Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2024/DS-PT
Ngày: 27-9-2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lộc
Các Thẩm phán:
Bà Phạm Thị Hồng Hà
Ông Lâm Triệu Hữu

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Yến – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Bích – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2023/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất ”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2023/DS-ST, ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 261/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Bùi Minh T, sinh năm: 1962.
Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Thế T1, sinh năm: 1968.
  2. Bà Nguyễn Ánh P, sinh năm: 1972.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1969 (vợ ông T).
  2. Anh Bùi Thành D, sinh năm: 1997 (con ông T).
  3. Chị Bùi Phương Q, sinh năm: 1999 (con ông T).
  4. Anh Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1992 (con bà P).
  5. Chị Tăng Thị Ngọc N1, sinh năm 1993 (con dâu bà P).
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
  1. Bà Mạc Thị N2, sinh năm 1954.
  2. Ông Bùi Khắc L, sinh năm 1974. (con bà N2).
  3. Bà Phạm Thị P1, sinh năm 1976. (con dâu bà N2).
  4. Ông Bùi Văn P2, sinh năm 1952 (chồng bà N2).
Cùng Địa chỉ: Tổ B, ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

Người kháng cáo: Ông Bùi Minh T - là nguyên đơn. Ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Ánh P - là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn yêu cầu khởi kiện ngày 07/01/2020 nguyên đơn Bùi Minh T trình bày: Ông T yêu cầu ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Ánh P tháo dỡ hàng lưới B40 để trả lại cho ông diện tích 11.5m², ngang 0.5m, dài 23m, tại thửa đất số 48, tờ bản đồ số 43, diện tích 112.4m², loại đất ONT, toạ lạc tại ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, mọi chi phí tháo dỡ thì bà P và ông T1 tự chịu.

Tại Đơn yêu cầu phản tố ngày 28/9/2022 và qua quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Ánh P trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp thì ông bà mua của ông Nguyễn Hữu N3, thuộc thửa đất số 47, tờ bản đồ số 43, diện tích 140.4m², từ lúc mua đến nay ông bà không có thay đổi hiện trạng và cũng không sinh sống trên thửa đất này, ông bà đã cất nhà ở kiêng cố trên đất, ông bà đồng ý theo kết quả đo đạc của cơ quan chuyên môn, nên ông bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Minh T. Vì vậy, yêu cầu buộc nguyên đơn ông Bùi Minh T thao dỡ mái tole và ô quăng (ban công) để trả lại phần không gian cho ông bà. Đồng thời, yêu cầu ông T trả giá trị đất đã lấn chiếm với diện tích 2.9m² bằng số tiền 2.900.000 đồng.

Tại Đơn yêu cầu độc lập của bà độc lập ngày 14/4/2021 của bà Mạc Thị N2 yêu cầu:

Yêu cầu ông Bùi Minh T trả lại diện tích đã lấn chiếm là 6.9m², thuộc tách 59-1 và 59-2, công nhận cho bà diện tích 6.7m² thuộc tách 59-1 thuộc một phần của thửa đất số 59. Riêng phần ban công nhà của ông T xây cất lấn qua không gian đất của bà thì bà yêu cầu ông T tháo dỡ, bà không đền bù hay hỗ trợ chi phí di dời nào.

Yêu cầu ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Ánh P phải trả lại diện tích 2.2m² đất thuộc tách 59-2 và 59-3 thuộc thửa đất số 59, công nhận cho bà được quyền sử dụng diện tích 2.2m² thuộc 02 tách thửa nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Bùi Văn P2 trình bày: Ông đồng ý để bà Mạc Thị N2 toàn quyền quyết định trong vụ án, ông không có ý kiến gì và ông xin được vắng mặt tại phiên toà xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh đã xử:

  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Minh T;
  • Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Ánh P;
  • Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Mạc Thị N2.

Công nhận cho ông Bùi Minh T và bà Nguyễn Thị N được quyền sử dụng phần đất tại các mốc như sau: a-b-8-7-d-4-3-a. Gồm các tách thửa như sau: Tách 48 diện tích 110m², tách 47-3 diện tích 5.0m², tách 59-2 diện tích 7.1m².

Ông Bùi Minh T và bà Nguyễn Thị N được quyền kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của Nhà nước về pháp luật đất đai.

Kèm theo Trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 15/6/2022 và T3 đo bản đồ địa chính khu đất phục vụ công tác xét xử của Toà án.

Buộc ông Bùi Minh T phải trả giá trị phần đất thuộc tác thửa 47-3 cho ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Ánh P với số tiền 1.400.000 đồng.

Buộc ông Bùi Minh T phải trả giá trị phần đất thuộc tách thửa 59-2 cho bà Mạc Thị N2 và ông Bùi Văn P2 với số tiền 1.988.000 đồng.

Đối với phần Ô văng (ban công) và mái hiên (nhà sắt) của ông Bùi Minh T xử lý như sau:

  • Phần giáp với thửa 59, buộc ông Bùi Minh T phải tháo dỡ, di dời hoặc cắt bỏ hay đập bỏ Ô Quăng (ban công) và mái hiên (nhà sắt) từ điểm d đến mốc số 4. Bà Mạc Thị N2 không phải hỗ trợ chi phí này.
  • Phần giáp với thửa 47, buộc ông Bùi Minh T phải tháo dỡ, di dời hoặc cắt bỏ hay đập bỏ phần Ô Quăng (ban công) và mái hiên (nhà sắt) từ điểm h đến điểm a. Ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Ánh P không phải hỗ trợ chi phí này.

Công nhận cho ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Ánh P được quyền sử dụng phần đất gồm các mốc a-b-8-9-10-1-2-a, gồm các tách thửa như sau: Tách 47-1, diện tích 110.7m², tách 47-2 diện tích 19.0m², tách 59-3 diện tích 0.4m², tách 59-4 diện tích 1.8m² và tách 46 diện tích 3.0m².

Đối với phần hàng rào: Đoạn a-3 có chiều dài 0.43m, bà P tự sửa chữa nên được ghi nhận.

Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa bà Nguyễn Ánh P và ông Nguyễn Thế T1 về việc trả cho bà Mạc Thị N2 số tiền 2.000.000 đồng giá trị đất thuộc tách 59-3 diện tích 0.4m² và tách 59-4 diện tích 1.8m².

Các đương sự trong vụ án được quyền kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của Nhà nước về pháp luật đất đai.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ trả lãi do chậm thi hành án, về chi phí tố tụng, về án phí dân sự sơ thẩm và về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/8/2023 ông Bùi Minh T kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:

  • Buộc bà Nguyễn Ánh P trả lại cho ông T 11,5m² (ngang 0.5m x dài 23m);
  • Buộc bà Mạc Thị N2 di dời hàng rào bằng vách tường ra khỏi phạm vi căn nhà của ông T;
  • Bác toàn bộ đơn phản tố của bà P vì không đúng sự thật.

Ngày 09/8/2023 bà Nguyễn Ánh P và ông Nguyễn Thế T1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:

1/ Buộc ông Bùi Minh T và bà Nguyễn Thị N di dời toàn bộ những vật kiến trúc có trên phần đất lấn chiếm và không gian gồm các mốc (a-b) và (3-a) là 5m² thuộc quyền sở hữu của gia đình ông bà.

2/ Buộc ông Bùi Minh T chịu toàn bộ án phí và chi phí khảo sát đo đạc và định giá theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Ông Bùi Minh T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • Bà Nguyễn Ánh P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ông T và bà P thỏa thuận yêu cầu Tòa án xác định phần đất tranh chấp của nguyên đơn hay bị đơn. Trường hợp xác định đất của nguyên đơn thì nguyên đơn đồng ý để tồn tại tài sản của bị đơn trên đất, không yêu cầu di dời. Nếu xác định đất của bị đơn thì bị đơn đồng ý để cho tài sản của nguyên đơn tồn tại trên đất, không yêu cầu di dời. Ông T và bà P còn thỏa thuận khi nào có điều kiện xây dựng hoặc sửa chữa nhà mới thì phải xây dựng về đúng vị trí đất của mình.

Các đương sự thống nhất với kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 17/9/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh V.

Ông Bùi Minh T đồng ý nộp chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Bà Nguyễn Ánh P trình bày việc thỏa thuận với ông T thì bà có bàn bạc với ông T1 và ông T1 đã đồng ý như ý kiến của bà.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Bùi Minh T, kháng cáo của ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Ánh P là có căn cứ chấp nhận một phần. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Bùi Minh T, bà Nguyễn Ánh P và ông Nguyễn Thế T1, sửa bản án sơ thẩm. Do sửa án sơ thẩm, nên ông T phải chịu án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng. Ông Bùi Minh T, bà Nguyễn Ánh P và ông Nguyễn Thế T1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Do ông T là người cao tuổi, nên được miễn tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Bùi Minh T với bà Nguyễn Ánh P và ông Nguyễn Thế T1 nộp trong hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Thế T1 xin vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án xin vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Bùi Minh T, kháng cáo của bà Nguyễn Ánh P và ông Nguyễn Thế T1, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Ông Bùi Minh T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 48, tờ bản đồ số 43, diện tích 112.4m², loại đất ONT, toạ lạc tại ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Nguồn gốc thửa đất số 48 do mẹ ông T tặng cho ông T vào ngày 04/01/2013. Trước khi tặng cho ông T thửa đất số 48 do bà Nguyễn Thị T4 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 140m² gắn liền trên đất là căn nhà cấp 4.

Liền kề với đất ông T là đất của bà Nguyễn Ánh P và ông Nguyễn Thế T1 thuộc thửa đất số 47, tờ bản đồ số 43, diện tích 140.4m², loại đất ONT và đất của bà Mạc Thị N2 thuộc thửa đất số 59, diện tích 1.408,1m², loại đất ONT + CLN.

Quá trình sử dụng đất ông T cho rằng bà P và ông T1 lấn đất của ông nên xảy ra tranh chấp.

Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Ánh P có đơn phản tố và bà Mạc Thị N2 có đơn yêu cầu độc lập liên quan đến quyền sử dụng đất lấn chiếm.

Tại kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 17/9/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V xác định:

  • Theo xác định ranh đất của ông Bùi Minh T thể hiện: Theo sự chỉ ranh của ông Bùi Minh T có tổng diện tích 134,9m².
  • Theo xác định ranh đất của bà Nguyễn Ánh P và ông Nguyễn Thế T1 thể hiện: Theo sự chỉ ranh của bà P và ông T1 có tổng diện tích 135,4m².
  • Theo xác định ranh đất của bà Mạc Thị N2 thể hiện: Theo sự chỉ ranh của Mạc Thị N2 có tổng diện tích 1,398,6m².

Trong đó có 7,9m² tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Bùi Minh T với bà Nguyễn Ánh P và ông Nguyễn Thế T1 và có 13,2m² và 0,8m² tranh chấp giữa ông Bùi Minh T với bà Mạc Thị N2.

Trên phần đất tranh chấp giữa ông T với bà P và ông T1 có một phần nhà tường của ông T và một phần nhà tường của ông T1 và bà P đang sử dụng.

Thửa đất số 48, diện tích 112,4m² do ông Bùi Minh T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã B có nguồn gốc từ thửa đất số 1565, diện tích 140m² do bà Lê Thị T5 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 04/01/2013 bà Lê Thị T5 ký hợp đồng tặng cho ông Bùi Minh T toàn bộ diện tích đất là 140m² nhưng trong hợp đồng tặng cho giải thích rõ theo đo đạt dự án Vláp diện tích 112,4m². Khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Bùi Minh T không khiếu nại gì. Do đó việc Ủy ban nhân dân thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở hợp đồng tặng cho là có căn cứ. Tuy nhiên trên thửa đất số 48 (thửa cũ 1565) có căn nhà của bà T5 cho ông T gắn liền với việc tặng cho quyền sử dụng đất. Căn nhà trên đất của ông T thì ông T trình bày là bà T5 xây dựng từ năm 1974. Qua quá trình biến động đất đai thửa đất số 48 có giảm diện tích là 27,6m², nhưng căn nhà cấp 4 trên đất không thể biến động được.

Thửa đất số 47, diện tích 140,4m² có nguồn gốc từ thửa đất số 1566, diện tích 120m². Thửa đất 1566 cấp đổi theo dự án Vláp diện tích tăng lên từ 120m² thành 140,4m² (tăng 20,4m²), không có nguyên nhân tăng. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N3 và bà L1 chuyển nhượng cho ông T1 và bà Ánh P, ông T1 và bà P được chỉnh lý mặt 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08/9/2015. Do đó việc bà P xác định ông T xây nhà lấn sang đất của bà P là không có căn cứ, vì nhà ông T xây dựng năm 1974, còn nhà, đất bà P nhận chuyển nhượng từ năm 2015. Khi bà P nhận chuyển nhượng nhà đất từ ông N3 và bà L1 thì căn nhà ông T đã có trước đó.

Khi ông T, bà P và ông T1 nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không có ai khiếu nại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

[2.2] Xét việc ông T cho rằng bà P lấn sang đất của ông T là chưa đủ căn cứ, vì ông T chỉ được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 112,4m². Tại trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 17/9/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh V thể hiện phần đất không tranh chấp giữa ông T, bà P và bà N2 có diện tích 113m². Như vậy so với diện tích đất ông T được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất tăng 0,6m². Do đó án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T có căn cứ.

Vậy có căn cứ xác định đất tranh chấp giữa ông T với ông T1 và bà P có diện tích 7,9m² là của ông T1 và bà P. Tại phiên tòa phúc thẩm bà P đồng ý cho giữ nguyên hiện trạng phần nhà tường và tài sản khác của ông T trên phần đất 7,9m² đến khi nào ông T bà N sửa chữa, xây dựng lại nhà mới thì phải xây dựng về thửa đất thửa số 48, diện tích 112,4m² đo đạc thực tế 113m². Xét việc thỏa thuận giữa ông T và bà P là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa ông T và bà P.

[2.3] Đối với tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà N2 và ông T thì giữa ông T và bà N2 thỏa thuận ranh đất giữa bà N2 và ông T là đúng vị trí bà N2 xây hàng rào tường. Về không gian nếu phần ô văng nhà ông T có lấn sang đất của bà N2 thì bà N2 vẫn để cho ông T sử dụng đến khi nào ông T sửa chữa, xây dựng nhà mới thì phải xây dựng về đúng vị trí đất của ông T. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này của ông T và bà N2.

[2.4] Về chi phí tố tụng: Ông Bùi Minh T phải chịu chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm và chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm.

Từ nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Bùi Minh T và chấp nhận nột phần đơn kháng cáo của bà Nguyễn Ánh P và ông Nguyễn Thế T1, sửa một phần bản án sơ thẩm. Do sửa án sơ thẩm nên án phí sơ thẩm được xem xét lại cho phù hợp theo quy định của pháp luật.

[3] Xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ.

[4] Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Bùi Minh T và một phần đơn kháng cáo của bà Nguyễn Ánh P và ông Nguyễn Thế T1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ Điều 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ Điều 12, Điều 26, Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Minh T về việc ông Bùi Minh T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thế T1 và bà Nguyễn Ánh P lấn chiếm đất của ông Bùi Minh T.
  2. Công nhận phần đất tranh chấp 7,9m² là thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Ánh P và ông Nguyễn Thế T1.
  3. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa ông Bùi Minh T và bà Nguyễn Ánh P là giữ nguyên hiện trạng phần nhà tường của ông Bùi Minh T trên phần đất 7,9m² đến khi nào ông Bùi Minh T sửa chữa, xây dựng lại căn nhà thì phải xây dựng về đất vị trí đất của ông T 113m² (Kèm theo trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/9/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh V).
  4. Ghi nhận sự thỏa thuận giữa ông Bùi Minh T và bà Mạc Thị N2 như sau: Ranh đất giữa bà N2 và ông T là đúng vị trí bà N2 xây hàng rào tường giáp ranh đất giữa ông T và bà N2. Về không gian nếu phần ô văng nhà ông T có lấn sang đất của bà N2 thì bà N2 vẫn để cho ông T sử dụng đến khi nào ông T sửa chữa, xây dựng nhà mới thì phải xây dựng về đúng vị trí đất của ông T (kèm theo trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/9/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh V).
  5. Về án phí sơ thẩm:

    Miễn án phí sơ thẩm cho ông T do ông T là người cao tuổi. Hoàn trả ông Bùi Minh T 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tiền số N°0010143 ngày 05 tháng 3 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

    Bà P và ông T1 nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm. Được khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tiền số N°0012831 ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Do đó bà P và ông T1 không phải nộp tiếp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Về án phí phúc thẩm: Các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả ông Bùi Minh T 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số N°0002029 ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long; hoàn trả ông Nguyễn Thế T1 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số N°0002028 ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long; hoàn trả bà Nguyễn Ánh P 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số N°0002027 ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
  7. Về chi phí tố tụng: Ông Bùi Minh T nộp chi phí tố tụng cấp sơ thẩm là 8.000.000₫ và nộp chi phí tố tụng cấp phúc thẩm là 5.5000.000đ. Tổng cộng là 13.500.000đ (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) và ông T đã nộp xong.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:
  • - TAND Cấp cao: 01;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long: 02;
  • - Phòng KTNV&THA: 01;
  • - TAND TXBM: 01;
  • - THADS TXBM: 01;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: 06.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242/2024/DS-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 242/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông T tranh chấp QSDĐ với ông T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger