Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30/8/2024

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê.

Ông Nguyễn Hồng Phương.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 30/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 16/2024/TLST-HNGĐ ngày 11/01/2024 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30/7/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm: 1987 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: thôn 7, xã Cảnh Thụy, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

    Nơi ở: số nhà 128 tầng 17, tòa 98, khu Whampoa View, Whampoa Drive Singapore S320098.

    Người đại diện theo ủy quyền nhận các văn bản tố tụng của Tòa án của chị Trần Thị T là anh Phạm Tiến H, sinh năm: 1999.

    Địa chỉ: số C, phố Đ, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.

  2. Bị đơn: Anh CHEN GUIBIN, sinh năm: 1986. (vắng mặt).

    Địa chỉ: số D T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phúc Kiến, Cộng hòa nhân dân T1.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện và bản tự khai đề ngày 15/12/2023 (có xác nhận của Đ tại S) nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh CHEN GUIBIN kết hôn với nhau trên cơ sở tự do tìm hiểu, hoàn toàn tự nguyện, kết hôn năm 2017 tại Cục dân chính huyện C, số J ngày 17/11/2017 tại Trung Quốc và đã ghi chú kết hôn số 20/TKGCKH ngày 13/11/2018 tại Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2018 vợ chồng về Việt Nam sinh sống. Đến cuối năm 2018 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, phong cách sống và văn hóa sinh hoạt. Đến năm 2019 anh CHEN GUIBIN quay về Trung Quốc ở, còn chị vẫn ở Việt Nam và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Đến tháng 9/2022 chị sang Singapore sinh sống và làm việc. Do khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng không thường xuyên ở gần nhau nên tình cảm dần lạnh nhạt và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh CHEN GUIBIN.

Về con chung: vợ chồng chị không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Do hiện nay chị đang sinh sống và làm việc tại Singapore không về Việt Nam để giải quyết việc ly hôn được nên chị đề nghị được vắng mặt trong phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa chị và anh CHEN GUIBIN. Chị cũng ủy quyền cho anh Phạm Tiến H, sinh năm 1999; trú tại: số C, Đ, phường T, quận C, thành phố Hà Nội thay mặt chị nộp đơn khởi kiện, nộp tạm ứng án phí và nhận các văn bản tố tụng, trích lục của Tòa án giao cho chị và thông báo lại cho chị biết. Về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài chị xin tự nguyện chịu cả chị không có ý kiến gì.

Về phía bị đơn là anh CHEN GUIBIN không có lời khai.

Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ban hành văn bản ủy thác tư pháp số 01/UTTPDS-TA5 ngày 19/01/2024 gửi Bộ Tư pháT1 về việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đối với anh CHEN GUIBIN theo quy định của pháp luật.

Tại Công văn số 2216/BTP-QLQT ngày 02/8/2024 của Bộ Tư pháT1 gửi Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thể hiện nội dung: “Bộ tư pháT1 đã nhận được

2

Văn bản số 445CNS20240522 ngày 01/7/2024 của Bộ Tư pháp Cộng hòa nhân dân Trung HoT1 thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp theo đề nghị của Q cơ quan tại công văn số 60/UTTPDS-TA ngày 15/01/2024 đối với đương sự CHEN GUIBIN có địa chỉ tại Trung Quốc. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền của Cộng hòa nhân dân T1 đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 06/6/2024 bằng phương thức: chuyển cho người sống chung cùng đương sự.

Bộ Tư pháT1 xin gửi văn bản nói trên và các tài liệu kèm theo để Q cơ quan giải quyết theo thẩm quyền”.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn là anh CHEN GUIBIN không có văn bản thể hiện quan điểm về yêu cầu khởi kiện của chị T, anh CHEN GUIBIN cũng vắng mặt không có lý do trong quá trình Tòa án thông báo, triệu tập đến giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Trần Thị T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; anh CHEN GUIBIN đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử công bố đơn khởi kiện; bản tự khai của chị Trần Thị T; tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:

-Về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Đối với Thẩm phán, Thư ký, HĐXX chấp hành đúng quy định của pháp luật; về phía các đương sự thì chị Trần Thị T chấp hành đúng quy định pháp luật, bị đơn anh CHEN GUIBIN không chấp hành quy định của pháp luật.

-Về nội dung vụ án: xét mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56; khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 151; khoản 3 Điều 153; Điều 154; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội giải quyết cho chị Trần Thị T được ly hôn anh CHEN GUIBIN.

Về con chung: không có, nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: không có, nên không xem xét giải quyết.

Chị Trần Thị T phải chịu án phí sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

3

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Thị T là công dân Việt Nam có địa chỉ tại thôn G, xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang hiện đang lao động tại Singapore. Chị Trần Thị T có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh CHEN GUIBIN. Anh CHEN GUIBIN là công dân có Quốc tịch: Trung Quốc, là bị đơn hiện đang sinh sống và làm việc tại Trung Quốc ở địa chỉ: số D T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phúc Kiến, Cộng hòa nhân dân T1. Như vậy, Tòa án xác định đây là vụ án “ly hôn” có đương sự là người nước ngoài, đang cư trú ở nước ngoài và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2]. Về việc đương sự vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án đã ban hành văn bản tố tụng và gửi cho các đương sự về thời gian xét xử vụ án, đã được Bộ tư pháp Cộng hòa nhân dân Trung HoT1 thực hiện uỷ tháp cho anh tư pháp cho anh CHEN GUIBIN. Chị Trần Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh CHEN GUIBIN vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định xét xử vắng mặt đối với chị Trần Thị T và anh CHEN GUIBIN.

[3]. Về quan hệ hôn nhân:

Theo như chị Trần Thị T trình bày: chị và anh CHEN GUIBIN kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện kết hôn năm 2017 tại Cục dân chính huyện C, số J ngày 17/11/2017 tại Trung Quốc và có vào sổ đăng ký ghi chú kết số 20/TKGCKH ngày 13/11/2018 tại Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2018 vợ chồng chị về Việt Nam sinh sống. Đến cuối năm 2018 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, phong cách sống và văn hóa sinh hoạt. Đến năm 2019 anh CHEN GUIBIN quay về Trung Quốc, còn chị vẫn ở Việt Nam và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Đến tháng 9/2022 chị sang Singapore sinh sống làm việc. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh CHEN GUIBIN.

Hội đồng xét xử thấy: Chị Trần Thị T và anh CHEN GUIBIN kết hôn năm 2017 tại Trung Quốc. Sau đó đã vào sổ ghi chú việc kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang, Việt Nam số 20/TLGCKH ngày 13/11/2018. Như vậy,

4

quan hệ hôn nhân của chị Trần Thị T và anh CHEN GUIBIN là hợp pháp và được điều chỉnh theo pháp luật Việt Nam.

Sau khi kết hôn một thời gian ngắn thì chị T và anh CHEN GUIBIN về Việt Nam sinh sống, quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về cồng việc về phong tục tập quán và ngôn ngữ nên vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Anh CHEN GUIBIN về Trung Quốc còn chị T vẫn ở Việt Nam, do cuộc sống xa nhau nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình (Việt Nam) thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng chị Trần Thị T và anh CHEN GUIBIN đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trần Thị T và anh CHEN GUIBIN được xác định là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh CHEN GUIBIN.

[4]. Về con chung: Chị Trần Thị T trình bày chị và anh CHEN GUIBIN không có con chung, nên không xem xét giải quyết.

[5].Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Trần Thị T trình bày không có. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Trần Thị T đã thi hành xong án phí dân sự sơ thẩm.

[7]. Về lệ phí ủy thác văn bản ra nước ngoài: Căn cứ quy định tại Điều 151; khoản 3 Điều 153; Điều 154 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Trần Thị T phải chịu 200.000 đồng tiền lệ phí ủy thác văn bản ra nước ngoài nhưng được trừ vào số tiền 200.000 đồng tiền lệ phí ủy thác đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Trần Thị T đã thi hành xong lệ phí ủy thác tư pháp văn bản ra nước ngoài.

Về chi phí uỷ thác bản án ra nước ngoài: chị T không phải chịu chi phí uỷ thác bản án ra nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Công văn số 154/TANDTC-HTQT ngày 26/6/2024 của Toà án nhân dân tối cao.

5

[8]. Quyền kháng cáo bản án: các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 3 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 2, Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37; khoản 4, Điều 147; Điều 151; khoản 3, Điều 153; Điều 154; khoản 1 và điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 1, khoản 3, Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn anh CHEN GUIBIN.
  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000988 ngày 10/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Trần Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài:

    Về án phí ủy thác văn bản ra nước ngoài: Căn cứ quy định tại Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự: chị Trần Thị T chịu 200.000 tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Nhưng được trừ vào số tiền 200.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0000989 ngày 10/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Trần Thị T đã thi hành xong lệ phí ủy thác tư pháp văn bản ra nước ngoài.

    Chị T không phải chịu chi phí uỷ thác bản án ra nước ngoài.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Anh CHEN GUIBIN đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Chị Trần Thị T hiện đang lao động tại nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

6

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn (hôn nhân gia đình)

  • Số bản án: 242/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm: 1987 (vắng mặt) Nơi thường trú: thôn 7, xã Cảnh Thụy, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở: số nhà 128 tầng 17, tòa 98, khu Whampoa View, Whampoa Drive Singapore S320098. Người đại diện theo ủy quyền nhận các văn bản tố tụng của Tòa án của chị Trần Thị T là anh Phạm Tiến H, sinh năm: 1999. Địa chỉ: số C, phố Đ, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. 2. Bị đơn: Anh CHEN GUIBIN, sinh năm: 1986. (vắng mặt). Địa chỉ: số D T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phúc Kiến, Cộng hòa nhân dân T1.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger