|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 242/2025/HS-ST Ngày 19-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Thiện.
Bà Lê Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hà Giang – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 273/2025/TLST–HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 306/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Huỳnh Văn T; sinh năm 1997 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: ấp M, xã C, tỉnh Cà Mau; nơi tạm trú: số B, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn L và bà Nguyễn Thị S; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2025 đến nay; đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Lái Thiêu thuộc Trại tạm giam Bố Lá - Công an thành phố H; có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Đình T1, sinh năm 1997; nơi thường trú: tổ dân phố H, xã T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: số A, đường B, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1980; nơi thường trú: khối phố T, xã T, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở hiện tại: số A, khu P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Huỳnh Văn T không có nghề nghiệp, do không có tiền tiêu xài nên bị cáo T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 29/7/2025, bị cáo T đi bộ đến nhà của ông Nguyễn Hoàng Đ tại địa chỉ số A, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm tài sản chiếm đoạt. Khi bị cáo T vừa leo lên mái nhà để đột nhập vào nhà thì bị ông Đ phát hiện và trình báo Công an phường, sau đó Công an phường T đến đưa bị cáo T về trụ sở làm việc. Tại biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú ngày 29/7/2025 của Công an phường T thể hiện bị cáo T tự nguyện khai nhận đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Cửa hàng S1, địa chỉ số A đường B, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Lê Đình T1 làm chủ, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: khoảng 01 giờ 00 phút ngày 20/7/2025, bị cáo T đi bộ đến Cửa hàng S1, nhìn thấy cửa sau của cửa hàng không khóa, bị cáo T lén lút đi vào bên trong cửa hàng và quan sát thấy không có người trông coi nên bị cáo T đi đến quầy thu ngân, mở hộc tủ lấy số tiền 2.000.000 đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Vụ thứ hai: khoảng 01 giờ 15 phút ngày 22/7/2025, bị cáo T tiếp tục đi bộ đến Cửa hàng S1 thì nhìn thấy cửa sau của cửa hàng chỉ cài chốt nhưng không khóa. Bị cáo T đưa tay vào khe hở của cánh cửa mở khóa rồi lén lút đi vào bên trong đến quầy thu ngân mở hộc tủ lấy số tiền 3.000.000 đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Vụ thứ ba: khoảng 23 giờ 30 phút ngày 26/7/2025, bị cáo T tiếp tục đi bộ đến Cửa hàng S1 thì nhìn thấy cửa sau của cửa hàng đã khóa. Bị cáo T leo qua hàng rào nhà bên cạnh tìm dụng cụ để cắt cửa. Bị cáo T nhìn thấy 01 cây kéo đang để trên nền đất nên sử dụng kéo cắt tôn ở cánh cửa tạo thành khoảng hở rồi đi qua khoảng hở này đột nhập vào bên trong cửa hàng, đến quầy thu ngân mở tủ lấy số tiền 3.800.000 đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Tổng số tiền bị cáo T chiếm đoạt của bị hại ông Lê Đình T1 là 8.800.000 đồng. Số tiền này bị cáo T đã tiêu xài hết.
Vật chứng trong vụ án là 01 cây kéo bị cáo T sử dụng để cắt tôn ở cánh cửa của cửa hàng, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Lê Đình T1 yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền 8.800.000 đồng đã chiếm đoạt.
Tại Cáo trạng số 68/CT-VKS-KV16 ngày 24 tháng 11 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu như sau: lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Viện Kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội nhiều lần. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52 và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù. Về xử lý vật chứng: không. Về trách nhiệm dân sự: bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.800.000 đồng đã chiếm đoạt, yêu cầu này của bị hại là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 16/12/2025, bị hại Lê Đình T1 yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.800.000 đồng.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo đã rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan điều tra – Công an Công an Thành phố H, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh; hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, truy tố, ban hành quyết định, văn bản tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Quá trình điều tra, ông T1 và ông Đ đã có lời khai đầy đủ, việc vắng mặt của ông T1 và ông Đ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, xét xử vắng mặt ông T1 và ông Đ.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định: trong các ngày 20, 22 và 26 tháng 7 năm 2025 tại Cửa hàng S1 thuộc địa chỉ số A đường B, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (do ông Lê Đình T1 làm chủ), bị cáo Huỳnh Văn T đã 03 lần lén lút chiếm đoạt của bị hại T1 tổng số tiền là 8.800.000 đồng (số tiền mỗi lần bị cáo chiếm đoạt đều từ 2.000.000 đồng trở lên).
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại 03 lần nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú ngày 29/7/2025 của Công an phường T (bút lục số 01, 02) thể hiện: khi bị cáo bị bắt vì hành vi đột nhập vào nhà của ông Đ nhằm mục đích lấy trộm tài sản, bị cáo bị đưa về Công an phường T để lấy lời khai. Tại đây, bị cáo đã khai nhận thêm về 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Cửa hàng S1 vào các ngày 20, 22 và 26 tháng 7 năm 2025. Sau đó, Công an mới mời bị hại T1 đến làm việc và ngày 30/7/2025, bị hại T1 mới có đơn trình báo sự việc bị mất trộm tài sản gửi Công an phường T để được giải quyết. Như vậy, ngoài hành vi đột nhập vào nhà ông Đ để trộm cắp tài sản mà bị cáo bị bắt quả tang, bị cáo còn tự nguyện khai báo về việc đã thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản tại Cửa hàng S1 trước đó, tại thời điểm khai báo, các hành vi này chưa bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, chưa bị khởi tố, điều tra. Nội dung này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Tự thú” cho bị cáo mà không áp dụng tình tiết “Đầu thú” như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát. Bên cạnh đó, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s và điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[7] Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo (chưa có tiền án, tiền sự) cũng như hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
[8] Trách nhiệm dân sự: bị hại T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.800.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9] Xử lý vật chứng: 01 cây kéo mà bị cáo T sử dụng để cắt tôn ở cánh cửa của cửa hàng: quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được vật chứng nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xử lý.
[10] Đối với hành vi của bị cáo T cắt tôn cánh cửa của Cửa hàng S1, bị hại T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là đúng quy định của pháp luật.
[11] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt đối với bị cáo và về trách nhiệm dân sự là phù hợp.
[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các khoản 1, 2 Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s và điểm r khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 và khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
- Trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/7/2025.
- Trách nhiệm dân sự: căn cứ quy định tại các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự,
Bị cáo Huỳnh Văn T có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Lê Đình T1 số tiền 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết này,
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Văn T phải nộp 440.000 đồng (bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngân |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Thị Thu Yến |
Nguyễn Thị Ngân |
|
Lê Văn Công |
Bản án số 242/2025/HS-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 242/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn T trộm cắp tài sản
