thường 15.000.000 đồng, gia đình bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thanh H bồi thường số tiền 20.000.000 đồng.
Cáo trạng số 213/CT-VKS-P2 ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, Thạch T2, Nguyễn Thanh H, về tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
6. Ý kiến của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo xác định tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay bức cung. Tuy nhiên hành vi của các bị cáo chỉ phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Kết luận điều tra cũng như bản Cáo trạng truy tố bị cáo ra trước Tòa về tội giết người là không phù hợp với hành vi của các bị cáo đã thực hiện, các bị cáo thực hiện hành vi không có mục đích giết chết người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
7. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
- Về tội danh, trách nhiệm hình sự, quan điểm truy tố và điều luật áp dụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý đối với vụ án và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Thạch T2, Nguyễn Thanh H về tội “Giết người” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần chi phí cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Điều luật áp dụng và mức án đề nghị:
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 và 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy tang vật vụ án không có giá trị sử dụng.
- Về bồi thường dân sự: Buộc các bị cáo phải bồi thường các chi phí điều trị, tiền tổn thất tinh thần và các khoản khác cho anh L1 và anh B theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 15; Điều 57, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 14 (mười bốn) năm đến 16 (mười sáu) năm tù.
Đề nghị xử phạt bị cáo Thạch T2 mức án từ 12 (mười hai) đến 14 (mười bốn) năm tù.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H mức án từ 07 (bảy) đến 09 (chín) năm tù.
8. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo theo quy định của pháp luật trình bày tại phiên tòa:
Luật sư bào chữa theo luật định cho các bị cáo: Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo đã rõ, trong quá trình điều tra các bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi của mình và khi nhận kết luận điều tra cũng như Cáo trạng các bị cáo cũng không có ý kiến gì.
Tuy nhiên, các bị cáo đã ăn năn, hối cải, thành thật khai báo, chưa có tiền án, tiền sự thuộc thành phần lao động, có hoàn cảnh khó khăn. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định ở khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo mức hình phạt phù hợp với hành vi sai phạm của của từng bị cáo, mang tính giáo dục hơn là hình phạt để bị cáo có cơ hội cống hiến cho gia đình bị cáo và xã hội nói chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo, bị hại được bảo đảm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.
[2] Về nội dung vụ án.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, phù hợp với hành vi của các bị cáo thực hiện mà kết luận điều tra cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã mô tả được thể hiện như sau: Vào ngày 19/11/2023, tại phòng trọ của Nguyễn Văn L1 thuộc tổ B, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn T, Thạch T2 và Nguyễn Thanh H đã có hành vi vô cớ dùng 01 con dao bằng kim loại dài 37cm, cán dao bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao dài 27cm; 01 cây dao bằng kim loại, dài khoảng 60cm chém trúng mặt sau cẳng cổ tay phải, vành tai - má phải, vùng vai phải và trúng 01 phát vào vùng ngực bên phải của Nguyễn Văn L1 gây tổn thương với tỷ lệ thương tích là 65%. Sau khi chém L1, T tiếp tục dùng đao chém Nguyễn Quốc B gây thương tích 18%. Việc các bị cáo dùng dao, đao (là hung khí nguy hiểm) tấn công nhiều nhát vào người bị hại, theo hướng từ trên xuống dưới vào vùng đầu (vùng trọng yếu trên cơ thể) theo phản xạ bị hại B đưa tay lên đỡ nên chỉ bị thương tích 18%. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T và Thạch T2 và Nguyễn Thanh H đã phạm vào tội giết người thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo thực hiện hết sức dã man, gây ra hậu đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác, thể hiện tính chất côn đồ, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với nhiều người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Hành vi của các bị cáo dùng dao, đao là hung khí nguy hiểm chém vào đầu và đâm chém vào người, đầu vai anh L1, cháu B (là vùng trọng yếu trên cơ thể) một cách liên tiếp thể hiện sự quyết liệt. Việc bị hại L1 và B không chết là ngoài ý muốn của các bị cáo. Trong vụ án trên, các bị cáo thực hiện hành vi với vai trò đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T2 là người trực tiếp gây mâu thuẫn và sử dụng dao chặt đá chém anh L1 và cháu B nhiều nhát, bị cáo T khi thấy sự việc trên xảy ra không trực tiếp can ngăn còn sử dụng thanh đao chém nhiều nhát vào anh L1 và cháu B, bị cáo là người trực tiếp gây thương thích cho anh L1 65% và gây thương tích cho cháu B 18%; bị cáo H là người cầm thanh đao đưa cho T đồng thời còn có hành vi kích động về tinh thần đối với bị cáo T để T thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, đối với các bị cáo cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc nhằm mục đích giáo dục và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3]. Về hình phạt áp dụng cho các bị cáo:
3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo Thạch T2 đã tự nguyện bồi thường 15.000.000 đồng; bị cáo T2 là người dân tộc, gia đình bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thanh H bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho bị hại, các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, ra đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
[4] Về phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra anh L1 và anh B là bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về dân sự bao gồm các khoản chi phí điều trị thương tật, tổn thất tinh thần và các khoản tiền công chăm sóc, tiền bồi dưỡng trong thời gian điều trị và tiền viện phí tổng cộng 400.000.000 đồng. Tại phiên tòa anh B yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 50.000.000đ trong (gồm chi phí chữa trị, tiền tổn thất tinh thần các chi phí khác), các bị cáo cũng đồng ý bồi thường số tiền trên cho anh B nên ghi nhận: chia phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh B 16.666.667 đồng.
Riêng anh L1 trình bày từ khi bị các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đến nay sức khỏe của anh bị giảm sút, không thể lao động được, sống nhờ vợ và các con, hiện nay anh bị mất khả năng lao động, anh yêu cầu các bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho riêng anh số tiền 400.000.000đ (bao gồm tiền nằm viện trong 17 ngày, tiền chi phí thuốc men, tiền công chăm sóc, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền mất thu nhập, tiền tổn thất về tinh thần).
Hội đồng xét xử căn cứ vào các chi phí hợp lý để xem xét buộc các bị cáo bồi thường cho anh L1 cụ thể sau: Trong quá trình anh L1 điều trị gồm tiền thuốc, tiền viện phí 70.000.000 đồng (có hóa đơn), tiền tổn thất tinh thần 140.400.000₫ (2.340.000₫ x 60 tháng lương cơ sở); tiền mất thu nhập trong thời gian 03 tháng 10.000.000 đồng x 3 = 30.000.000đ, tiền công chăm sóc là 10.000.000đ trong 17 ngày nằm viện. Tổng cộng 250.400.000₫ buộc các bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường chia phần cụ thể sau:
Bị cáo Thạch T2 phải bồi thường 83.466.667đ. Trong đó bị cáo T2 đã bồi thường được 15.000.000đ số tiền bị cáo còn phải bồi thường là 68.466.667đ cho bị hại L1
Bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Nguyễn Thanh H mỗi bị cáo phải bồi thường 83.466.667đ. Trong đó bị cáo T đã bồi thường được 10.000.000đ; bị cáo H đã bồi thường được 10.000.000₫ số tiền mỗi bị cáo còn phải bồi thường là là 73.466.667₫ cho bị hại L1.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ tang vật không có giá trị sử dụng.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và quan điểm của luật sư bào chữa cho các bị cáo theo quy định pháp luật tại phiên tòa về hành vi phạm tội, tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Thạch T2 và Nguyễn Thanh H phạm tội “Giết người”.
- Áp dụng pháp luật và quyết định hình phạt:
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về phần bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 591, 593 Bộ luật Dân sự.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn L1 số tiền 73.466.667đ (bảy mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Bồi thường cho anh Nguyễn Quốc B số tiền 16.666.667đ (mười sáu triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
- Buộc bị cáo Thạch T2 phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn L1 số tiền 68.466.667₫ (sáu mươi tám triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Bồi thường cho anh Nguyễn Quốc B số tiền 16.666.667đ (mười sáu triệu, sáu trăm, sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm, sáu mươi bảy đồng).
- Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn L1 số tiền 73.466.667đ (bảy mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Bồi thường cho anh Nguyễn Quốc B số tiền 16.666.667đ (mười sáu triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Thạch T2 phải chịu 4.256.000đ (bốn triệu, hai trăm năm sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm
- Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 4.506.000đ (bốn triệu năm trăm lẻ sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm
- Bị cáo Nguyễn Thanh H phải chịu 4.506.000đ (bốn triệu năm trăm lẻ sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo, anh L1, anh B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15; Điều 57; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T: 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2023.
2.2. Xử phạt bị cáo Thạch T2: 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2023
2.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H: 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án
- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại dài 37cm, cán dao bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao dài 27cm.
Tình trạng vật chứng, tài sản: Con dao đã được niêm phong có chữ ký của Huỳnh Thị Bích P và Trưởng Công an thị trấn L ông Cao Nhật T5 đã qua sử dụng.
(Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 03/10/2024. Phiếu nhập: NK 25/03, ngày 03/10/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kiều Lương |
Bản án số 243/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về giết người
- Số bản án: 243/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 19/11/2023, tại phòng trọ của Nguyễn Văn L thuộc tổ 21, khu Kim S, thị trấn Long Th, huyện Long Th, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn Th, Thạch Tr và Nguyễn Thanh H đã có hành vi vô cớ dùng 01 con dao bằng kim loại dài 37cm, cán dao bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao dài 27cm; 01 cây dao bằng kim loại, dài khoảng 60cm chém trúng mặt sau cẳng cổ tay phải, vành tai - má phải, vùng vai phải và trúng 01 phát vào vùng ngực bên phải của Nguyễn Văn L gây tổn thương với tỷ lệ thương tích là 65%. Sau khi chém L, Th tiếp tục dùng đao chém Nguyễn Quốc B gây thương tích 18%. Việc các bị cáo dùng dao, đao (là hung khí nguy hiểm) tấn công nhiều nhát vào người bị hại, theo hướng từ trên xuống dưới vào vùng đầu (vùng trọng yếu trên cơ thể) theo phản xạ bị hại B đưa tay lên đỡ nên chỉ bị thương tích 18%. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn Th và Thạch Tr và Nguyễn Thanh H đã phạm vào tội giết người thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự.
