Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2023/HS-ST

Ngày 21-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Công Chính

2. Bà Vi Thị Kiều Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Hoàng Phương Loan - Thư ký Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Lễ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 226/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN THỊ CẨM N1; Sinh ngày 19/12/2002, Tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: Số D đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1974 và con bà Đoàn Thị D, sinh năm 1976; Gia đình bị cáo có hai chị, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có chồng, con.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/3/2023 cho đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Vũ Thị N – Sinh năm: 1991 (Có mặt)

Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Địa chỉ: Số A đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H – Sinh năm: 1974 (Có mặt)

Địa chỉ: Số D đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 03/2022, chị Vũ Thị N thuê Nguyễn Thị Cẩm N1 làm nhân viên bán hàng cho cửa hàng quần áo của chị N tại địa chỉ: Số A L, phường T, thành phố B. Quá trình làm việc tại cửa hàng, N1 thấy chị N cất tiền tại tủ quần áo trong phòng ngủ trên gác lửng và chị N thường xuyên vắng nhà nên N1 nảy sinh ý định trộm cắp tiền của chị N để tiêu xài cá nhân. Từ ngày 02/01/2023 đến ngày 12/03/2023, N1 đã 10 lần trộm cắp tiền của chị N, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 08 giờ sáng, ngày 02/01/2023, lợi dụng lúc gia đình chị N không có mặt tại cửa hàng, N1 đi lên phòng ngủ của chị N, thấy cửa phòng không khóa, N1 đến tủ quần áo của chị N, lục lọi các vị trí ngăn tủ, khi lục ngăn trên cùng thấy dưới chiếc váy màu đen có 01 túi bằng giấy màu hồng, bên trong có 01 chiếc ví bằng nhựa màu vàng, mở ngăn kéo ví kiểm tra bên trong có 04 cọc tiền, gồm nhiều tờ tiền các mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng xếp lẫn lộn với nhau thì N1 lấy số tiền 5.000.000 đồng, gồm 10 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Sau đó, N1 sắp xếp lại đồ đạc như vị trí cũ rồi nhanh chóng đi ra ngoài phòng ngủ xuống dưới nhà, cất tiền vào bên trong túi xách rồi tiếp tục trông coi cửa hàng.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 08 giờ sáng, ngày 10/01/2023, N1 tiếp tục đi lên phòng ngủ tại cửa hàng chị N mở cửa phòng, thấy cửa phòng không khóa nên đi vào bên trong phòng tại vị trí tủ quần áo rồi lục lọi các ngăn tủ quần áo, thấy bên trong chiếc ví bằng nhựa màu vàng có để 04 cọc tiền, gồm nhiều tờ tiền các mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng xếp lẫn lộn với nhau thì N1 lấy số tiền 10.000.000 đồng, gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 200.000 đồng. Sau đó, N1 sắp xếp lại đồ đạc rồi nhanh chóng đi ra ngoài phòng ngủ xuống dưới nhà, cất tiền vào bên trong túi xách rồi tiếp tục trông coi cửa hàng.

Vụ thứ ba: Vào khoảng 08 giờ sáng, ngày 20/01/2023, N1 tiếp tục đi lên phòng ngủ tại cửa hàng chị N, đến vị trí bàn trang điểm bên cạnh tủ quần áo thấy có 01 tượng con mèo (loại tượng dùng để tiền) bằng đất màu trắng, hai tay tượng mèo màu vàng, N1 lục lọi dưới đáy tượng lấy số tiền 3.400.000 đồng, gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 200.000 đồng. Sau đó, N1 sắp xếp lại đồ đạc như cũ rồi nhanh chóng đi ra ngoài phòng ngủ xuống dưới nhà, cất tiền vào bên trong túi xách rồi tiếp tục trông coi cửa hàng.

Vụ thứ tư: Vào khoảng 08 giờ sáng, ngày 22/01/2023, N1 tiếp tục đi lên phòng ngủ của chị N đến vị trí kệ nhựa màu trắng bên cạnh tủ lạnh của phòng, lục lọi và lấy số tiền 400.000 đồng, gồm 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. Sau đó, N1 sắp xếp lại đồ đạc như cũ rồi nhanh chóng đi ra ngoài phòng ngủ xuống dưới nhà, cất tiền vào bên trong túi xách rồi tiếp tục trông coi cửa hàng.

Vụ thứ năm: Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 30/01/2023, N1 tiếp tục đi lên phòng ngủ tại cửa hàng chị N, lục lọi các ngăn tủ quần áo, lục bên trong chiếc ví bằng nhựa màu vàng rồi lấy trộm số tiền 15.000.000 đồng gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng. Sau đó, N1 sắp xếp lại đồ đạc rồi nhanh chóng đi ra ngoài phòng ngủ xuống dưới nhà, cất tiền vào bên trong túi xách rồi tiếp tục trông coi cửa hàng.

Vụ thứ sáu: Vào khoảng 08 giờ, ngày 03/02/2023, N1 tiếp tục đi lên phòng ngủ của chị N, lục lọi các ngăn tủ quần áo, lục bên trong chiếc ví bằng nhựa màu vàng lấy trộm số tiền 10.000.000 đồng gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng. Sau đó, N1 sắp xếp lại đồ đạc rồi nhanh chóng đi ra ngoài phòng ngủ xuống dưới nhà, cất tiền vào bên trong túi xách rồi tiếp tục trông coi cửa hàng.

Vụ thứ bảy: Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 11/02/2023, N1 tiếp tục đi lên phòng ngủ của chị N, lục lọi các ngăn tủ quần áo, lục bên trong chiếc ví bằng nhựa màu vàng lấy trộm số tiền 10.000.000 đồng gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng. Sau đó, N1 sắp xếp lại đồ đạc rồi nhanh chóng đi ra ngoài phòng ngủ xuống dưới nhà, cất tiền vào bên trong túi xách rồi tiếp tục trông coi cửa hàng.

Vụ thứ tám: Vào khoảng 13 giờ, ngày 27/02/2023, lợi dụng chị N đi chụp hình ở bên ngoài, N1 tiếp tục đi lên phòng ngủ của chị N, lục lọi các ngăn tủ quần áo, lục bên trong chiếc ví bằng nhựa màu vàng lấy trộm số tiền 10.000.000 đồng gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng. Sau đó, N1 sắp xếp lại đồ đạc rồi nhanh chóng đi ra ngoài phòng ngủ xuống dưới nhà, cất tiền vào bên trong túi xách rồi tiếp tục trông coi cửa hàng.

Vụ thứ chín: Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 01/03/2023, N1 tiếp tục lấy trộm số tiền là 20.000.000 đồng, gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng và 50.000 đồng bên trong chiếc ví bằng nhựa màu vàng có để 04 cọc tiền ở ngăn tủ quần áo của phòng ngủ chị N. Sau đó, bị can N1 sắp xếp lại đồ đạc rồi nhanh chóng đi ra ngoài phòng ngủ xuống dưới nhà, cất tiền vào bên trong túi xách rồi tiếp tục trông coi cửa hàng.

Vụ thứ mười: Vào khoảng 15 giờ, ngày 12/3/2023, chị N nhờ N1 lên phòng ngủ của chị N để lấy cục sạc điện thoại. Lúc này, N1 đi lên phòng ngủ, đến vị trí tủ quần áo của chị N rồi lục lọi bên trong túi bằng giấy màu hồng tại ngăn tủ quần áo, thấy 01 chiếc ví da màu xanh, N1 mở ngăn giữa của ví thấy có số tiền 12.000.000 đồng thì lấy trộm rồi bỏ vào trong người. Sau đó, N1 xuống nhà rồi cất số tiền trên vào bên trong túi xách của mình.

Tổng trị giá tài sản của bà Vũ Thị N bị Nguyễn Thị Cẩm N1 chiếm đoạt là 95.800.000 đồng.

Cáo trạng số 230/CT-VKS-HS ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại và đúng theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 từ 03 (Ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc túi xách bằng da, màu trắng, có gắn dòng chữ trên khóa là CHARLES & KEITH là tài sản của Nguyễn Thị Cẩm N1 không liên quan đến hành vi phạm tội cho Nguyễn Thị Cẩm N1 nhận quản lý sử dụng.

Chấp nhận việc bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 đã tác động gia đình bồi thường cho chị Vũ Thị N số tiền 45.800.000 đồng. Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho chị Vũ Thị N.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và không bào chữa cho mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Từ ngày 02/01/2023 đến ngày 12/3/2023, bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 đã mười lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Vũ Thị N với tổng số tiền trộm cắp là 95.800.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm bất hợp pháp đối với quyền sở hữu về tài sản của bị hại, gây mất ổn định trật tự xã hội. Bị cáo có đủ năng lực hành vi dân sự để nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam tư lợi, coi thường pháp luật nên từ ngày 02/01/2023 đến ngày 12/3/2023, bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 đã mười lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Vũ Thị N với tổng số tiền trộm cắp là 95.800.000 đồng. Bị cáo hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 45.800.000 đồng và tại phiên tòa bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản hai lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

[5] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc túi xách bằng da, màu trắng, có gắn dòng chữ trên khóa là CHARLES & KEITH là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cho bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 nhận quản lý sử dụng.

Chấp nhận việc bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho chị Vũ Thị N số tiền 45.800.000 đồng. Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho chị Vũ Thị N.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 01 chiếc túi xách bằng da, màu trắng, có gắn dòng chữ trên khóa là CHARLES & KEITH là tài sản của bị cáo nhận quản lý sử dụng.

Chấp nhận việc bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho chị Vũ Thị N số tiền 45.800.000 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 phải bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho chị Vũ Thị N.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm N1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1-TANDTC;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Công an thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • - Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242/2023/HS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 242/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Cẩm N bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger