Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 243/2024/DS-ST

Ngày 31-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc.

Các Hội Thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Vũ Ngọc Tiến;
  • 2. Bà Đào Ngọc Bích

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 115/2024/QÐST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ; Địa chỉ trụ sở: A P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ chi nhánh: C L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: Ông Dương Ngọc L, sinh năm 1987. (theo Văn bản ủy quyền số 43/QĐ-DABQ10 ngày 10/08/2022). (có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thiên S, sinh năm 1986; Địa chỉ thường trú: 201/3 Khu phố A, phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Ông Dương Ngọc L là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Đ trình bày:

Ông Nguyễn Thiên S có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh Quận 10 chi tiết như sau:

1. Tổng số tiền cho vay là 1.000.000.000đ ( Một tỷ đồng) theo Hợp đồng tín dụng số K.0001/1321 ngày ký 29/01/2021, ngày nhận nợ 01/02/2021, bao gồm những khoản như sau:

*Khoản cấp tín dụng:

  • Hợp đồng vay số: K.0001/1321
  • Số tiền vay: 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng)
  • Lãi suất: 12 tháng đầu 8.5%/năm. Lãi suất từ tháng 13 bằng Lãi suất huy động tiết kiệm cá nhân bằng đồng Việt Nam kỳ hạn 13 (mười ba) tháng cao nhất, trả lãi cuối kỳ của Ngân hàng TMCP Đ được công bố tại W: www.D1.com.vn(+) biên độ 3,5%/năm.
  • Thời hạn vay: 240 tháng.
  • Mục đích vay: Vay mua bất động sản là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 69 tại địa chỉ thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

2. Biện pháp bảo đảm: Thế chấp.

Bên vay thế chấp cho Ngân hàng tài sản hiện tại là: 01 Bất động sản tọa lạc tại địa chỉ: thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0001/TC21 ngày 29/01/2021. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng, đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định.

Thửa 167 - Số BH889164; Số vào sổ cấp GCN: CH01555 có diện tích 381.7m² đất(300m² đất ở tại nông thôn và 81.7m² đất trồng cây lâu năm).

Trong quá trình vay, từ ngày 01/02/2021 đến ngày 31/7/2024, ông Nguyễn Thiên S thanh toán được tổng số tiền như sau:

  • Vốn: 100.080.000₫
  • Lãi trong hạn: 191.015.984₫
  • Lãi quá hạn: 789.662₫
  • Tổng cộng: 291.885.646₫

Ông Nguyễn Thiên S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 31/7/2024 ông Nguyễn Thiên S còn nợ các khoản sau:

  • Vốn: 899.920.000₫
  • Lãi trong hạn: 147.861.208₫
  • Lãi quá hạn: 8.516.212₫
  • Tổng cộng: 1.056.297.420₫

Nay, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

- Yêu cầu ông Nguyễn Thiên S trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 31/7/2024 là 1.056.297.420đ (Một tỷ, không trăm năm mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi bảy ngàn, bốn trăm hai mươi đồng). Yêu cầu ông Nguyễn Thiên S phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 01/8/2024 đến ngày ông Nguyễn Thiên S thực trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất đã thỏa thuận được quy định tại các hợp đồng vay số K.0001/1321 ngày ký 29/01/2021.

- Trường hợp ông Nguyễn Thiên S không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là 01 (một) bất động sản tọa lạc tại địa chỉ: thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0001/TC21 ngày 29/01/2021. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng, đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định. Thửa 167 - Số BH 889164; Số vào sổ cấp GCN: CH01555 có diện tích 381,7 m² đất (300 m² đất ở tại nông thôn và 81,7 m² đất trồng cây lâu năm).

*Bị đơn ông Nguyễn Thiên S: Vắng mặt.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Xét, theo Đơn khởi kiện đề ngày 24/11/2023 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định đây là Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Xét, theo Đơn khởi kiện ngày 24/11/2023 và Hợp đồng tín dụng số K.0001/1321 ngày 29/01/2021 do nguyên đơn cung cấp thì bị đơn có nơi cư trú tại 2 Tổ C, Khu phố A, phường P, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh, và theo Kết quả xác minh của Công an phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh ngày 05/3/2024 thì “Đ/s Nguyễn Thiên S sn: 1986 có hộ khẩu thường trú tại 2 N KP1 p.P, tp TP .. Hiện đ/s S đã bán nhà đi khỏi địa phương…”. Như vậy, có cơ sở xác định nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của bị đơn, việc bị đơn thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới được coi là cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b Khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp này, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án nêu trên theo thủ tục chung và theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 xác định địa chỉ 2 N Khu phố A, phường P, Quận I (nay là thành phố T) là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn ông Nguyễn Thiên S. Căn cứ điểm a, Khoản 1 Điều 35; điểm a, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng TMCP Đ với ông Nguyễn Thiên S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự để nộp bản tự khai, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông Nguyễn Thiên S đều vắng mặt.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Thiên S tiếp tục vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đương sự ông Nguyễn Thiên S.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về yêu cầu trả nợ gốc và nợ lãi của Hợp đồng tín dụng số K.0001/1321 ngày 29/01/2021.

[2.1.1] Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định vào ngày 29/01/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (viết tắt là Ngân hàng) với ông Nguyễn Thiên S có ký với nhau Hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0001/1321 theo đó Ngân hàng đồng ý cho ông S vay 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) để mua bất động sản là Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 69, địa chỉ: thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai với thời hạn vay là 240 tháng, lãi suất cho vay là 8,5%/năm được áp dụng cho 12 tháng đầu tiên, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Đến ngày 01/02/2021, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) cho ông S bằng hình thức chuyển khoản; và theo thỏa thuận tại hợp đồng thì vào ngày 15 hàng tháng ông S có nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng, trả nợ gốc và nợ lãi trong vòng 240 kỳ, từ kỳ 1 đến kỳ 239 thì hàng tháng trả nợ gốc là 4.170.000đ, kỳ cuối cùng trả nợ gốc là 3.370.000đ. Xét, Hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0001/1321 ngày 29/01/2021 được ký giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Thiên S xuất phát từ sự tự nguyện, nội dung thỏa thuận của các bên không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và được công chứng tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại Điều 117, 118 và 119 Bộ luật Dân sự thì Hợp đồng nêu trên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

[2.1.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày giải ngân số tiền 1.000.000.000đ cho đến ngày 31/7/2024 thì bị đơn chỉ trả được cho nguyên đơn 291.885.646đ trong đó tiền gốc là 100.080.000đ, tiền lãi trong hạn là 191.015.984đ, tiền lãi quá hạn là 789.662đ. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì bị đơn có nghĩa vụ trả tiền gốc và tiền lãi cho Ngân hàng vào ngày 15 hàng tháng, tuy nhiên theo Bảng tính lãi hồ sơ vay khách hàng do nguyên đơn cung cấp thì bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ trả tiền gốc và tiền lãi từ ngày 15/02/2023 cho đến nay mặc dù đã được Ngân hàng Đ1, nhắc nhở. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định tại khoản 7 Điều 9 của Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng của Ngân hàng được đính kèm Hợp đồng tín dụng dài hạn nên theo khoản 6 và 7 Điều 10 của Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng của Ngân hàng thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn là có cơ sở, phù hợp theo quy định tại Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010.

[2.1.3] Theo Điều 9 của Hợp đồng tín dụng dài hạn K.0001/1321 ngày 29/01/2021 thì “Lãi suất áp dụng cho 12 tháng đầu tiên là : 8.5%/năm (trong Hợp đồng này được quy định chung “một năm là 365 ngày”). Lãi suất cho vay này được điều chỉnh ngay khi hết thời gian áp dụng lãi suất cố định và/hoặc ngay khi lãi suất cơ sở có thay đổi. Lãi suất cho vay này được điều chỉnh định kỳ hàng tháng. Ngày điều chỉnh lãi suất căn cứ vào ngày giải ngân đầu tiên để áp dụng. Việc thực hiện điều chỉnh lãi suất theo các nội dung nêu trong Hợp đồng này với sự thống nhất của các bên mà không cần Ngân hàng thông báo bằng văn bản (trừ trường hợp có thỏa thuận điều chỉnh khác). Lãi suất điều chỉnh kỳ tiếp theo bằng (=) Lãi suất cơ sở cộng (+) với biên độ. Lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đang áp dụng tại thời điểm phát sinh nợ quá hạn.”. Xét, mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng gồm lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi suất do chậm trả tiền lãi là phù hợp theo quy định tại Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 3, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, tính đến ngày 31/7/2024 bị đơn còn nợ nguyên đơn 1.056.297.420đ (Một tỷ, không trăm năm mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi bảy ngàn, bốn trăm hai mươi đồng), trong đó:

  • Nợ gốc là 899.920.000₫
  • Nợ lãi trong hạn là 147.861.208₫
  • Nợ lãi quá hạn trên dư nợ gốc bị quá hạn là 8.516.212₫

[2.2] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ:

[2.2.1] Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay 1.000.000.000₫ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0001/1321 ngày 29/01/2021 được ký giữa Ngân hàng với ông Thiên S thì cùng ngày ông Thiên S có ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0001/TC21 theo đó ông Thiên S đồng ý thế chấp cho Ngân hàng A (một) bất động sản là thửa đất số 167, tờ bản đồ số 69 tại địa chỉ thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp vào ngày 06/7/2012 cho ông Lê Đình D và bà Lê Thị H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 889164 và đã được chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thiên S vào ngày 11/01/2021. Xét, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0001/TC21 ngày 29/01/2021 đã được công chứng tại Văn phòng C1, tỉnh Đồng Nai và được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh T nên theo quy định tại Điều 117, 118, 119, 317, 318, 319 Bộ luật Dân sự; Điều 95 Luật Đất đai năm 2013; Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 thì Hợp đồng nêu trên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

[2.2.2] Theo khoản 1 Điều 8 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0001/TC21 ngày 29/01/2021 thì:

“1. Các trường hợp xử lý TSTC:

Ngân hàng có quyền xử lý TSTC khi xảy ra một trong các sự kiện sau:

a) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các văn bản thỏa thuận cấp tín dụng mà Bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ;

b) Bên thế chấp/Bên được cấp tín dụng vi phạm các cam kết và nghĩa vụ của mình theo quy định trong Hợp đồng này hoặc vi phạm một trong các văn bản thỏa thuận cấp tín dụng mà không khắc phục vi phạm trong thời hạn theo yêu cầu của Ngân hàng;”

Như vậy, việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi từ ngày 15/02/2023 đã làm phát sinh quyền của bên nhận thế chấp tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0001/TC21 ngày 29/01/2021 nên yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có cơ sở, phù hợp nội dung thỏa thuận tại hợp đồng và phù hợp theo quy định tại Điều 299, 320, 322, 323 Bộ luật Dân sự.

[2.3] Căn cứ Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 thì “...Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật...”; “Mức lãi suất hai bên thỏa thuận hướng dẫn tại khoản 1 điều này là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn” nên yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 01/8/2024 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng dài hạn số K.0001/1321 ngày 29/01/2021 là có cơ sở nên được chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng khác: Căn cứ Điều 157 và 158 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, 158, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 3 Điều 40; điểm b Khoản 2 Điều 277; Điều 117, 118, 119, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 323 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ Điều 91, 95 của Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Điều 95 của Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ Điều 4, Điều 5 và Điều 6 của Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm;

- Căn cứ Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

- Căn cứ Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ Điều 5, Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1.1 Buộc ông Nguyễn Thiên S phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 31/7/2024 là 1.056.297.420đ (Một tỷ, không trăm năm mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi bảy ngàn, bốn trăm hai mươi đồng) trong đó: Nợ gốc là 899.920.000đ, Nợ lãi trong hạn là 147.861.208đ và Nợ lãi quá hạn là 8.516.212đ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

1.2 Trường hợp ông Nguyễn Thiên S không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất của thửa đất số 167 thuộc tờ bản đồ số 69 tại thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 889164, số vào sổ cấp giấy chứng nhận là CH 01555 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 06/7/20212 và được cập nhật biến động vào ngày 11/01/2021.

2. Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Thiên S phải chịu số tiền là 43.688.923₫ (Bốn mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi tám ngàn, chín trăm hai mươi ba đồng). H1 lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ 20.790.921 (Hai mươi triệu, bảy trăm chín mươi ngàn, chín trăm hai mươi mốt đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0035794 ngày 05/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.

3. Về chi phí tố tụng khác: Ông Nguyễn Thiên S có nghĩa vụ hoàn trả 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

4. Về quyền kháng cáo: Đối với đương sự có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- TAND Tp.HCM;

VKSND Tp.HCM;

- VKSND Q.10, Tp.HCM

- Chi cục THADS Q.10,

Tp.HCM;

Đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bảo Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 243/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 243/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger