Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Số: 243/2024/HC-PT

Ngày: 22/4/2024

V/v khiếu kiện hủy quyết định hành

chính về lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Minh Tuấn;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Nam Thành; Ông Nguyễn Xuân Điền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhạn - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý 24/2024/TLPT-HC ngày 05 tháng 01 năm 2024 về “Khiếu kiện quyết định hành chính”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 83/2023/HC-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3990/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn M sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn C, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Bà Nguyễn Phượng U sinh năm 1973 ; địa chỉ: Nhà số C P, phường G quận H thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 25/5/2023); có mặt.

- Người bị kiện:

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh;
  2. Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh;

Cùng địa chỉ: Phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Hồ Quang H là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M (Văn bản ủy quyền ngày 13/6/2023); vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:

  1. Ông Trần Minh T là Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố M; có mặt.
  2. Ông Vũ Tuấn C là Phó Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố M; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.
  2. Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Ủy ban nhân dân xã Q: Ông Ngô Văn D là Công chức Địa chính - Xây dựng xã Q (Văn bản ủy quyền ngày 06/9/2023); có mặt.

  1. Công ty TNHH Đ2; địa chỉ: K+900 đường C - V, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Đ2: Ông Phan Trung H1 là Giám đốc Công ty TNHH Đ2; vắng mặt và có văn bản để nghị xét xử vắng mặt.

  1. Bà Phạm Thị P sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn C, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bà Phạm Thị P: Bà Nguyễn Phượng U sinh năm 1973; địa chỉ: Nhà số C P, phường G quận H thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 25/5/2023); có mặt.

  1. Bà Nguyễn Thị T1; địa chỉ: Thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn M là người khởi kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/02/2023, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 19/4/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện là ông Nguyễn Văn M trình bày:

Năm 2003, gia đình ông Nguyễn Văn M tham gia dự án V - Đ và được cấp sổ. Sau đó, ngày 10/10/2005 được Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thị xã M, tỉnh Quảng Ninh giao đất theo Quyết định số 1.937 “V/v giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích lâm nghiệp” (thời gian giao 50 năm) để trồng rừng sản xuất và khoanh nuôi, tái sinh” (Quyết định này có giá trị như đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau đây viết tắt là GCNQSDĐ). Kể từ khi tham gia dự án cho đến khi bị thu hồi đất (năm 2019), gia đình ông M đã bỏ rất nhiều công sức bảo vệ, phát ranh, phát dây leo chăm sóc, phòng chống cháy rừng và đặc biệt có trồng nhiều cây thân gỗ lâu năm như sến, dẻ vàng, dung trắng. Việc bỏ công sức để nuôi dưỡng, tái sinh, trồng rừng được chứng minh bằng Báo cáo kết quả kiểm kê rừng (tháng 5/2005) thôn 3D của Đoàn Khảo sát thiết kế Lâm nghiệp tỉnh Quảng Ninh... Ngày 19/8/2018, UBND thành phố M ra Thông báo thu hồi đất, để làm mỏ đất phục vụ dự án Cao tốc V - M. Nhưng ông M không biết và không được tống đạt thông báo này. Thông báo này cũng không niêm yết công khai và tổ chức họp dân mà để cho bà Vũ Thị T2 là người biết trước có dự án đã đi mua gom trái pháp luật hàng chục ha đất của dân vào ban đêm rồi dùng giấy ủy quyền giả chữ ký của 31 hộ dân câu kết với cán bộ xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh và Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố M (sau đây viết tắt là TTPTQĐ) lập hồ sơ, lên phương án bồi thường, hỗ trợ số tiền hơn 800 triệu đồng. Ông M cùng các hộ dân khiếu nại, ngày 22/4/2021, UBND xã Q đã ra Quyết định số 126 hủy bỏ 31 văn bản chứng thực ủy quyền của 31 hộ dân và TTPTQĐ lập lại phương án cho chính chủ. Tuy nhiên, cũng đất - rừng ấy nhưng UBND xã Q đã lập Biên bản làm việc ngày 08/6/2021 giả chữ ký của ông M và các hộ dân (nội dung biên bản: Ông M và nhiều hộ dân tự nhận bỏ hoang rừng, không quản lý, tác động vào đất từ những năm 2010-2012). Đồng thời, ngày 28/6/2021, ông Lương Xuân T3 là Trưởng thôn 5, xã Q cũng làm lại phiếu lấy ý kiến dân cư để thay thế phiếu lấy ý kiến khu dân cư lập tháng 3/2019. Phiếu lấy ý kiến khu dân cư và bản chứng nhận nhà đất lập lại này có nội dung hoàn toàn sai sự thật, ngược lại với P1 lấy ý kiến khu dân cư và bản chứng nhận nhà đất lập năm 2019. Năm 2019, khi bà T2 giả chữ ký ông M ủy quyền cho bà T2 thay mặt thiết lập hồ sơ bồi thường, hỗ trợ thì thôn và xã khẳng định ông M không bỏ hoang rừng mà vẫn bảo vệ, chăm sóc cho đến thời điểm thu hồi đất. Nhưng khi giấy ủy quyền bị hủy (do giả chữ ký) thì thôn và xã làm lại phiếu lấy ý kiến khu dân cư và bản chứng nhận nhà đất mới nói ngược lại là ông M bỏ hoang rừng, không bảo vệ quản lý, tác động vào đất từ năm 2012.

Tại Bản chứng nhận nhà đất, tài sản lập lại ngày 19/7/2021, Phó Chủ tịch xã Q ông Phạm Đức T4 cũng thừa nhận ông M có trồng rừng. Vậy mà, trong bản phương án lập ngày 07/10/2021, TTPTQĐ lại khẳng định hộ ông M không trồng rừng, không quản lý, khoanh nuôi và tác động vào đất từ năm 2012 đến nay, rồi áp dụng điểm h khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 (vi phạm về đất đai, không trồng rừng sau 24 tháng thì bị thu hồi) để tước đoạt quyền được bồi thường, hỗ trợ về đất của gia đình ông M.

Tại Thông báo thu hồi đất và phương án đền bù đều ghi rõ mỏ đất “phục vụ dự án cao tốc V - M. Nhưng tại Quyết định thu hồi đất số 11781 và Quyết định phê duyệt phương án bồi thường số 11782 ngày 7/10/2021 của UBND thành phố M lại ghi là “để phục vụ thi công dự án hỗ trợ giải phóng mặt bằng tuyến đường ven biển thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ninh”. Như vậy, không biết việc thu hồi đất vì mục đích gì và phục vụ dự án nào. Mặt khác, khi chưa có quyết định thu hồi đất và lập phương án bồi thường nhưng từ tháng 8/2020 bà T2 đã cho đơn vị chủ mỏ vào khai thác đất đến tháng 02/2021 thì khai thác xong.

Ngoài ra, TTPTQĐ còn dùng những tài liệu giả chữ ký của ông M, đưa những biên bản kiểm đếm, biên bản bàn giao mặt bằng, bản tự khai ký giả tên chữ ký của chủ rừng do bà T2 tạo lập trái pháp luật, ghi năm 2019 để làm cơ sở đền bù hỗ trợ.

Ông M đã khiếu nại đến Chủ tịch UBND thành phố M yêu cầu hủy Quyết định thu hồi đất số 11781 và Quyết định phê duyệt phương án bồi thường số 11782 cùng ngày 07/10/2021 để yêu cầu bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản trên đất đúng quy định. Đến ngày 02/12/2022, Chủ tịch UBND thành phố M đã ban hành Quyết định số 10092 bác toàn bộ khiếu nại của ông M.

Do đó, ông M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy toàn bộ Quyết định giải quyết khiếu nại số 10092/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 của Chủ tịch UBND thành phố M; Quyết định thu hồi đất số 11781/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 và Quyết định phê duyệt phương án bồi thường số 11782/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 của UBND thành phố M (sau đây viết tắt là Quyết định số 10092/QĐ-UBND ngày 02/12/2022, Quyết định số 11781/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 và Quyết định số 11782/QĐ-UBND ngày 07/10/2021).

- Buộc UBND thành phố M bồi thường thiệt hại về đất (20.800,3m²) và bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất (cây tự nhiên gồm trên 70.500 cây tre dóc, cây kháo, cây thầu dầu) theo đúng quy định của pháp luật.

- Trả lại cho gia đình ông M phần diện tích 9.036m² đất còn lại không nằm trong quy hoạch đã bị chủ đầu tư lấy toàn bộ tổng diện tích 32.306,1m² đất.

Người bị kiện là Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh trình bày:

1. Kết quả lập phương án:

Qua nghiên cứu hồ sơ và nội dung khởi kiện của ông Nguyễn Văn M thể hiện: Thửa đất số 07, tờ bản đồ GPMB số 01, tổng diện tích hiện trạng 32.306,1m²; diện tích thu hồi 23.270,1m² để thực hiện dự án Khai thác mỏ đất Quảng Nghĩa tại thôn E, xã Q, thành phố M phục vụ thi công Dự án hỗ trợ GPMB tuyến đường ven biển đoạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã được UBND thành phố M ban hành Quyết định thu hồi đất số 11781/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 và phê duyệt phương án bồi thường tại Quyết định số 11782/QĐ-UBND ngày 07/10/2021; diện tích còn lại 9.036m². Tổng giá trị được bồi thường, hỗ trợ với giá trị là 0 đồng.

+ Bồi thường, hỗ trợ về đất: 0 đồng (Thửa đất số 07 bản đồ GPMB số 01 diện tích thu hồi 23.270,1m² đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên và không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục, không được bồi thường, hỗ trợ).

+ Công trình, kiến trúc: 0 đồng;

+ Cây cối, hoa màu: 0 đồng;

+ Chính sách hỗ trợ khác: 0 đồng;

+ Tái định cư: Không.

Trong quá trình thu hồi đất, lập, phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư đối với hộ bà Phạm Thị P, ông M, các cơ quan chức năng của thành phố đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.

2. Về thực hiện trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định tại các Điều 67 và 69 Luật Đất đai năm 2013

Trong hồ sơ Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (sau đây viết tắt là Phương án bồi thường) dự án của hộ dân đã thể hiện:

- Các Biên bản niêm yết công khai Quy hoạch mặt bằng dự án, Quyết định phê duyệt dự án; thông báo thu hồi đất, tổ chức họp dân tuyên truyền phổ biến chính sách, kế hoạch thu hồi đất trước khi triển khai; thành lập các tổ công tác, thành lập Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư Thành phố;

- Phương án bồi thường dự thảo đã được niêm yết công khai và tổ chức lấy ý kiến của người bị thu hồi đất theo quy định;

- Tổ chức tiếp xúc, đối thoại với hộ ông M theo quy định tại Điều 69 Luật Đất đai năm 2013;

- Phương án bồi thường đã được Hội đồng bồi thường thành phố M thẩm định và trình UBND thành phố Móng Cái phê duyệt đúng quy định. Công tác niêm yết Quyết định thu hồi đất, Quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và giao nhận cho người bị thu hồi đất đảm bảo đúng quy định;

3. Về thẩm quyền và quá trình giải quyết khiếu nại

3.1. Về thẩm quyền

Ông M khiếu nại 02 Quyết định hành chính của UBND thành phố M, gồm:

- Quyết định số 11781/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 “Về việc thu hồi đất do hộ ông Nguyễn Văn M cùng bà Phạm Thị P đang sử dụng tại thôn E, xã Q, thành phố M để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án: Khai thác mỏ đất Quảng Nghĩa tại thôn E, xã Q, thành phố M phục vụ thi công Dự án hỗ trợ giải phóng mặt bằng tuyến đường ven biển đoạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”;

- Quyết định số 11782/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 “Về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; kinh phí đảm bảo cho việc tổ chức giải phóng mặt bằng đối với hộ ông Nguyễn Văn M cùng bà Phạm Thị P đang sử dụng đất tại thôn E, xã Q, thành phố M để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án: Khai thác mỏ đất Quảng Nghĩa tại thôn E, xã Q, thành phố M phục vụ thi công Dự án hỗ trợ giải phóng mặt bằng tuyến đường ven biển đoạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”.

Căn cứ khoản 1 Điều 18 Luật Khiếu nại năm 2011, khiếu nại của ông M thuộc thẩm quyền giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Chủ tịch UBND thành phố M.

3.2. Về quá trình giải quyết khiếu nại của ông M

Sau khi tiếp nhận đơn khiếu nại, UBND thành phố M đã có Thông báo số 338/TB-UBND ngày 23/8/2022 thụ lý khiếu nại, có Quyết định số 7052/QĐ-UBND ngày 23/8/2022 giao Cơ quan Ủy ban Kiểm tra - Thanh tra (nay là Thanh tra) thành phố M xác minh, làm rõ nội dung khiếu nại của công dân.

Qua xem xét Báo cáo xác minh số 86/BC-UBKTTT ngày 02/11/2022 và kết quả đối thoại ngày 17/11/2022 với người khiếu nại, Chủ tịch UBND thành phố M đã giải quyết khiếu nại lần 1 tại Quyết định số 10092/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 với nội dung không chấp nhận nội dung đơn khiếu nại.

Như vậy, việc tiếp nhận và giải quyết đơn khiếu nại của ông M được Chủ tịch UBND thành phố M thụ lý, giải quyết đảm bảo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

4. Quan điểm giải quyết các yêu cầu khởi kiện

Việc ông M yêu cầu hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 10092/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 của Chủ tịch UBND thành phố M; hủy Quyết định số 11781/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 và Quyết định số 11782/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 của UBND thành phố M, buộc UBND thành phố M bồi thường hỗ trợ thiệt hại về đất (23.270,1 m²), trả lại phần đất dư không nằm trong diện tích đất bị thu hồi là 9.036,0m²; bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất (cây trồng gồm: Cây tự nhiên gồm 70.500 cây tre dóc, cây kháo, cây thẩu tấu) theo đúng quy định của pháp luật là không có cơ sở do:

4.1. Yêu cầu bồi thường, hỗ trợ về đất

Theo Bản chứng nhận nhà, đất, tài sản trên đất được UBND xã Q xác nhận ngày 20/7/2021 thể hiện: Thửa đất số 07 tờ bản đồ hiện trạng GPMB số 01, mang tên hộ ông M, tổng diện tích hiện trạng 32.306,1m²; diện tích thu hồi GPMB 23.270,1m²; diện tích còn lại 9.036,0m².

Năm 2003, hộ gia đình ông M tham gia dự án trồng rừng V, đến ngày 10/10/2005 UBND thị xã M ban hành Quyết định số 1937/QĐ-UB “V/v giao đất lâm nghiệp cho 356 hộ gia đình và cá nhân sử dụng vào mục đích lâm nghiệp” để “Trồng rừng sản xuất và khoanh nuôi tái sinh theo chương trình trồng rừng dự án trồng rừng V - Đức”, trong đó có hộ ông M, nhưng do bị thất lạc, hiện không còn lưu trữ được danh sách kèm theo Quyết định giao đất nêu trên.

Căn cứ hồ sơ kết quả kiểm kê rừng trồng dự án KFW3 của đơn vị kiểm kê là Đoàn Khảo sát thiết kế lâm nghiệp Quảng Ninh hoàn thành tháng 11/2005 thể hiện: Hộ ông M (vợ là bà P) được kiểm kê thể hiện tại Bảng kê kết quả kiểm kê rừng trồng năm 2005 có số thứ tự 10, lô 10, diện tích 2,2ha thuộc thôn 3b là rừng khoanh nuôi tái sinh không trồng bổ sung. Tại Biên bản làm việc với Cơ quan Ủy ban Kiểm tra - Thanh tra ngày 25/10/2022, UBND xã Q xác định: hộ ông Nguyễn Văn M được giao thửa đất số 10-KN/03 (rừng khoanh nuôi tái sinh, không trồng bổ sung - tờ bản đồ giao đất rừng V - Đức năm 2005), diện tích 2,13ha (bản kiểm kê ghi 2,2ha), tương ứng với thửa đất số 152, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01, đo vẽ năm 2009, diện tích 32.306,0m² và tương ứng với thửa đất số 07, tờ bản đồ GPMB số 01 năm 2019, diện tích 32.306,0m² (tăng 10.306,1m² so với diện tích dự án rừng V1 giao năm 2005), phần diện tích tăng thêm đều nằm trong ranh giới dự án rừng V - Đức. Theo báo cáo của UBND xã Q, nguyên nhân diện tích tăng lên một phần sai số do đo vẽ, một phần do hộ dân sử dụng không đúng với ranh giới diện tích được giao năm 2005; đối chiếu giữa bản đồ giao đất dự án rừng V - Đức năm 2005 với bản đồ địa chính đo vẽ năm 2009 và bản đồ GPMB năm 2019 cho thấy, hộ ông M sử dụng thửa đất số 10-KN/03 và một phần diện tích thửa đất số 11-KN/03; năm 2009 UBND xã Q đã thực hiện việc đo vẽ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất của hộ dân, ranh giới và diện tích thửa đất đã được thống nhất và không có tranh chấp. Do đó, diện tích thửa đất giữa bản đồ địa chính đất lâm nghiệp năm 2009 và bản đồ GPMB 2019 không có sự thay đổi.

Theo Bảng kê kết quả kiểm kê rừng trồng năm ngày 28/10/2005 cho thấy: Hộ ông M được giao rừng quản lý, bảo vệ khoanh nuôi tái sinh, nhưng không trồng bổ sung đối với diện tích dự án rừng V - Đức được giao. Theo biểu tổng hợp kết quả điều tra hiện trạng đất lâm nghiệp cho 25 phương án GPMB kèm theo Báo cáo số 01/BC-KKR ngày 27/3/2020 của Trung tâm SXDV-KHKT nông lâm nghiệp xác định: Toàn bộ diện tích 23.270m² của hộ ông M được điều tra đều là đất trống (trong đó có 11.860m² có cây bụi; 11.410m² đất trống có cây dóc, cây rừng, cây tái sinh). Như vậy, kể từ thời điểm năm 2010 kết thúc dự án đến thời điểm có thông báo thu hồi đất (năm 2019), hộ ông M không thực hiện việc quản lý, duy trì phát triển diện tích rừng được giao (làm mất rừng).

Việc xác nhận về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, hiện trạng trên đất là căn cứ vào các tài liệu của dự án V2, Bản đồ địa chính đất lâm nghiệp năm 2009, Báo cáo số 01/BC-KKR ngày 27/3/2020 của Trung tâm SXDV-KHKT nông lâm nghiệp thuộc trường Cao đẳng N về “Kết quả điều tra, đánh giá của 25 phương án đang triển khai GPMB dự án khai thác mỏ đất Q tại thôn E, xã Q, thành phố M”; Phiếu lấy ý kiến khu dân cư ngày 28/6/2021, trình bày của ông M với UBND xã Q tại Biên bản làm việc ngày 08/6/2021, Kết luận số 11/KL-TTr-m ngày 18/3/2021 của Thanh tra tỉnh Quảng Ninh. Tại Kết luận Thanh tra số 11/KL-TTr-m ngày 18/3/20021 về nguồn gốc, hiện trạng khu đất và việc quản lý, sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân được xác định như sau:

(1) Hiện trạng: “Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của các hộ dân chủ yếu là đất trống hoặc trên đất có cây rừng tự nhiên, cây bụi (như dóc, thẩu tấu, bui bui...). Đối với cây trồng của các hộ dân chỉ có 07 cây sấu, 01 cây thông và keo non trồng năm 2018.”.

(2) Về nguồn gốc sử dụng đất và quá trình sử dụng đất:

“Có 20 hộ dân tham gia dự án V, được UBND thành phố Móng cái giao đất để thực hiện khoanh nuôi tái sinh, phục hồi rừng tự nhiên tại Quyết định số 1937/QĐ-UB ngày 10/10/2005 “V/v giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình và cá nhân sử dụng vào mục đích lâm nghiệp”. Các hộ dân này khi tham gia được hỗ trợ tiền để thực hiện dự án. Trong đó: 08/20 hộ dân thực hiện dự án bằng hình thức khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng tự nhiên không trồng bổ sung cây trồng; 12/20 hộ dân thực hiện dự án bằng hình thức khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng tự nhiên có trồng bổ sung cây sấu.

Năm 2010 dự án trồng rừng V - Đ kết thúc và dự án được bàn giao về địa phương quản lý nên không còn kinh phí, do đó các hộ dân tham gia dự án không còn quản lý, khoanh nuôi và tác động vào đất từ năm 2010. Đến thời điểm thanh tra, phần diện tích thực hiện dự án chỉ có cây rừng tự nhiên, cây bụi (như dóc, thẩu tấu, bui bui,...). Các cây hộ dân trồng bổ sung cơ bản đã chết (chỉ còn 7 cây sấu). Theo Trung tâm N nông nghiệp điều tra, đánh giá thì toàn bộ diện tích các hộ dân tham gia thực hiện dự án không đạt tiêu chí là rừng. Năm 2018, các hộ dân này đã tự ý chuyển nhượng đất cho bà Vũ Thị T2 trú tại thôn E, xã Q, thành phố M không thông qua chính quyền địa phương”.

Kết luận cũng chỉ ra rằng: “Theo quy định Khoản 2, Điều 54; khoản 1 Điều 76; Khoản 1 Điều 82; Khoản 1, 2 Điều 135 Luật Đất đai 2013; Khoản 2 Điều 73; Khoản 1 Điều 82 Luật Lâm nghiệp.

Điều 54. Giao đất không thu tiền sử dụng đất

Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây: (...)

2. Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật này;

Điều 76. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Các trường hợp không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:

a) Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật này;

Điều 64. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai:

h) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;,

Đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất, chỉ được hưởng lâm sản tăng thêm từ rừng do tự đầu tư vào rừng tự nhiên. Căn cứ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 thì các hộ dân không sử dụng đất lâm nghiệp quá 24 tháng thì phải thu hồi và không được bồi thường về đất”.

Đồng thời, Kết luận của Thanh tra tỉnh chỉ rõ: “UBND xã Q xác định nguồn gốc sử dụng đất của các hộ dân thuộc diện bồi thường giải phóng mặt bằng chưa đảm bảo đúng quy định.........” và yêu cầu UBND xã Q phải lập lại Bản chứng nhận nhà đất theo đúng quy định.

Sau khi có Kết luận thanh tra, ngày 20/7/2021 UBND xã Q đã lập lại Bản chứng nhận nhà, đất, tài sản trên đất của hộ ông Nguyễn Văn M, trong đó xác định: “Thửa đất số 07 tờ bản đồ GPMB số 01 có tổng diện tích 32.306,1m², diện tích thu hồi 23.270,1m², còn lại 9.036m². Năm 2003 hộ gia đình ông Nguyễn Văn M có tham gia dự án trồng rừng V. Đến ngày 10/10/2005, Ủy ban nhân dân thị xã M ban hành Quyết định số 1937/QĐ-UB “V/v giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình và cá nhân sử dụng vào mục đích lâm nghiệp” đất lâm nghiệp để “Trồng rừng sản xuất và khoanh nuôi tái sinh theo chương trình trồng rừng dự án trồng rừng V - Đ”. Trong hồ sơ kết quả kiểm kê rừng trồng dự án KFW3 của đơn vị kiểm kê: Đoàn khảo sát thiết kế lâm nghiệp Quảng Ninh hoàn thành tháng 11 năm 2005 thì hộ ông M được kiểm kê thể hiện tại bảng kê kết quả kiểm kê rừng trồng năm 2003 ngày 28/10/2005 có số thứ tự 10, lô 10, diện tích 2,2ha thuộc thôn 3b là rừng khoanh nuôi tái sinh không trồng bổ sung. Hộ ông M quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh không trồng bổ sung từ năm tham gia dự án V đến khi dự án kết thúc năm 2010. Từ năm 2010 đến thời điểm có thông báo thu hồi đất thì hộ ông M không còn quản lý, khoanh nuôi và tác động vào thửa đất trên.”.

Tại Biên bản làm việc với cơ quan Ủy ban Kiểm tra - Thanh tra ngày 19/9/2022, ông Nguyễn Văn M xác nhận: Thửa đất này có nguồn gốc là rừng tự nhiên, năm 2003 gia đình ông Nguyễn Văn M tham gia dự án trồng rừng V được dự án giao để khoanh nuôi, chăm sóc không trồng bổ sung.

Căn cứ hồ sơ, tài liệu và kết quả xác minh cho thấy: Nguồn gốc thửa đất của hộ ông M là đất rừng được giao theo dự án trồng rừng V - Đ và được xác định là rừng khoanh nuôi không trồng bổ sung, từ năm 2010 sau khi dự án trồng rừng V - Đ kết thúc đến thời điểm có thông báo thu hồi đất (năm 2019), hộ ông M không thực hiện việc quản lý, duy trì phát triển diện tích rừng, trên đất chỉ có các cây tự nhiên và cây gỗ tái sinh phát triển không đạt tiêu chí là rừng (làm mất rừng). Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 76, khoản 1 Điều 82 và điểm h khoản 1 Điều 64, khoản 3 Điều 82 Luật đất đai 2013, người khởi kiện yêu cầu bồi thường, hỗ trợ về đất không có cơ sở.

4.2. Về yêu cầu bồi thường cây trồng trên đất

Tại Biên bản làm việc ngày 19/9/2022 với Cơ quan Ủy ban Kiểm tra - Thanh tra, ông M cho rằng toàn bộ cây trồng trên đất không được bồi thường, hỗ trợ là không đúng; Bản chứng nhận nhà, đất và tài sản trên đất ngày 20/7/2021 của UBND xã Q xác nhận từ năm 2010 đến nay gia đình ông M không quản lý, khoanh nuôi, tác động vào đất là không đúng và gia đình không được tham gia kiểm đếm, không được ký biên bản kiểm đếm, số lượng cây trồng trong phương án ghi không chính xác. Gia đình đề nghị kiểm đếm lại và bồi thường các cây trồng trên đất cho gia đình.

Theo bản đồ giao đất rừng V - Đ và kết quả kiểm kê rừng trồng dự án V KFW3 năm 2005 thể hiện hộ ông M được giao thửa đất số 10-KN/03, diện tích 2,2ha là rừng khoanh nuôi tái sinh, không trồng bổ sung. Tại Biên bản làm việc với Cơ quan Ủy ban Kiểm tra - Thanh tra ngày 19/9/2022, ông M khẳng định: năm 2003 gia đình tham gia dự án trồng rừng V - Đức, gia đình được giao diện tích rừng tự nhiên để khoanh nuôi, bảo vệ không trồng bổ sung. Tại Biên bản làm việc với UBND xã Q ngày 08/6/2021 ông M trình bày: Năm 2003, gia đình ông M được giao đất theo chương trình dự án trồng rừng V, gia đình được giao rừng tự nhiên để khoanh nuôi tái sinh không trồng bổ sung. Trên đất tại thời điểm được giao có rừng tự nhiên, gia đình chỉ phát dây leo, chăm sóc, bảo vệ rừng để nhận tiền hỗ trợ của dự án, ngoài ra gia đình không tác động gì thêm vào đất đến thời điểm chuyển nhượng đất cho gia đình bà Vũ Thị T2 (chồng là ông Nguyễn Văn Đ1) năm 2018 (biên bản có chữ ký của ông M).

Theo Bản chứng nhận nhà, đất và tài sản trên đất ngày 20/7/2021 của UBND xã Q xác nhận: Thửa đất số 07 tờ bản đồ GPMB số 01 có tổng diện tích 32.306,1m², diện tích thu hồi 23.270,1m², còn lại 9.036m². Thửa đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình cá nhân, tổ chức nào. Năm 2003 hộ gia đình ông M có tham gia dự án trồng rừng V. Trong hồ sơ kết quả kiểm kê rừng trồng dự án KFW3 của đơn vị kiểm kê: Đoàn khảo sát thiết kế lâm nghiệp Quảng Ninh hoàn thành tháng 11 năm 2005 thì hộ ông M được kiểm kê thể hiện tại bảng kê kết quả kiểm kê rừng trồng năm 2003 ngày 28/10/2005 có số thứ tự 10, lô 10, diện tích 2,2ha thuộc thôn 3b là rừng khoanh nuôi tái sinh không trồng bổ sung. Hộ ông M quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh không trồng bổ sung từ năm tham gia dự án V đến khi dự án kết thúc năm 2010. Từ năm 2010 đến thời điểm có thông báo thu hồi đất thì hộ ông M không còn quản lý, khoanh nuôi và tác động vào thửa đất trên.

Tại Biên bản kiểm đếm ngày 24/8/2019 có chữ ký của ông M và bà T2 (bà T2 là người được ủy quyền, nhưng việc ủy quyền không đúng quy định đã được Thanh tra tỉnh chỉ ra trong Kết luận số 11/KL-TTr-m ngày 18/3/2021, UBND xã Q đã có Quyết định hủy bỏ văn bản chứng thực ủy quyền) thể hiện các loại cây được kiểm đếm ghi trong biên bản không có cây trồng, chỉ có các loại cây tự nhiên là tre, dóc, cây gỗ tự nhiên phát triển không đạt tiêu chí rừng. Theo Báo cáo số 01/BC-KKR ngày 27/3/2020 của Trung tâm SXDV-KHKT nông lâm nghiệp thuộc trường Cao đẳng N về “Kết quả điều tra, đánh giá của 25 phương án đang triển khai GPMB dự án khai thác mỏ đất Q tại thôn E, xã Q, thành phố M”, số lượng cây trên đất của hộ ông Nguyễn Văn M cũng chỉ gồm các cây tự nhiên và cây gỗ tái sinh phát triển không đạt tiêu chí rừng.

Theo Kết luận Thanh tra số 11/KL-TTr-m xác định hiện trạng: “Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của các hộ dân chủ yếu là đất trống hoặc trên đất có cây rừng tự nhiên, cây bụi (như dóc, thẩu tấu, bui bui...). Đối với cây trồng của các hộ dân chỉ có 07 cây sấu, 01 cây thông và keo non trồng năm 2018.”.

Số lượng 07 cây sấu là ở trên đất của hộ gia đình ông Đặng Văn H2; keo non ở trên thửa đất số 06 tờ bản đồ GPMB số 01 của hộ bà Vũ Thị T2 và hai hộ gia đình đều đã được bồi thường theo quy định.

Như vậy, qua kết quả kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của 03 đơn vị: Trung tâm Phát triển quỹ đất, Trung tâm N và Thanh tra tỉnh thì trên đất của hộ ông Nguyễn Văn M chỉ có cây tự nhiên và cây gỗ tái sinh phát triển không đạt tiêu chí rừng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 73 Luật Lâm nghiệp năm 2017 quy định quyền chung của chủ rừng: “2. Được hưởng lâm sản tăng thêm từ rừng do tự đầu tư vào rừng tự nhiên, rừng trồng là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ”, do đó chủ rừng được hưởng lâm sản tăng thêm từ rừng do tự đầu tư vào rừng tự nhiên. Hộ ông M không trồng cây trên đất, chỉ có cây tự nhiên nên không được bồi thường, hỗ trợ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Chủ tịch và UBND xã Q có quan điểm về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất tương tự như quan điểm của Chủ tịch và UBND thành phố M trình bày.

- Bà Phạm Thị P có quan điểm đồng ý với quan điểm của người khởi kiện là ông Nguyễn Văn M.

- Đại diện Công ty TNHH Đ2 có quan điểm: Công ty TNHH Đ2 là doanh nghiệp dự án và chỉ đầu tư, vận hành Dự án đường C - M đoạn dự án cao tốc T - M. Toàn bộ công tác GPMB là của chính quyền địa phương nơi có dự án đi qua, cho nên các khiếu nại của hộ dân liên quan đến GPMB không liên quan đến Công ty. Đối với ý kiến cho rằng công ty khai thác vượt ngoài ranh giới GPMB, ngày 10/8/2023, Công ty cùng đại diện chính quyền địa phương, Trung tâm phát triển quỹ đất và hộ dân liên quan đã tiến hành khảo sát thực tế hiện trường, thấy rằng phần diện tích đất hộ ông Nguyễn Văn M nhà đầu tư chưa tác động và khai thác đến, nên ý kiến này là không có căn cứ.

- Bà Vũ Thị T2 (do người đại diện theo ủy quyền) trình bày:

Năm 2003, vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Phạm Thị P được UBND thị xã (nay là thành phố) M, tỉnh Quảng Ninh giao cho 3,0ha đất rừng sản xuất tại thôn E xã Q, thành phố M. Quyết định giao kèm theo danh sách các hộ dân được UBND thành phố Móng Cái giao đất, mục đích sử dụng; Trồng rừng sản xuất và khoanh nuôi tái sinh theo chương trình dự án trồng rừng V.

Ngày 20/4/2016, vợ chồng ông M, bà P chuyển nhượng toàn bộ thửa đất rừng được giao cho bà T2. Việc chuyển nhượng các bên đã lập giấy chuyển nhượng viết tay với nhau. Theo cam kết, vợ chồng ông M, bà P chuyển nhượng cho bà T2 diện tích 3.0ha đất rừng sản xuất được UBND thành phố M giao với giá 15.000.000 đồng. Bà T2 đã trả cho ông M, bà P toàn bộ số tiền như thỏa thuận và nhận bàn giao thửa đất rừng cùng ngày 20/4/2016 để tổ chức sản xuất, canh tác.

Từ năm 2016, sau khi nhận bàn giao đất rừng, gia đình bà T2 đã trồng các loại cây lâu năm trên toàn bộ diện tích hơn 3,0ha đất như keo, thông ... quản lý, sử dụng ổn định liên tục đến nay.

Ngày 19/8/2019, UBND thành phố M ban hành Thông báo thu hồi đất số 284/TB-UBND thu hồi hơn 40ha đất để khai thác mỏ đất tại thôn E, xã Q phục vụ thi công đường C - M. Thửa đất gia đình bà T2 nhận chuyển nhượng bị thu hồi phục vụ cho trong dự án này.

Ngày 01/3/2019, do đã chuyển nhượng toàn bộ đất rừng cho bà T2 nên vợ chồng vợ chồng ông M, bà P đã ủy quyền và ủy quyền bổ sung ngày 28/10/2019 cho bà T2 tại UBND xã Q để bà T2 phối hợp với cơ quan chức năng trong quá trình lập phương án thu hồi đất và nhận tiền bồi thường khi đất bị thu hồi..

Bà T2 đã phối hợp với cơ quan có thẩm quyền UBND thành phố Móng Cái trong quá trình lập phương án bồi thường. Ngày 03/9/2019 bà T2 đã ký bàn giao toàn bộ diện tích đất bị thu hồi cho đại diện Trung tâm phát triển quỹ đất và chính quyền xã Q.

Phương án bồi thường mà bà T2 là đại diện uỷ quyền phối hợp làm việc lập ngày 05/11/2019. Sau đó UBND thành phố M đã huỷ bỏ phương án đã lập và thay thế bằng phương án khác đối với diện tích đất bị thu hồi mà bà T2 nhận chuyển nhượng của gia đình vợ chồng ông M, bà P. Hiện nay, UBND thành phố đã lập, phê duyệt phương án bồi thường mới cho gia đình vợ chồng ông M, bà P, vợ chồng ông M, bà P khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đối với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông M, bà P: Bà T2 không có ý kiến gì. Đối với quyền lợi của bà T2 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình bà T2.

Ngày 05/8/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tổ chức xem xét, thẩm định tại chỗ, đoàn công tác đã di chuyển gần đến thực địa, nhưng do trời mưa lũ, phải lội suối mới đến địa điểm xem xét thẩm định. Để đảm bảo an toàn, đoàn công tác đã hoãn việc xem xét thẩm định, các đương sự có mặt thống nhất sẽ cùng đơn vị đo đạc và UBND xã Q đo đạc tại thực địa và cung cấp cho Tòa án làm căn cứ giải quyết. Ngày 10/8/2023, các bên liên quan đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, ông M đã được mời tham dự nhưng vắng mặt.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 83/2023/HC-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M về các nội dung:

- Hủy các Quyết định số 10092/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 của Chủ tịch UBND thành phố M, tỉnh Quảng Ninh về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn M trú tại thôn C xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Quyết định số 11781/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 của UBND thành phố M, tỉnh Quảng Ninh về việc thu hồi đất do hộ ông Nguyễn Văn M cùng bà Phạm Thị P đang sử dụng tại thôn E xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để gải phóng mặt bằng thực hiện dự án: Khai thác mỏ đất Quảng Nghĩa tại thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh phục vụ thi công dự án Hỗ trợ giải phóng mặt bằng tuyến đường ven biển đoạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và Quyết định số 11782/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 của UBND thành phố M, tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; kinh phí đảm bảo cho việc tổ chức giải phóng mặt bằng đối với hộ ông Nguyễn Văn M cùng bà Phạm Thị P đang sử dụng tại thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án: Khai thác mỏ đất Quảng Nghĩa tại thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh phục vụ thi công dự án Hỗ trợ giải phóng mặt bằng tuyến đường ven biển đoạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

- Buộc UBND thành phố M, tỉnh Quảng Ninh bồi thường thiệt hại về đất (20.800,3m²); bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất (cây tự nhiên gồm trên 70.500 cây tre dóc, cây kháo, cây thẩu tấu) theo đúng quy định của pháp luật.

- Trả lại cho gia đình ông Nguyễn Văn M phần diện tích 9.036m² đất còn lại không nằm trong quy hoạch đã bị chủ đầu tư lấy toàn bộ tổng diện tích 32.306,1m² đất.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và thông báo quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 31/10/2024, người khởi kiện là ông Nguyễn Văn M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện là ông Nguyễn Văn M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Phạm Thị P, UBND và Chủ tịch UBND xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm; người bị kiện là UBND và Chủ tịch UBND thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Đ2 vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Nguyễn Văn M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng hành chính: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, những người đại diện hợp pháp của người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Đ2 vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Các đương sự này đều không có kháng cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các khoản 2, 4 Điều 225 của Luật Tố tụng hành chính tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.

- Về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là ông Nguyễn Văn M là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết gì mới nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người bị kiện là Nguyễn Văn M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tố tụng:

[1] Ngày 23/02/2023, ông Nguyễn Văn M khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 10092/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 của Chủ tịch UBND thành phố M, tỉnh Quảng Ninh về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn M; hủy Quyết định số 11781/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 của UBND thành phố M về việc thu hồi đất do hộ ông Nguyễn Văn M cùng bà Phạm Thị P đang sử dụng tại thôn E xã Q, thành phố M để GPMB thực hiện dự án Khai thác mỏ đất Q tại thôn E, xã Q, thành phố M phục vụ thi công dự án Hỗ trợ giải phóng mặt bằng tuyến đường ven biển đoạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và Quyết định số 11782/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 của UBND thành phố M về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; kinh phí đảm bảo cho việc tổ chức GPMB đối với hộ ông Nguyễn Văn M cùng bà Phạm Thị P đang sử dụng tại thôn E, xã Q, thành phố M để GPMB thực hiện dự án Khai thác mỏ đất Quảng Nghĩa tại thôn E xã Q, thành phố M phục vụ thi công dự án Hỗ trợ giải phóng mặt bằng tuyến đường ven biển đoạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Đây là quyết định hành chính và quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai quy định tại các khoản 5, 6, 14 Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 và là quyết định hành chính bị kiện quy định tại các khoản 1, 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Việc ông M khởi kiện trong thời hiệu khởi kiện theo quyê định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31/10/2024, người khởi kiện là ông Nguyễn Văn M có kháng cáo đúng quy định tại Điều 205, khoản 1 Điều 206 Luật Tố tụng hành chính nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, những người đại diện hợp pháp của người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Đ2 vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Các đương sự này đều không có kháng cáo và việc vắng mặt các đương sự này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại các khoản 2, 4 Điều 225 của Luật Tố tụng hành chính.

- Về nội dung: Xem xét tính hợp pháp của các Quyết định số 10092/QĐ-UBND ngày 02/12/2022, Quyết định số 11781/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 và Quyết định số 11782/QĐ-UBND ngày 07/10/2021

[4] Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hình thức: Quyết định số 11781/QĐ-UBND ngày 07/10/2021, Quyết định số 11782/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của khoản 2 Điều 66, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Quyết định số 10092/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 đảm bảo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định tại Luật Khiếu nại năm 2011 và văn bản hướng dẫn thi hành nhưng không đảm bảo về thời hiệu khiếu nại theo đúng quy định tại Điều 9 Luật Khiếu nại năm 2011 nên Chủ tịch UBND thành phố M cần rút kinh nghiệm trong việc giải quyết khiếu nại của người dân.

[5] Về căn cứ ban hành Quyết định số 11781/QĐ-UBND ngày 07/10/2021:

[5.1] Dự án khai thác mỏ đất Q tại thôn E, xã Q, thành phố M nằm trong khu Kinh tế Cửa khẩu Móng Cái được UBND tỉnh Q phê duyệt tại Quyết định số 418/QĐ-UBND ngày 09/02/2018 về việc phê duyệt dự án Đường C - M theo hình thức đối tác công tư, loại hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT) và được điều chỉnh đổi tên thành dự án Hỗ trợ giải phóng mặt bằng tuyến đường ven biển đoạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh tại Quyết định số 4626/QĐ-UBND ngày 31/10/2019 của UBND tỉnh Q, tại Quyết định thu hồi đất đã cập nhật theo tên gọi mới của dự án. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án mỏ đất Q là một hạng mục của dự án Hỗ trợ giải phóng mặt bằng tuyến đường ven biển đoạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đây là dự án phát triển kinh tế thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai 2013 về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.

[5.2] Quá trình triển khai thực hiện, trước khi có quyết định thu hồi đất, ngày 19/8/2019 UBND thành phố M đã ban hành Thông báo thu hồi đất số 284/TB-UBND, TTPTQĐ đã phối hợp với UBND xã Q tiến hành điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm theo quy định. Quá trình này, bà Vũ Thị T2 (là người trước đó đã nhận chuyển nhượng đất rừng của hộ ông M) đại diện theo ủy quyền của ông M tham gia toàn bộ quá trình kiểm đếm. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông M cũng thừa nhận có việc bán đất rừng cho bà T2, đã nhận tiền bán đất rừng mặc dù việc bán đất rừng là không hợp pháp. Về việc ủy quyền giữa ông M và bà T2 đã bị chấm dứt do việc chứng thực ủy quyền giữa hộ dân và bà T2 là không đúng quy định. Tuy nhiên, kết quả điều tra, khảo sát, kiểm đếm là hoàn toàn khách quan. Ngày 07/10/2021, UBND thành phố M ban hành Quyết định số 11781/QĐ-UBND về việc thu hồi 23.270,1m² trên tổng số 32.306,1m² đất do hộ ông bà Nguyễn Văn M - Phạm Thị P quản lý tại thôn E xã Q đảm bảo đúng quy định pháp luật. Do đó, yêu cầu hủy Quyết định số 11781/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 của ông M là không có căn cứ.

[6] Về căn cứ ban hành Quyết định số 11782/QĐ-UBND ngày 07/10/2021:

[6.1] Bản đồ giao đất rừng V - Đ1 và kết quả kiểm kê rừng trồng dự án V KFW3 năm 2005 thể hiện hộ ông M được giao thửa đất số 10-KN/03, diện tích 2,2ha là rừng khoanh nuôi tái sinh, không trồng bổ sung là trường hợp giao đất không thu tiền sử dụng đất. Căn cứ Biên bản kiểm đếm ngày 24/8/2019, Báo cáo số 01/BC-KKR ngày 27/3/2020 của Trung tâm SXDV-KHKT nông lâm nghiệp thuộc trường Cao đẳng N về “Kết quả điều tra, đánh giá của 25 phương án đang triển khai GPMB dự án khai thác mỏ đất Q tại thôn E, xã Q, thành phố M”, Bản chứng nhận nhà, đất, tài sản trên đất được UBND xã Q xác nhận ngày 20/7/2021, Biên bản làm việc với Cơ quan Ủy ban Kiểm tra - Thanh tra ngày 19/9/2022 và phù hợp với trình bày của ông M tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện: Nguồn gốc thửa đất của hộ ông M là đất rừng được giao theo dự án trồng rừng V - Đ1 và được xác định là rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi tái sinh, không trồng bổ sung, nếu khai thác phải được Nhà nước cho phép, trên đất chỉ gồm các cây tự nhiên và cây gỗ tái sinh, gia đình ông M phát dây leo, chăm sóc, bảo vệ rừng để nhận tiền hỗ trợ của dự án đến khi ông M chuyển nhượng thực tế 3ha đất được giao cho bà T2 năm 2016 mặc dù việc chuyển nhượng đất rừng này là không hợp pháp.

[6.2] Do đó, hộ ông M không được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất là đúng quy định pháp luật, nên yêu cầu hủy Quyết định số 11782/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 và yêu cầu UBND thành phố M bồi thường thiệt hại về đất (20.800,3m²); bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất (cây tự nhiên gồm trên 70.500 cây tre dóc, cây kháo, cây thẩu tấu) của ông M là không có cơ sở chấp nhận.

[7] Như đã nêu trên, Quyết định số 11781/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 và Quyết định số 11782/QĐ-UBND ngày 07/10/2021 đúng quy định pháp luật, nên Quyết định số 10092/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 là đúng quy định pháp luật.

[8] Về yêu cầu buộc UBND thành phố M trả lại cho gia đình ông M phần diện tích 9.036m² còn lại không nằm trong quy hoạch đã bị chủ đầu tư lấy toàn bộ tổng diện tích 32.306,1m²: Căn cứ sơ đồ thửa đất lập ngày 21/8/2019; Biên bản bàn giao mặt bằng tại thực địa ngày 26/8/2019 có xác nhận của ông M; Bản đồ hiện trạng giải phóng mặt bằng dự án khai thác mỏ đất Q; Sơ đồ khảo sát hiện trạng ranh giới thi công khai thác mỏ đất Q lập ngày 10/8/2023 thể hiện: Thửa đất số 7 tờ bản đồ GPMB số 1 thôn E, xã Q có tổng diện tích 32.306,1m²; diện tích bị thu hồi là 23.270,1m²; diện tích còn lại nằm ngoài ranh giới GPMB là 9.036m². Nhà nước không thu hồi diện tích 9.036m² nên ông M yêu cầu UBND thành phố M trả lại cho gia đình ông M phần diện tích 9.036m² là không có căn cứ chấp nhận.

[9] Tòa án cấp sơ thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của M là có căn cứ, đúng pháp luật.

[10] Tại phiên tòa phúc thẩm không có thêm tình tiết, tài liệu, chứng cứ mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông M, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[11] Do vậy, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội là không chấp nhận kháng cáo của ông M, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở nên được chấp nhận.

[12] Ông M không được chấp nhận kháng cáo nhưng ông M là người cao tuổi (ông M sinh năm 1961) nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Bác kháng cáo của người khởi kiện là ông Nguyễn Văn M, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 83/2023/HC-ST ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn M.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - CT và UBND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu: P.HCTP-VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 243/2024/HC-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện hủy quyết định hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 243/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện hủy quyết định hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger