Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/6/2024

“V/v tranh chấp HNGĐ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Phong.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Lan và ông Trần Văn Khánh.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh – Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Mai - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 06 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội, Xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 100/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 03 năm 2023 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1986, (Có đơn xin vắng mặt)
  • Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện M, Hà Nội
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1990, (Có đơn xin vắng mặt)
  • Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện M, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 23/2/2024 và các tài liệu có trong hồ sơ anh Nguyễn Đức H trình bày:

+ Về quan hệ tình cảm:

Vợ chồng tôi kết hôn năm 2011 có đăng ký kết hôn ngày 28/9/2011 tại UBND xã C, huyện M, thành phố Hà Nội.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại Xóm D, thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống đến tháng năm 2016 tôi không nhớ rõ tháng nào thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc nên vợ chồng thường xuyên xảy xô sát. Vợ chồng tôi ly thân kể từ tháng 10 năm 2023 đến nay. Tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chúng tôi ly hôn.

+ Về con chung: Vợ chồng tôi có 03 con chung là Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 02/7/2012; Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 07/12/2015 và Nguyễn Ngọc Tâm P, sinh ngày 01/5/2020. Tôi để nghị được nuôi cả 03 cháu. Không yêu cầu chị H1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Vợ chồng có tài sản chung; công sức; công nợ: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ chị Nguyễn Thị H1 trình bày:

+ Về quan hệ tình cảm:

Vợ chồng chị kết hôn năm 2011 có đăng ký kết hôn ngày 28/9/2011 tại UBND xã C, huyện M, thành phố Hà Nội.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại Xóm D, thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống đến tháng năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do công việc của chị H1 thường xuyên phải đi làm xa nên tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách không có biện pháp cải thiện, hàn gắn. Vợ chồng tôi ly thân kể từ tháng 10 năm 2023 đến nay. Chị H1 xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

+ Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 02/7/2012; Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 07/12/2015 và Nguyễn Ngọc Tâm P, sinh ngày 01/5/2020. Chị H1 đồng ý để anh H nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cả 03 cháu.

Vợ chồng có tài sản chung; công sức; công nợ: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án nhân dân huyện Mê Linh đã triệu tập chị Nguyễn Thị H1 tại buổi hòa giải ngày 20/5/2024 nhưng chị H1 không đến làm việc, chị có đơn xin giải quyết vắng mặt tại tất cả các giai đoạn tố tụng, nên buổi hòa giải không hòa giải được. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị H1 theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và đương sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự tuân thủ theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị HĐXX xét xử: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Đức H được ly hôn chị Nguyễn Thị H1.

Về con chung: anh H, chị H1 có 03 con chung là Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 02/7/2012; Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 07/12/2015 và Nguyễn Ngọc Tâm P, sinh ngày 01/5/2020. Đề nghị Hội đồng xét xử giao anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 cháu cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi nếu không có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung do anh H không yêu cầu. Sau khi ly hôn chị H1 có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, công sức, công nợ: Anh H và chị H1 không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn cư trú tại huyện M nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, Hà Nội theo quy định tại Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Anh H và chị H1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX áp dụng điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H và chị H1.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Anh Nguyễn Đức H và chị Nguyễn Thị H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có thỏa thuận tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 28/9/2011 tại UBND xã C, huyện M, Thành phố Hà Nội. Đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại Xóm D, thôn N, xã C, huyện M, Thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy xô sát. Vợ chồng ly thân kể từ tháng 10 năm 2023 đến nay. Anh H thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án chị H1 không đến Tòa án để hòa giải, nhưng chị có thể hiện quan điểm của mình, chị có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt. Xét thấy hôn nhân của anh H và chị H1 đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án thấy có căn cứ để cho anh H được ly hôn với chị H1 là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung:

Anh Nguyễn Đức H và chị Nguyễn Thị H1 có 03 con chung là Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 02/7/2012; Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 07/12/2015 và Nguyễn Ngọc Tâm P, sinh ngày 01/5/2020. Quá trình giải quyết vụ án, anh H đề nghị được nuôi cả 03 cháu, chị H1 đồng ý. Anh H không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng con chung. Xét nên chấp nhận đề nghị của anh H.

[4] Về tài sản, công sức, công nợ: Anh H và chị H1 không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.

[5] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

[6]Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Anh Nguyễn Đức H được ly hôn chị Nguyễn Thị H1.
  2. Về con chung: Anh H, chị H1 có 03 con chung Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 02/7/2012; Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 07/12/2015 và Nguyễn Ngọc Tâm P, sinh ngày 01/5/2020. Giao cả 03 cháu cho anh H chăm sóc nuôi dưỡng. Chị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Chị H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

  3. Về tài sản, công sức, công nợ: Không xét.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Đức H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền anh đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh theo Biên lai số 0008581 ngày 18/3/2024, anh đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mê Linh;
  • - Chi cục THA huyện Mê Linh;
  • - UBND cấp xã nơi đương sự cư trú;
  • - Các đương sự;

- Lưu: HS, VP;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Tô Thanh Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 242/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Hiếu xin ly hôn chị Hương vì mâu thuẫn tình cảm không thể hàn gắn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger