Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242A/2024/DS- PT

Ngày: 12/12/2024

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng

đất và Hợp đồng giao nhận

khoán kinh doanh rừng chồi”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng.

Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang, bà Triệu Thị Luyện.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thương Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 12/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2024/DS-PT ngày 06/11/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và Hợp đồng giao nhận khoán kinh doanh rừng chồi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 26/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 278/2024/QĐ-PT ngày 13/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 421/2024/QĐ-PT ngày 26/11/2024 giữa:

* Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV L2; Địa chỉ trụ sở: Số E đường X, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo pháp luật: Ông Chu Thanh C, sinh năm 1974; Chức vụ: Giám Đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức M; Chức vụ: Giám đốc Lâm trường Đ3- Chi nhánh Công ty TNHH MTV L2; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Văn bản ủy quyền số 872/GUQ-CT-TCHC ngày 15/11/2023). Có mặt.

Ông Vũ Đức Đ- Chuyên viên kỹ thuật lâm trường (Văn bản ủy quyền số 4384/GUQ-CT-TCHC ngày 01/10/2022)- Có mặt.

* Bị đơn: Bà Vũ Thị O- Sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị T– Luật sư thuộc Công ty L3- Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: Tầng C, Căn hộ L Dự án nhà liền kề, Khu đô thị M, phường M, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1984 (con bà O); Địa chỉ: Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
  3. Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1985 (con bà O); Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
  5. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982 (con bà O); Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
  6. Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang- Do ông Thạch Văn C1- Chủ tịch UBND xã Đ đại diện theo pháp luật. Địa chỉ trụ sở: Bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
  7. Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Địa chỉ trụ sở: Tổ dân phố Đ, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang- Do ông Nguyễn Văn Q- Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 3 ngày 17/01/2024). Vắng mặt.
  8. Ủy ban nhân dân tỉnh B. Địa chỉ Trụ sở: Số H đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang- Do ông Hoàng Hải L- Phó giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 863 ngày 23/5/2024). Có đơn đề nghị vắng mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn bà Vũ Thị O.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (ông Nguyễn Đức M, ông Vũ Văn Đ2) trình bày:

Ngày 15/8/1998, Lâm trường Đ3 được UBND tỉnh B cấp giấy CNQSD đất theo Quyết định số 1003/QĐ-CT của Chủ tịch UBND tỉnh B, diện tích đất được cấp GCNQSD đất là 5.269.500m2, địa chỉ tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 27/11/2020 Công ty TNHH một thành viên L4 được UBND tỉnh B cấp GCNQSD đất theo Quyết định số 1086/QĐ-UBND tỉnh B quyết định về việc cho Công ty TNHH một thành viên L2 chuyển hình thức từ giao đất không thu tiền sử dụng đất sang thuê đất đối với diện tích đất đã được Nhà nước giao quản lý, sử dụng qua các thời kỳ, diện tích đất rừng sản xuất tại xã Đ là: 3.087.942,5m2.

Từ tháng 8/1998 đến tháng 4/2002, toàn bộ diện tích đất khu vực A, xã Đ là rừng tự nhiên. Lâm trường được UBND tỉnh B giao cho để trồng rừng kinh tế tại khu đất đó. Trong những năm đầu Lâm trường chưa có đủ nhân lực để thi công trồng rừng, thì nhân dân địa phương tự ý lên khai phá để trồng sắn, trồng lúa nương.

Đến ngày 01/4/2002, Lâm trường Đ3 ký hợp đồng khoán trồng rừng nguyên liệu đối với hộ gia đình ông Nguyễn Văn C2- là chồng của bà Vũ Thị O tại khoảnh 3A lô C27 diện tích 1,9ha (nay là khoảnh 3A lô h22 diện tích 1,90ha). Đến ngày 03/6/2009 ông Nguyễn Văn C2 đến Lâm trường Đ để thanh lý hợp đồng và khai thác lô rừng đó.

Ngày 30/02/2003 Lâm trường Đ3 ký hợp đồng trồng rừng liên doanh giữa Lâm trường Đ với hộ gia đình ông Nguyễn Văn C2 (là chồng bà O) tại khoảnh 3A lô C27, diện tích 0,3ha (nay là lô h21 khoảnh 3A diện tích 0,4ha). Ngày 13/7/2009 ông C2 đã nộp tiền để thanh lý và khai thác lô rừng trên.

Khi khai thác xong, tháng 2 và tháng 3/2010 ông Nguyễn Văn C2 lại tiếp tục ký 02 hợp đồng trồng rừng giao nhận khoán với Lâm trường Đ, một hợp đồng số 42 ký ngày 15/02/2010 tại lô a12 khoảnh 3A diện tích 0,4ha (vị trí lô h21 hiện nay) và 01 hợp đồng số 47 ký ngày 15/3/2010 tại lô a16 diện tích 1,9ha (vị trí lô h22 hiện nay) và lô a17 diện tích 0,8ha (vị trí lô h23 hiện nay). Đến năm 2015 ông Nguyễn Văn C2 nộp tiền sản phẩm cho Lâm trường để thanh lý hợp đồng và khai thác lô rừng trên.

Hiện tại lô h23 do bà O ký hợp đồng với Lâm trường, năm 2022 đã thanh lý để khai thác, chưa ký hợp đồng với Lâm trường (hiện tại bà Nguyễn Thị H1- con gái bà O đang sử dụng).

Ngày 07/9/2015 Lâm trường Đ3 lại ký hợp đồng giao nhận khoán với hộ bà Vũ Thị O tại lô h21 khoảnh 3A diện tích 0,4ha, tại Hợp đồng số 22/HĐ-LT.

Ngày 10/3/2016 Lâm trường Đ3 ký Hợp đồng giao nhận khoán với hộ bà Vũ Thị O tại lô h22 khoảnh 3A diện tích 1,9ha, Hợp đồng số 23/2016/HĐ-LT.

Đến tháng 6/2019 bà Vũ Thị O tự ý khai thác lô h22 khoảnh 3A diện tích 1,9ha không nộp sản phẩm trả L trường/Công ty. Lâm trường phải gửi đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế giải quyết thì bà O mới chịu trả tiền sản phẩm cho Lâm trường tại Tòa án.

Tuy nhiên, Lâm trường đã nhiều lần đến làm việc với gia đình bà O để tuyên truyền, vận động, ưu tiên để bà O ký hợp đồng chu kỳ sau với Lâm trường, nhưng gia đình bà O đưa ra nhiều lý do từ chối không ký hợp đồng với Lâm trường, đồng thời gia đình bà O chiếm giữ, sử dụng những lô đất của Lâm trường cho tới nay.

Ngày 16/4/2021 gia đình bà Vũ Thị O lại tiếp tục tự ý khai thác lô h21 khoảnh 3A diện tích 0,4ha (chưa được sự đồng ý của Lâm trường). Lâm trường phối hợp với Công ty và đại diện UBND xã Đ đến làm việc với gia đình bà Vũ Thị O để yêu cầu gia đình bà O trả sản phẩm cho Lâm trường theo hợp đồng đã ký và ký tiếp hợp đồng chu kỳ sau với Lâm trường, nhưng gia đình bà O không hợp tác làm việc.

Năm 1998 UBND tỉnh B giao cho Lâm trường Đ3 quản lý và sử dụng tổng diện tích đất tại xã Đ là 5.269.500m2. Trong quá trình sử dụng đã có một số hộ dân địa phương tự ý khai phá làm nhà, làm lán trại để ở và chăn nuôi, trồng cây ăn quả. Do vậy, đến năm 2011 Lâm trường đã cắt một số diện tích do manh mún, nhỏ lẻ, có nhà ở cố định, trồng cây lâu năm để bàn giao trả về địa phương. Nhưng diện tích đất của gia đình bà Vũ Thị O đang sử dụng không nằm trong diện tích trả về địa phương, mà là đất của Lâm trường đang quản lý sử dụng. Lâm trường đã ký hợp đồng trồng rừng với hộ gia đình bà Vũ Thị O tính đến năm 2019, ký hợp đồng trồng rừng liên tục 3 chu kỳ. Hai lô đất gia đình bà Vũ Thị O đang sử dụng tổng diện tích 3,26ha hoàn toàn ổn định từ trước tới nay, không có tranh chấp, gianh giới không thay đổi, diện tích chênh lệch là do đo đạc trước đây không chính xác.

Công ty TNHH một thành viên L4 Bắc/Lâm trường L4 yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Vũ Thị O trả sản phẩm khoán (chu kỳ kinh doanh rừng chồi) cho Lâm trường Đ (thuộc Công ty TNHH một thành viên L2) theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết, thời hạn thực hiện hợp đồng là 5 năm (giai đoạn từ năm 07/9/2015 đến 07/9/2020) với mức khoán 26m3/1ha: lô h21 khoảnh 3A diện tích 0,4ha (gia đình bà O chưa thanh toán) x26m3= 10,4m3 x 850.000đ/m3= 8.840.000đ;

Buộc bà Vũ Thị O trả Lâm trường Đ (thuộc Công ty TNHH một thành viên L2) 2,30 ha đất (khoảnh 3a lô h21 diện tích 0,4 ha và khoảnh 3a lô h22 diện tích 1,90ha), đã được đo đạc thẩm định ngày 25/8/2022 cả 02 lô (h21 diện tích 0,56ha và lô h22 diện tích 2,7ha, tổng diện tích cả 02 lô đo thực tế là 3,26ha).

Công ty TNHH một thành viên L2 yêu cầu bà O và gia đình là bà H, ông T1, ông Đ1 phải thu hoạch, di dời toàn bộ số cây bạch đàn mà gia đình bà O tự ý trồng năm 2019 và năm 2020 trên 02 lô đất của Công ty mà không có sự cho phép của Công ty hay lâm trường.

Lý do Công ty yêu cầu bà O trả lại cho Lâm trường Đ3 thuộc Công ty TNHH một thành viên L2) 2,30 ha (đo thực tế là 3,26ha) là vì: Đối với lô diện tích đất 0,4ha (đo thực tế 0,56ha) thì do bà O vi phạm hợp đồng không nộp tiền giao khoán sản phẩm kinh doanh rừng chồi nêu trên, đồng thời hợp đồng giao khoán giữa hai bên cũng đã kết thúc, hai bên chưa ký kết tiếp hợp đồng mới; đối với lô diện tích 1,90ha (đo thực tế 2,7ha) là do đến nay hợp đồng giao nhận khoán kinh doanh rừng chồi được ký kết giữa Công ty và bà Vũ Thị O đã kết thúc vào tháng 3/2021 nhưng bà O không thỏa thuận ký kết hợp đồng giao nhận khoán kinh doanh rừng chồi với công ty T5 và hiện nay gia đình bà O đang quản lý trái pháp luật lô đất này của công ty.

Đối với các Hợp đồng giao nhận khoán kinh doanh rừng chồi sản xuất theo chu kỳ kinh doanh mô hình 3 số 22/2016/HĐ-LT ngày 07/9/2015 là khoảnh 3a lô h21 diện tích 0,4 ha và số 23/2016/HĐ-LT ngày 10/3/2016 là kho ảnh 3a lô h22 diện tích 1,90ha tại khu vực A từ trước đến nay Công ty chỉ ký kết hợp đồng với vợ chồng bà Vũ Thị O và ông Nguyễn Văn C2 (hiện nay ông C2 đã chết), ngoài ra Công ty không ký kết hợp đồng với ai khác đối với 02 lô đất trên. Hiện nay Công ty được biết 02 lô đất nêu trên do bà O và các con của bà O là ông T1, ông Đ1, bà H đang quản lý, còn cụ thể ai đang quản lý lô đất nào của Công ty thì Công ty không rõ vì phía gia đình bà O không thông báo cụ thể cho Công ty biết.

- Bị đơn (Bà Vũ Thị O) trình bày:

Năm 1980 bà kết hôn với ông Nguyễn Văn C2 và sinh sống cùng chồng tại Bản A, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đến năm 1981 vợ chồng bà ra ở riêng, được bố mẹ chồng và bố mẹ đẻ chia cho 02 lô đất: Lô đất tại Hố G và lô đất tại Hố C. Hai lô đất này bố mẹ hai bên nội, ngoại của bà tự khai hoang từ năm 1970. Đến năm 1980 vợ chồng bà được chia, sau đó tự khai hoang, phục hóa, cải tạo đất để trồng sắn, trồng ngô, sau đó có trồng bạch đàn đỏ và trồng keo. Từ năm 1980 đến nay gia đình bà vẫn làm và không bỏ hoang năm nào, không tranh chấp với bất kỳ ai ở liền kề cạnh bãi của gia đình bà.

Năm 2002 tự dưng gia đình bà được Lâm trường Đ vận động trồng cây liên doanh trên đất của gia đình bà khai hoang. Cán bộ Lâm trường nói Lâm trường góp cây, góp phân bón, gia đình bà có đất trồng cây cùng nhau ăn chia sản phẩm là gỗ cây trồng nên gia đình bà đồng ý. Bà đã ký với Lâm trường và đã hoàn tất nộp sản theo các chu kỳ đã ký. Đến năm 2020 gia đình bà có đủ điều kiện để trồng rừng nên gia đình bà đã không ký hợp đồng liên doanh với Lâm trường Đồng Sơn nữa. Nay Lâm trường khởi kiện và xác định gia đình bà tranh đất của Lâm trường là hoàn toàn không đúng.

Về phần các loại giấy tờ liên quan đến hợp đồng liên kết, liên doanh thì Lâm trường Đ3 nói sẽ làm đầy đủ. Nhưng đến khi khai thác cây trồng thì Lâm trường mới đưa hợp đồng cho gia đình bà. Khi nhận hợp đồng từ Lâm trường thì gia đình bà mới biết các điều khoản không đúng thực tế như sau: Hợp đồng đầu tiên năm 2002 đến năm 2008 “Liên doanh”; Hợp đồng chồi “2008- 2015”, “2015- 2021” lại là “Khoán trồng rừng”; và quan trọng là Hợp đồng khoán do Lâm trường Đ tự làm, tự ký. Trong hợp đồng ghi Lâm trường Đồng Sơn góp cây giống, phân bón và tiền công, thực tế chỉ có cây giống và phân bón, không có tiền công. Phụ lục hợp đồng ghi Lâm trường Đ3 cử cán bộ hướng dẫn cuốc hố, trồng, phát, bón phân, thực tế thì gia đình bà tự làm, không có ai đến hướng dẫn. khi hết chu kỳ thứ 1 (từ 2002- 2008), năm 2008 gia đình bà tự làm trên chính mảnh đất của mình. Thực tế, ở chu kỳ 2 (từ 2008- 2015) và chu kỳ 3 (từ 2015- 2021) gia đình bà không nhận giống và phân bón từ Lâm trường Đ, nhưng lâm trường Đ3 vẫn tự làm hợp đồng, giấy tờ giao nhận giống cây trồng và tự ký. Đến khi gia đình bà khai thác rừng, Lâm trường Đ mang hợp đồng vào yêu cầu gia đình bà nộp sản. Vì không biết ý kiến đến cơ quan nào nên gia đình bà vẫn phải nộp sản, nếu không nộp sản thì Lâm trường tự ý cho cán bộ đến cản trở việc khai thác nên không đơn vị nào dám mua gỗ rừng. Do thiếu hiểu biết nên gia đình bà vẫn phải giao nộp sản đầy đủ. Vì Lâm trường thu sản rất cao, khoảng 26.000.000đ/1ha đất nên cuối năm 2021 bà O đến Lâm trường Đ thông báo không ký hợp đồng liên doanh đồng thời sẽ không nộp sản cho Lâm trường Đ. Lâm trường nói diện tích lô đất của gia đình bà thuộc đất của Lâm trường và yêu cầu bà O phải trả đất. Bà xác định gia đình bà vẫn đang canh tác ổn định suốt từ năm 1980 đến nay, được trưởng thôn và các hộ dân sống lâu năm xác nhận, không có tranh chấp với các hộ giáp gianh. Theo luật Đất đai thì gia đình bà mới là người được cấp quyền sử dụng đất. Trong khi gia đình bà chưa được thôn A hay xã Đ thông báo thu hồi đất để dùng vào mục đích khác, chưa được bồi thường công cải tạo khai hoang đất cũng như tài sản có trên đất.

Bà O xác định năm 2015 và 2016 vợ chồng bà là Vũ Thị O và Nguyễn Văn C2 (đã chết vào ngày 14/10/2019 âm lịch) có ký kết Hợp đồng giao nhận khoán kinh doanh rừng chồi sản xuất theo chu kỳ kinh doanh mô hình 3 số 22/2016/HĐ-LT ngày 07/9/2015 là khoảnh 3a lô h21 diện tích 0,4 ha và số 23/2016/HĐ-LT ngày 10/3/2016 là khoảnh 3a lô h22 diện tích 1,90ha tại khu vực A.

Đối với sản phẩm khoán của khoảnh 3a lô h22 diện tích 1,90ha trước đây Công ty đã khởi kiện sau đó hai bên đã thỏa thuận xong về việc trả sản phẩm khoán;

Đối với khoảnh 3a lô h21 diện tích 0,4ha do rừng cây phát triển kém nên gia đình bà có xin giảm bớt tiền khoán sản phẩm cho Lâm trường. Quá trình làm việc tại Tòa án bà O đề nghị Công ty giảm cho gia đình số tiền là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng), gia đình xin nộp trả công ty số tiền 4.840.000₫ (Bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng), đề nghị Công ty xem xét, nếu được thì gia đình sẽ ký kết tiếp hợp đồng giao khoán với công ty trên cơ sở thỏa thuận mức giao khoán hợp lý và gia đình chấp nhận được. Đồng thời đề nghị cho các con bà hiện nay đang quản lý trực tiếp (là bà Nguyễn Thị H) được ký kết hợp đồng giao khoán trực tiếp với công ty vì hiện nay bà không trực tiếp trồng và quản lý các lô đất rừng mà bà ký kết với công ty, bà đã giao cho các con bà quản lý. Tại phiên tòa bà O xác định đất rừng là của gia đình bà khai hoang mà có nên không đồng ý trả toàn bộ tiền khoán sản phẩm cho Lâm trường Đ.

Đối với lô đất là khoảnh 3a lô h22 diện tích 1,90ha tại khu vực A, lý do gia đình không tiếp tục ký kết hợp đồng giao khoán là vì Công ty đưa ra mức khoán sản phẩm quá cao và không có đường đi, gia đình không đáp ứng được và lô đất này trước đây là của gia đình bà khai hoang mà có. Căn cứ đất này là của gia đình bà khai hoang là "Giấy xác minh đất đồi Hố Giếng" và "Giấy xác minh đất đồi Cu Vạc" mà gia đình bà giao nộp cho Tòa án có chữ ký của những người làm chứng là bà Lương Thị T2, ông Nguyễn Văn H2, ông Tô Văn M1, bà Tô Thị S, ông Vũ Hải T3, ông Toàn Văn Q1.

Hiện nay lô đất 0,4 ha do bà Nguyễn Thị H đang quản lý trực tiếp, còn lô 1,90 ha do ông Nguyễn Văn T1 và ông Nguyễn Văn Đ1 đang quản lý trực tiếp, bà không còn quản lý lô đất nào của công ty nữa.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị Y, ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn Đ1) ủy quyền cho bà Vũ Thị O: Đồng ý với ý kiến của bà Vũ Thị O.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (UBND xã Đ, huyện Y) trình bày: Về nguồn gốc đất đang có tranh chấp và khoán sản phẩm giữa Công ty L2 và gia đình bà Vũ Thị O, địa phương nắm bắt được từ trước đến nay đều là đất rừng. Những năm 1980- 1990 các hộ gia đình tại địa phương đến phát hoang để trồng sắn, trồng ngô lấy sản phẩm để phát triển kinh tế gia đình. Gia đình nào có nhu cầu nhân lực thì phát được bãi đất rộng và ở vị trí thuận lợi. Gia đình nào ít nhân lực thì phát được bãi đất hẹp và ở vị trí không thuận lợi để trồng sắn, trồng ngô. Sau một thời gian canh tác, đất bị bạc màu, khó cải tạo hoang ra vị trí khác tiếp tục phát hoang bãi đất khác để canh tác. Vì vậy, hầu hết các gia đình không canh tác ở vị trí nào ổn định mà canh tác theo kiểu du canh du cư. Đối với gia đình bà O có khai phá 02 khu đất, gồm: Khu đất ở vị trí Hố C thì gia đình ông C2, bà O khai hoang và canh tác ổn định từ khi khai hoang cho đến nay, liên tục trồng cây, không bỏ hoang khi nào, ban đầu là trồng ngô, sắn, sau đó thì trồng bạch đàn đỏ, trồng keo, không có tranh chấp với hộ gia đình nào liền kề. Đối với khu đất ở Hố G thì gia đình bà O chỉ phát hoang 01 bãi đất ở phía dưới, giáp với đất của gia đình ông T4. Còn ở phía trên là do các hộ gia đình khác phát hoang trồng ngô, sắn. Sau một thời gian đất bị cằn cỗi thì các gia đình này bỏ đi trồng cây ở khu vực khác nên gia đình bà O tiếp tục trồng ngô, sắn ở khu vực đất các hộ gia đình khác đã bỏ hoang. Tuy nhiên, gia đình bà O cũng không canh tác liên tục mà sau đó cũng có thời gian bỏ hoang.

Đến năm 2002 thì Lâm trường Đ3 có đến vận động các gia đình trồng rừng kinh doanh liên doanh, liên kết, trong đó có gia đình ông C2, bà O theo như các hợp đồng giao nhận khoán giữa Lâm trường và gia đình bà O tại 02 lô đất 0,4ha và 1,9ha tại lô h21 khoảnh 3A và lô h22 khoảnh 3A. Hai bên đã ký hợp đồng trồng rừng liên tục 03 chu kỳ trồng rừng. Hai chu kỳ trước thì không xảy ra tranh chấp gì. Đến chu kỳ thứ 3 thì phát sinh tranh chấp do gia đình bà O không nộp tiền sản phẩm khoán cho Lâm trường Đ theo hợp đồng đã ký giữa hai bên. Còn nội dung cụ thể của Hợp đồng như thế nào thì địa phương không nắm rõ vì Hợp đồng do Lâm trường và hộ gia đình bà O trực tiếp thỏa thuận và ký kết. Về diện tích 02 lô đất bà O ký hợp đồng giáo khoán với Lâm trường Đ thì không phát sinh tranh chấp với bất cứ hộ dân, cá nhân, tổ chức nào khác.

Về căn cứ pháp lý để xác định 02 lô đất nêu trên thì phía gia đình bà O không có tài liệu, chứng cứ nào. Địa phương cũng không có hồ sơ, tài liệu để quản lý, vì trước đây tại bản đồ giải thửa do địa phương quản lý chỉ thể hiện đất không phải là đất rừng, còn đất rừng không thể hiện trong bản đồ giải thửa. 02 lô đất do gia đình bà O trồng rừng giao khoán với Lâm trường là đất rừng nên không có trong bản đồ giải thửa do địa phương quản lý. Năm 2015 Nhà nước thực hiện đo bản đồ địa chính chính quy hiện nay UBND xã đang quản lý thì thửa đất tại khu Hố Giếng mà bà O đang trồng rừng có tranh chấp với Lâm trường Đ3 không được thể hiện trong bản đồ địa chính, thửa đất này thuộc diện tích đất do Lâm trường Đ được Nhà nước giao. Đối với lô đất tại Hố C hiện nay bà O trồng rừng cũng không được thể hiện trên bản đồ địa chính năm 2015 mà UBND xã đang quản lý.

Địa phương đề nghị Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có giá trị pháp lý để giải quyết vụ việc theo quy định gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định giao đất và bản đồ giải thửa, bản đồ địa chính để xem xét, đảm bảm quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân có liên quan, đảm bảo trật tự xã hội tại địa phương.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (UBND huyện Y) trình bày: Công ty TNHH MTV L2 đã được UBND tỉnh B cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 25/8/2021, vào sổ cấp GCN: CS01843/Q03. Trong quá trình hoạt động Công ty đã tổ chức sắp xếp, đổi mới mô hình quản lý, tổ chức hoạt động quản lý, sử dụng đất của Công ty. Đối với diện tích đất được giao vẫn thường xuyên liên tục và được thể hiện trong các hồ sơ quản lý, sử dụng đất (như các quyết định của UBND tỉnh về giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hệ thống bản đổ và hồ sơ thiết kế trồng rừng, hợp đồng giao khoán của Công ty với hộ gia đình, cá nhân...).

Nay Công ty TNHH MTV L2 khởi kiện yêu cầu bà Vũ Thị O trả sản phẩm khoán cho Lâm trường theo hợp đồng và buộc bà Vũ Thị O trả Lâm trường 2,30ha đất (khoảnh 3a lô h21 diện tích 0,4ha và khoảnh 3a lô h22 diện tích 1,90ha), đề nghị Tòa án nhân dân huyện căn cứ vào các tài liệu, hồ sơ quản lý đất đai của Công ty đã được UBND tỉnh B giao, cho thuê và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty quản lý sử dụng qua các thời kỳ cũng nhưng các hợp đồng giao khoán giữa Công ty với hộ dân để xem xét giải quyết đảm bảo quyền lợi của các bên.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (UBND tỉnh B) trình bày:

Qua xem xét hồ sơ cho thấy, Quy trình ban hành Quyết định số 1086/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND tỉnh B là đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật.

Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 26/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế đã quyết định:

Căn cứ các Điều: 500; 501; 502; 504; 505; 507; 508; 512; khoản 2 Điều 357; Điều 468; Điều 288 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 188; Điều 167 của Luật đất đai; khoản 3 và khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV L2.

Buộc bà Vũ Thị O phải có nghĩa vụ trả sản phẩm khoán (chu kỳ kinh doanh rừng chồi) cho Lâm trường Đ (thuộc Công ty TNHH MTV L2) theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết, số tiền là 8.840.000₫ (Tám triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng);

Buộc bà Vũ Thị O cùng gia đình là bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn Đ1 phải có nghĩa vụ liên đới giao trả Lâm trường Đ (thuộc Công ty TNHH MTV L2) tổng diện tích đất trồng rừng là 3,26ha, gồm 02 lô đất rừng: lô h21 diện tích 5649,6m2 và lô h22 diện tích 27289,3m2 (đã được đo đạc thẩm định ngày 25/8/2022) (diện tích ghi trên Bản đồ hiện trạng rừng khu vực A, xã Đ thì khoảnh 3a lô h21 diện tích 0,4 ha và khoảnh 3a lô h22 diện tích 1,90ha). 02 lô đất h21, h22 nằm trong tổng diện tích đất đã được UBND tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/8/2021, thửa đất số 1, tờ bản đồ số 77, diện tích 700.102,0m2; Địa chỉ thửa đất: xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; cấp cho Công ty TNHH L2; số GCNQSD đất: DB 418188; vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS0 1843/Q03. Vào sổ địa chính trang số 103; Quyển số 41; theo Quyết định số 1086/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND tỉnh B về việc cho Công ty TNHH L2 chuyển hình thức từ giao đất không thu tiền sử dụng đất sang thuê đất (đợt 1) đối với diện tích đất đã được Nhà nước giao quản lý, sử dụng qua các thời kỳ; 02 lô đất h21, h22 có diện tích, kích thước các cạnh, các điểm tiếp giáp cụ thể được xác định như tại “Sơ đồ đo vẽ lô H21 khoảnh 3A theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/8/2022” và “Sơ đồ đo vẽ lô H22 khoảnh 3A theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/8/2022” do Công ty cổ phần T6 đo đạc ngày 25/8/2022 (Có sơ đồ kèm theo) có các điểm tiếp giáp cụ thể như sau:

* Lô H21 khoảnh 3A:

  • Hướng Bắc giáp lô h21 khoảnh 3A của TNHHMTV Lâm nghiệp L2 (ông Toàn Văn Q1 đang chiếm sử dụng) là cạnh: 1+2= 20,91m.
  • Hướng Đông giáp lô h21 khoảnh 3A của TNHHMTV Lâm nghiệp L2 (ông Nguyễn Văn H2 đang chiếm sử dụng) là các cạnh: 2+ 3= 12,11m; 3+ 4= 23,50m; 4+5= 6,21m; 5+6= 14,38m;
  • Hướng Nam lô h21 khoảnh 3A của TNHHMTV Lâm nghiệp L2 (ông Nguyễn Văn H2 đang chiếm sử dụng) là các cạnh: 6+7= 9,27m; 7+8= 24,36m; 8+9= 12,80m; 9+10= 12,00m; 10+11= 13,87m; 11+12= 17,91m; 12+13= 13,31m; 13+14=9,15m;
  • Hướng Tây Bắc giáp khoảnh 3A của TNHHMTV Lâm nghiệp Đông Bắc là các cạnh 14+15= 7,11m; 15+16= 10,71m; 16+17= 22,16m; 17+18= 9,67m; 18+ 19=4,54m; 19+20= 19,79m; 20+21= 9,93m; 21+22= 29,78m; 22+ 1= 17,33m.

* Lô H22 khoảnh 3A:

  • Hướng Tây giáp lô h21 khoảnh 3A và lô g27 khoảnh 3A của TNHHMTV Lâm nghiệp L2 là các cạnh: 24+25= 145,30m; 25+26=10,06m; 26+ 27=44,08m; 27+ 28= 18,49m; 28+ 29= 4,11m; 29+ 30= 29,81m; 30+ 31= 7,92m; 31+32=35,12m; 32+33= 39,94m; 33+34=21,00m; 34+35= 10,30m; 35+ 1= 4,93m.
  • Hướng Đông giáp lô h23 khoảnh 3A; lô h25 khoảnh 3A và lô i34 khoảnh 3A của TNHHMTV Lâm nghiệp L2 là các cạnh 1+2= 14,15m; 2+ 3= 12,93m; 3+ 4= 19,80m; 4+5= 18,71m; 5+6= 8,99m; 6+7= 18,55m; 7+8= 52,91m; 8+9= 29,59m; 9+10= 29,91m; 10+11= 22,72m; 11+12= 21,86m; 12+13= 17,60m; 13+14= 23,77m; 14+15= 14,56m; 15+16= 40,06m; 16+17= 20,80m; 17+18= 29,60m; 18+19=48,62m
  • Hướng Tây Nam giáp lô g27 khoảnh 3A của TNHHMTV Lâm nghiệp L2 là các cạnh 19+20= 19,51m; 20+21=31,20m; 21+22= 7,00m; 22+23= 10,90m; 23+24=8,18m.

Bà Vũ Thị O cùng gia đình là bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn Đ1 phải có nghĩa vụ liên đới thu hoạch, di dời toàn bộ số cây bạch đàn mà gia đình bà O đã trồng trên 02 lô đất (lô h22 có 4.639 cây bạch đàn trồng năm 2019; lô h21 có 904 cây bạch đàn trồng năm 2020) để trả lại mặt bằng toàn bộ diện tích 02 lô đất khoảnh 3a lô h21 và khoảnh 3a lô h22 cho Công ty TNHH L2.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 26/7/2024, bị đơn bà Vũ Thị O kháng cáo toàn bộ bản án bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn – Công ty TNHH MTV L2 do ông Nguyễn Đức M và ông Vũ Đức Đ đại diện theo ủy quyền trình bày: Công ty khởi kiện yêu cầu bà Vũ Thị O phải trả tiền sản phẩm khoản của lô h21 khoảnh 3A diện tích 0,4ha (gia đình bà O chưa thanh toán) là 8.840.000 đồng và trả lại diện tích đất tại khoảnh 3a lô h21 và khoảnh 3a lô h22 đã được đo đạc theo biên bản thẩm định ngày 25/8/2022.

Luật sư Nguyễn Thị T – người bảo vệ cho bị đơn Vũ Thị O trình bày: Phía bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Khoảnh 3a lô h21 và khoảnh 3a lô h22 (khu H và Hố G) có nguồn gốc là đất khai hoang, được gia đình bà O sử dụng ổn định, không có tranh chấp với các hộ liền kề (có xác nhận của địa phương) từ trước khi Công ty L2 được cấp GCNQSDĐ. Quyết định 1003/QĐ-CT của Chủ tịch UBND tỉnh B cấp GCNQSDĐ cho Lâm trường Đ3 (nay là Công ty TNHH MTV L2) chưa đảm bảo quy định về trình tự, thủ tục giao đất và thu hồi đất, chưa thực hiện đền bù theo Điều 21, Điều 27, Điều 28, Điều 29 Luật đất đai 1993. Hồ sơ tài liệu do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án có dấu hiệu tẩy xóa. Gia đình bà không tự nguyện ký hợp đồng giao khoán nào với Công ty. Việc nhận phân bón, cây trồng từ Công ty là do không hiểu biết pháp luật, nghĩ là hợp tác liên doanh, sau đó đã nộp sản lại. Căn cứ Điều 2, Điều 5 Luật đất đai năm 1987, Điều 5, Điều 73 Luật đất đai 1993, đất tranh chấp thuộc sở hữu của hộ gia đình bà O dù chưa được cấp GCNQSDĐ. Đề nghị HĐXX phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án về Tòa cấp sơ thẩm xét xử lại.

Bị đơn Vũ Thị O, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn Đ1 đều nhất trí với quan điểm của luật sư Nguyễn Thị T, không bổ sung gì thêm.

+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:

- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Vũ Thị O, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 26/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

- Về án phí DSPT: Bà Vũ Thị O phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0005046 ngày 01/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế. Xác nhận bà O đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt họ là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của Bị đơn Hội đồng xét xử xét thấy:

Công ty TNHH một thành viên L4 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Vũ Thị O trả sản phẩm khoán (chu kỳ kinh doanh rừng chồi) cho Lâm trường Đ (thuộc Công ty TNHH một thành viên L2) theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết, thời hạn thực hiện hợp đồng là 5 năm (giai đoạn từ năm 07/9/2015 đến 07/9/2020) với mức khoán 26m3/1ha: lô h21 khoảnh 3A diện tích 0,4ha (gia đình bà O chưa thanh toán) x26m3= 10,4m3 x 850.000đ/m3= 8.840.000đ;

Buộc bà Vũ Thị O trả Lâm trường Đ (thuộc Công ty TNHH một thành viên L2) 2,30 ha đất (khoảnh 3a lô h21 diện tích 0,4 ha và khoảnh 3a lô h22 diện tích 1,90ha), đã được đo đạc thẩm định ngày 25/8/2022 cả 02 lô (h21 diện tích 0,56ha và lô h22 diện tích 2,7ha, tổng diện tích cả 02 lô đo thực tế là 3,26ha).

[2.1]. Xét yêu cầu của Công ty TNHH L2 yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Vũ Thị O phải có nghĩa vụ trả sản phẩm khoán (chu kỳ kinh doanh rừng chồi) cho Lâm trường Đ3 (thuộc Công ty TNHH L2) theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết, số tiền là 8.840.000đ (Tám triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng), thấy rằng:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bên đương sự xác định ngày 07/5/2019, vợ chồng bà Vũ Thị O và Nguyễn Văn C2 (đã chết vào ngày 14/10/2019 âm lịch) và Lâm trường Đ3 (nay là Công ty TNHH một thành viên L2) có ký kết Hợp đồng giao nhận khoán kinh doanh rừng chồi sản xuất theo chu kỳ kinh doanh mô hình 3 số 22/2016/HĐ-LT ngày 07/9/2015 là khoảnh 3a lô h21 diện tích 0,4 ha. Bà O trình bày do rừng cây phát triển kém nên gia đình bà có xin giảm bớt tiền khoán sản phẩm cho Lâm trường và đề nghị Công ty giảm cho gia đình số tiền là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng), gia đình xin nộp trả công ty số tiền 4.840.000₫ (Bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng). Tuy nhiên phía Công ty TNHH một thành viên L4 Bắc/Lâm trường L4 không đồng ý. Đến nay, bà O chưa thực hiện nghĩa vụ nộp tiền khoán sản phẩm theo đúng thỏa thuận mà hai bên ký kết tại hợp đồng. Xét thấy, hợp đồng giao nhận khoán kinh doanh rừng chồi sản xuất do hai bên tự nguyện ký kết, không bị ai ép buộc. Bà O thừa nhận có nợ Công ty Đ4 số tiền theo hợp đồng hai bên đã ký là 8.840.000đ (Tám triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) là vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của Công ty TNHH một thành viên L2 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2.2] Xét yêu cầu của Công ty TNHH L2 yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Vũ Thị O có trách nhiệm giao trả Lâm trường Đ (thuộc Công ty TNHH L2) tổng diện tích đất trồng rừng là 3,26ha, gồm 02 lô đất rừng: lô h21 diện tích 5649,6m2 và lô h22 diện tích 27289,3m2 (đã được đo đạc thẩm định ngày 25/8/2022- diện tích ghi trên Bản đồ hiện trạng rừng khu vực A, xã Đ thì khoảnh 3a lô h21 diện tích 0,4 ha và khoảnh 3a lô h22 diện tích 1,90ha), thấy rằng:

Về nguồn gốc đất tranh chấp: Phía nguyên đơn xác định từ tháng 8/1998 đến tháng 4/2002, toàn bộ diện tích đất khu vực A, xã Đ là rừng tự nhiên. Lâm trường Đ được UBND tỉnh B giao cho để trồng rừng kinh tế tại khu đất đó, trong đó có 02 lô đất rừng: lô h21 diện tích 5649,6m2 và lô h22 diện tích 27289,3m2 (đã được đo đạc thẩm định ngày 25/8/2022- diện tích ghi trên Bản đồ hiện trạng rừng khu vực A, xã Đ thì khoảnh 3a lô h21 diện tích 0,4 ha và khoảnh 3a lô h22 diện tích 1,90ha). Quá trình giao đất được thể hiện tại Quyết định số 177/QĐ-UB ngày 23/3/1987, UBND tỉnh H (nay là tỉnh Bắc Giang) giao đất, giao rừng cho Liên hiệp các xí nghiệp gỗ trụ mỏ (tiền thân của Công ty L2) quản lý và làm chủ đầu tư sản xuất, kinh doanh. Tổng diện tích được giao là 4.020ha; trong đó: Đất lâm nghiệp 2.510ha (trong đó: đất có rừng 250ha, đất chưa có rừng là 2,260ha). Quyết định số 1003/QĐ-CT năm 1998 của UBND tỉnh B về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Lâm trường Đ. Diện tích đất lâm nghiệp được cấp GCN là 3.235,2ha; loại đất: Nhà nước cho thuê; Mục đích sử dụng: R.T.S (rừng trồng sản xuất) tại các xã, trong đó giao cho Lâm trường Đ3 quản lý và sử dụng tổng diện tích đất tại xã Đ là 5.269.500m2. Quyết định số 39/QĐ-UBND ngày 14/4/2010, của UBND tỉnh B về thu hồ đất rừng và đất lâm nghiệp của Lâm trường Đ- Công ty L2 giao địa phương quản lý, diện tích đất rừng là 1.458,83ha tại các xã, trong đó có xã Đ là 66,22ha. GCNQSD đất theo Quyết định số 1086/QĐ-UBND tỉnh B quyết định về việc cho Công ty TNHH một thành viên L2 chuyển hình thức từ giao đất không thu tiền sử dụng đất sang thuê đất đối với diện tích đất đã được Nhà nước giao quản lý, sử dụng qua các thời kỳ, diện tích đất rừng sản xuất tại xã Đ là: 3.087.942,5m2. UBND tỉnh B cũng xác định: Qua xem xét hồ sơ cho thấy, Quy trình ban hành Quyết định số 1086/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND tỉnh B là đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật.

Bà Vũ Thị O và các thành viên trong gia đình xác định nguồn gốc 02 lô đất rừng này là do năm 1981 bà O kết hôn với ông C2 đã được bố mẹ chồng và bố mẹ đẻ chia cho L1 đất tại Hố Giếng và lô đất tại Hố C. Hai lô đất này bố mẹ hai bên nội, ngoại của bà O tự khai hoang từ năm 1970. Đến năm 1980 vợ chồng bà O được chia, sau đó tự khai hoang, phục hóa, cải tạo đất để trồng sắn, trồng ngô, sau đó có trồng bạch đàn đỏ và trồng keo. Từ năm 1980 đến nay gia đình bà vẫn làm và không bỏ hoang năm nào, không tranh chấp với bất kỳ ai ở liền kề. Bà O cung cấp cho Tòa án "Giấy xác minh đất đồi Hố Giếng" và "Giấy xác minh đất đồi Cu Vạc" để chứng minh diện tích đất đó thuộc quyên sử dụng của bà O tuy nhiên các giấy tờ này chỉ có một số chữ ký của người dân địa phương, trong khi chính quyền địa phương xác định 02 lô đất này địa phương không quản lý vì đều là đất rừng; 02 lô đất đều nằm trong bản đồ thuộc quyền quản lý của Công ty TNHH L2. Do đó, lời trình bày của bà O không có căn cứ nên không có cơ sở để chấp nhận.

Ngoài ra, các tài liệu trong hồ sơ thể hiện ngày 01/4/2002, Lâm trường Đ3 ký hợp đồng khoán trồng rừng nguyên liệu (lần đầu) đối với hộ gia đình ông Nguyễn Văn C2- là chồng của bà Vũ Thị O tại khoảnh 3A lô C27 diện tích 1,9ha (nay là khoảnh 3A lô h22 diện tích 1,90ha). Ngày 30/02/2003 Lâm trường Đ3 ký hợp đồng trồng rừng liên doanh (lần đầu) giữa Lâm trường Đồng S1 với hộ gia đình ông Nguyễn Văn C2 (là chồng bà O) tại khoảnh 3A lô C27, diện tích 0,3ha (nay là lô h21 khoảnh 3A diện tích 0,4ha).

Lâm trường đã ký hợp đồng trồng rừng với hộ gia đình bà Vũ Thị O tính đến năm 2019 liên tục 3 chu kỳ. 02 (Hai) lô đất gia đình bà Vũ Thị O đang sử dụng tổng diện tích đo thực tế 3,26ha hoàn toàn ổn định từ trước tới nay, không có tranh chấp, ranh giới không thay đổi, diện tích chênh lệch là do đo đạc trước đây không chính xác.

UBND huyện Y xác định: Trong quá trình hoạt động Công ty đã tổ chức sắp xếp, đổi mới mô hình quản lý, tổ chức hoạt động quản lý, sử dụng đất của Công ty. Đối với diện tích đất được giao vẫn thường xuyên liên tục và được thể hiện trong các hồ sơ quản lý, sử dụng đất.

UBND xã Đ xác định: Năm 2002 Lâm trường Đ có đến vận động các gia đình trồng rừng kinh doanh liên doanh, liên kết, trong đó có gia đình ông C2, bà O theo như các hợp đồng giao nhận khoán giữa Lâm trường và gia đình bà O tại 02 lô đất: lô h21 khoảnh 3A diện tích 0,4ha và lô h22 khoảnh 3A diện tích 1,9ha. Hai bên đã ký hợp đồng trồng rừng liên tục 03 chu kỳ. Hai chu kỳ trước thì không xảy ra tranh chấp gì. Đến chu kỳ thứ 3 thì phát sinh tranh chấp do gia đình bà O không nộp tiền sản phẩm khoán cho Lâm trường Đ theo hợp đồng. Về diện tích 02 lô đất bà O ký hợp đồng giáo khoán với Lâm trường Đ thì không phát sinh tranh chấp với bất cứ hộ dân, cá nhân, tổ chức nào khác. Về căn cứ pháp lý để xác định 02 lô đất nêu trên thì phía gia đình bà O không có tài liệu, chứng cứ nào. Địa phương cũng không có hồ sơ, tài liệu để quản lý, vì trước đây tại bản đồ giải thửa do địa phương quản lý chỉ thể hiện đất không phải là đất rừng, còn đất rừng không thể hiện trong bản đồ giải thửa. 02 lô đất do gia đình bà O trồng rừng giao khoán với Lâm trường là đất rừng nên không có trong bản đồ giải thửa do địa phương quản lý. Năm 2015 Nhà nước thực hiện đo bản đồ địa chính chính quy hiện nay UBND xã đang quản lý thì thửa đất tại khu Hố Giếng mà bà O đang trồng rừng có tranh chấp với Lâm trường Đ3 không được thể hiện trong bản đồ địa chính, thửa đất này thuộc diện tích đất do Lâm trường Đ được Nhà nước giao. Đối với lô đất tại Hố C hiện nay bà O trồng rừng cũng không được thể hiện trên bản đồ địa chính năm 2015 mà UBND xã đang quản lý.

Từ các tài liệu chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định 02 lô đất rừng là lô h21 diện tích 5649,6m2 và lô h22 diện tích 27289,3m2 (đã được đo đạc thẩm định ngày 25/8/2022- diện tích ghi trên Bản đồ hiện trạng rừng khu vực A, xã Đ thì khoảnh 3a lô h21 diện tích 0,4 ha và khoảnh 3a lô h22 diện tích 1,90ha) thuộc quyền quản lý và sử dụng của Công ty TNHH một thành viên L2 theo Quyết định số 1086/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND tỉnh B về việc cho Công ty TNHH L2 chuyển hình thức từ giao đất không thu tiền sử dụng đất sang thuê đất (đợt 1) đối với diện tích đất đã được Nhà nước giao quản lý, sử dụng qua các thời kỳ; tại thửa đất số 1, tờ bản đồ số 77, diện tích 700.102,0m2; Địa chỉ thửa đất: xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, được UBND tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/8/2021; cấp cho Công ty TNHH L2; số GCNQSD đất: DB 418188; vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS0 1843/Q03. Vào sổ địa chính trang số 103; Quyển số 41 là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[2.3] Xét yêu cầu của Công ty TNHH một thành viên L2 yêu cầu bà O và gia đình là bà H, ông T1, ông Đ1 phải thu hoạch, di dời toàn bộ số cây bạch đàn mà gia đình bà O tự ý trồng năm 2019 và năm 2020 trên 02 lô đất của Công ty mà không có sự cho phép của Công ty H3, thấy:

Giữa Công ty TNHH L2 và hộ gia đình bà O, ông C2 đã ký hợp đồng trồng rừng liên tục 03 chu kỳ trồng rừng từ năm 2002 đến năm 2021. 02 chu kỳ trước thì hai bên không xảy ra tranh chấp gì, đến chu kỳ thứ 3 (từ năm 2016 đến năm 2021) thì hai bên xảy ra tranh chấp liên quan đến tiền khoán sản phẩm. Vì vậy, sau khi hết hạn của 02 hợp đồng giao nhận khoán trồng rừng (chu kỳ thứ 3) tại Hợp đồng giao nhận khoán số 22/2016/HĐ-LT ngày 07/9/2015 và Hợp đồng giao nhận khoán số 23/2016/HĐ-LT ngày 10/3/2016, thì hộ gia đình bà O đồng ý không tiếp tục ký hợp đồng trồng rừng (chu kỳ tiếp theo) với Công ty TNHH L2 nữa. Tuy nhiên, gia đình bà O mặc dù không ký hợp đồng trồng rừng tiếp theo với Công ty L2 nhưng vẫn tự ý chiếm giữ 02 lô đất nêu trên của Công ty TNHH L2 để trồng bạch đàn, cụ thể: Tại lô h22 có 4.639 cây bạch đàn trồng năm 2019; lô h21 có 904 cây bạch đàn trồng năm 2020, không tự nguyện trả lại cho Công ty TNHH L2 02 lô đất nêu trên là không đúng quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH L2. Bà O xác định, hiện nay lô đất h21 diện tích 0,4 ha do bà Nguyễn Thị H đang quản lý trực tiếp, còn lô h22 diện tích 1,90ha do ông Nguyễn Văn T1 và ông Nguyễn Văn Đ1 đang quản lý trực tiếp, bà O không còn quản lý lô đất nào của công ty nữa. Vì vậy, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T1 và ông Nguyễn Văn Đ1 phải có trách nhiệm liên đới cùng bà O trả lại 02 lô đất đang chiếm giữ cho Công ty TNHH L2 là phù hợp.

Gia đình bà O trồng tại lô h22 là 4.639 cây bạch đàn trồng năm 2019 và lô h21 là 904 cây bạch đàn trồng năm 2020 không có sự cho phép của Công ty TNHH L2 và đều đã đến chu kỳ thu hoạch, vì vậy cần buộc bà Vũ Thị O cùng gia đình là bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn Đ1 phải có nghĩa vụ liên đới thu hoạch, di dời toàn bộ số cây bạch đàn mà gia đình bà O đã trồng trên 02 lô đất nêu trên để trả lại mặt bằng toàn bộ diện tích 02 lô đất khoảnh 3a lô h21 và khoảnh 3a lô h22 cho Công ty TNHH L2

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH L2 là có căn cứ và buộc bà O cùng gia đình phải có trách nhiệm giao trả lại cho Công ty TNHH L2 tổng diện tích đất trồng rừng là 3,26ha, gồm 02 lô đất rừng: lô h21 diện tích 5649,6m2 và lô h22 diện tích 27289,3m2 (đã được đo đạc thẩm định ngày 25/8/2022- diện tích ghi trên Bản đồ hiện trạng rừng khu vực A, xã Đ thì khoảnh 3a lô h21 diện tích 0,4 ha và khoảnh 3a lô h22 diện tích 1,90ha).

Từ những phân tích, đánh giá trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.

[3]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Công ty TNHH L2 yêu cầu bà Vũ Thị O phải thanh toán trả cho Công ty TNHH L2 toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, nay Công ty TNHH L2 được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, vì vậy cần buộc bà Vũ Thị O phải thanh toán trả cho Công ty TNHH L2 toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.700.000đồng (Ba triệu bẩy trăm nghìn đồng).

[4]. Về án phí:

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của Công ty TNHH L2 được chấp nhận, vì vậy Công ty TNHH L2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; bà Vũ Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bà Vũ Thị O, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn Đ1 phải có nghĩa vụ liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm (về việc trả lại đất rừng cho Công ty L2) theo quy định.

- Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Vũ Thị O, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 26/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
    • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Vũ Thị O phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0005046 ngày 01/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế. Xác nhận bà O đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Yên Thế;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thế;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử của TANDTC;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242A/2024/DS- PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng giao nhận khoán kinh doanh rừng chồi

  • Số bản án: 242A/2024/DS- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và Hợp đồng giao nhận khoán kinh doanh rừng chồi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger