|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 242/2024/HS-ST Ngày: 24/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tòng Văn Hưng
Bà Lò Thị Ánh Ngọc
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Tuấn Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Khánh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 221/2024/TLST- HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2024/HSST-QĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các Bị cáo:
1. Họ và tên: Tòng Văn H; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: N; Sinh năm: 1970 tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; Con ông: Tòng Văn T – Sinh năm 1933 (Đã chết) và con bà: Lò Thị Đ – Sinh năm 1934; Vợ: Cà Thị H1 – Sinh năm 1973, Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2000; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 Tiền án, ngày 12/3/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 08 năm về tội Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 62/2009/HSST, tháng 5/2017 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, hiện bản án chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt hành chính, Ngày 25/5/2001 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 54/HSST, ngày 02/9/2002 H được đặc xá ra tù; Ngày 08/8/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 26/6/2006 H chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 08/11/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 03 năm tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, ngày 23/9/2021 H chấp hành xong hình phạt tù. Hiện các bản án đã được xóa án tích.
2. Họ và tên: Lường Văn L; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: N; Sinh năm: 1972 tại Điện Biên; Nơi cư trú: Số nhà B, bản C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; Con ông: Lường Văn C – Sinh năm 1927 (Đã chết) và con bà: Lường Thị Â – Sinh năm 1923 (Đã chết); Vợ: Lò Thị B – Sinh năm 1977, Bị cáo có 01 con sinh năm 1996; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 14/6/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, ngày 19/9/2018 chấp hành xong, hiện bị cáo được coi chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; Chưa bị Tòa án nào xét xử.
Các bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/6/2024 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 31/5/2024, Tòng Văn H đi bộ từ nhà đến khu vực nghĩa trang thuộc bản T, xã T, huyện Đ, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Tại đây, H gặp và hỏi mua được của một người đàn ông giới thiệu tên là Q, nhà ở thành phố Đ 03 gói Heroine, với giá 1.000.000 đồng. Mua xong, H cầm ma túy ở tay rồi đi bộ về nhà ở bản T, xã T, huyện Đ và lấy 01 gói Heroine sử dụng hết bằng hình thức chích. 02 gói Heroine còn lại H gói bằng nilon màu trắng, dùng bật lửa ga hàn kín miệng gói rồi cất giấu ở góc sân nhà H. Do bật lửa hết ga nên H đã vứt đi cùng với chiếc bơm kim tiêm.
Đến khoảng 08 giờ ngày 01/6/2024, khi H đang đứng ở sân nhà mình thì Lường Văn L đến hỏi mua 600.000 đồng Heroine. H đồng ý nhận tiền cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi ra góc sân lấy 02 gói Heroine đưa cho L. Mua xong, L cầm 02 gói Heroine ở tay trái rồi đi bộ về nhà. Hồi 08 giờ 45 phút cùng ngày, khi L đang đi bộ trên đường thuộc khu vực bản T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã T, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của L 02 gói nilon màu trắng, bên trong chứa các cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng 0,63 gam Heroine do L mua của H mà có.
Hồi 11 giờ 50 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở đối với Tòng Văn H tại bản T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Qua khám xét, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại túi quần bên trái Hoan đang mặc 600.000 đồng là tiền H bán Heroine cho L.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong vật chứng ngày 01/6/2024 đã xác định như sau:
- Vật chứng thu giữ của Lường Văn L: Các cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng 0,63 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số 912/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Lường Văn L có khối lượng 0,63 gam các cục bột màu trắng là chất ma túy: Loại Heroine. Kèm theo kết luận giám định hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Tại bản kết luận giám định số 923/KL-KTHS ngày 08/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng); 02 tiền mệnh giá 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng); 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đ (Năm mươi nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật.
Tại bản cáo trạng số 162/CT-VKSHĐB ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Tòng Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và Lường Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: khoản 1 Điều 251/BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS; điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS; Điều 38/BLHS.
Xử phạt bị cáo Tòng Văn H từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS, Điều 38/BLHS.
Xử phạt bị cáo Lường Văn L: 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,56 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định; 02 mảnh nilon màu trắng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 600.000 đồng của bị cáo Tòng Văn H là tiền do phạm tội mà có.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội như trong Cáo trạng đã truy tố. Các Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo Tòng Văn H và bị cáo Lường Văn L xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các Bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Tòng Văn H và bị cáo Lường Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với các Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định:
Hồi 08 giờ ngày 01/6/2024, tại sân nhà của mình thuộc bản T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Tòng Văn H đã bán trái phép 0,63 gam Heroine cho Lường Văn L thu được 600.000 đồng. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ nằm trong số ma túy mà H mua của một người đàn ông tên Q nhà ở thành phố Đ với giá 1.000.000 đồng tại khu vực nghĩa trang thuộc bản Tông Khao, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Số ma túy trên bị cáo H mua nhằm mục đích sử dụng và bán lẻ kiếm lời.
Hồi 08 giờ 45 phút ngày 01/6/2024, tại đường đi thuộc khu vực bản T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Lường Văn L bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biện Biên phát hiện, bắt quả tang vì đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,63 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do bị cáo L mua của bị cáo H vào lúc 08 giờ ngày 01/6/2024 tại sân nhà của bị cáo H ở bản T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên với số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
Hành vi của các Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Các Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi nêu trên Bị cáo Tòng Văn H có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Hành vi nêu trên Bị cáo Lường Văn L có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố Bị cáo Tòng Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và Bị cáo Lường Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Về tính chất của vụ án: Hành vi bán chất ma túy nhằm mục đích kiếm lời của bị cáo H và hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy các Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các Bị cáo để giáo dục các Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
[3.1] Tình tiết tăng nặng:
Bị cáo Lường Văn L không có tình tiết tăng nặng nào.
Ngày 12/3/2009 Bị cáo Tòng Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 08 năm về tội Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 62/2009/HSST. Tuy nhiên, đến ngày 01/6/2024 là ngày bị cáo phạm tội mới thì bản án số 62/2009/HSST chưa được xóa án tích. Vì vậy, bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Tòng Văn H có mẹ đẻ là bà Lò Thị Đ và bố đẻ là ông Tòng Văn T đều được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống mỹ Hạng 3 nên bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3.3] Về nhân thân:
Bị cáo Tòng Văn H sinh ra và lớn lên tại Điện Biên. Bị cáo được gia đình nuôi ăn học hết lớp 07/10 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp bố mẹ. Năm 1991 đăng ký kết hôn với chị Cà Thị H1 sinh năm 1973 và có với nhau 02 người con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2000. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 1997 cho đến nay. Ngày 25/5/2001 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 54/HSST, ngày 02/9/2002 H được đặc xá ra tù; Ngày 08/8/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 26/6/2006 H chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 08/11/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 03 năm tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, ngày 23/9/2021 H chấp hành xong hình phạt tù. Hiện các bản án này đã được xóa án tích. Bị cáo đã đi chấp hành án hình phạt tù 04 lần, trong đó còn 01 bản án vẫn còn án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục vi phạm pháp luật nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc để bị cáo cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo Lường Văn L sinh ra và lớn lên tại Điện Biên. Bị cáo được gia đình nuôi học hết lớp 07/10 thì nghỉ học ở nhà làm ruộng phụ giúp gia đình. Năm 1995 đăng ký kết hôn với chị Lò Thị B sinh năm 1977 và có với nhau 01 người con sinh năm 1996. Bị cáo sử dụng chất ma túy từ năm 2011 cho đến nay. Ngày 14/6/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, ngày 19/9/2018 chấp hành xong, hiện bị cáo được coi chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Như vậy mặc dù bị cáo đã bị đi cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn không cai được nghiện mà còn cố tình vi phạm pháp luật nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc để bị cáo cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy các Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, nghề nghiệp của các bị cáo là làm ruộng đều không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với Bị cáo Tòng Văn H từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù; Bị cáo Lường Văn L từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần chấp nhận.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Số Heroine bị thu giữ là 0,63 gam, đã gửi giám định hoàn lại 0,56 gam vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
- Đối với 02 mảnh nilon màu trắng là công cụ dùng vào việc phạm tội và vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
- Số tiền 600.000 đồng thu giữ của Tòng Văn H là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm b khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
[8] Các vấn đề khác:
Bị cáo H khai nguồn gốc số Heroine Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo L (do H bán cho L) là do H mua của ngươi đàn ông tên Q ở thành phố Đ, bị cáo H không biết họ tên đệm và địa chỉ cụ thể của Q nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề ra xem xét.
[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Bị cáo Tòng Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Bị cáo Lường Văn L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt:
Xử phạt Bị cáo Tòng Văn H: 02 (hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 01/6/2024).
Xử phạt Bị cáo Lường Văn L: 01 (Một) năm 08 (T1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 01/6/2024).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- * Tịch thu tiêu hủy: 0,56 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định; 02 mảnh nilon màu trắng.
- * Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 600.000 đồng của bị cáo Tòng Văn H phạm tội mà có. (Đã thu)
(Vật chứng của vụ án đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2024).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Tòng Văn H và bị cáo Lường Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yên |
8
9
Bản án số 242/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự - mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 242/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Tòng Văn H 02 năm 09 tháng tù Xử phạt Lường Văn L 01 năm 08 tháng tù
