Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2024/HNGĐ-ST

Ngày 06-9-2024

V/v ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Trọng Tuấn

Ông Phạm Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Đức Hinh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 332/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 104A/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Huy H; ĐKHKTT: Ấp V, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang, địa chỉ làm việc: Lô G, Khu tái định cư, thôn E, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt;

Bị đơn: Anh PAN, ZHENCHAO; nơi cư trú: Số F, Thôn H, thị trấn B, huyện V, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Huy H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Huy H và anh P, Z quen nhau từ năm 2017, đến ngày 26 tháng 09 năm 2018 thì chị Phạm Huy H kết hôn với anh P, Z tại Cục Dân chính huyện V, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc theo giấy chứng nhận kết hôn số J350525-2018-000023. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều vấn đề do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, nên chị Phạm Huy H đã chủ động ly thân và quyết định trở về Việt Nam từ năm 2020. Khoảng cách về địa lý và thời gian anh chị ở bên nhau quá ngắn cũng dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Anh P, Z không quan tâm chia sẻ về cả đời sống tinh thần và kinh tế chung của gia đình. Anh chị đã nhiều lần tìm cách nói chuyện để hàn gắn tình cảm, với mong muốn tìm được tiếng nói chung trong cuộc hôn nhân nhưng không thành. Hiện nay, nhận thấy tình trạng hôn nhân đã rất trầm trọng, khả năng đoàn tụ là không thể nên chị Phạm Huy H đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn anh P,zhenchao để chị sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh chị không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Phạm Huy H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn là anh P, Z hiện đang ở Trung Quốc: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền tại Trung Quốc để tống đạt các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thời gian mở phiên tòa cho anh P, Z. Ngày 04 tháng 9 năm 2024, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã nhận được công văn số 2478/BTP-PLQT ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Bộ Tư pháp trả lời về kết quả uỷ thác đối với anh P, Z. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Trung Quốc đã thực hiện uỷ thác tư pháp cho anh P, Z vào ngày 01/7/2024 bằng phương thức: Tống đạt hồ sơ trực tiếp cho đương sự. Đến nay Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng vẫn chưa nhận được văn bản nào của anh P, Z trình bày quan điểm, ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Huy H.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Phạm Huy H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh P, Z vắng mặt nhưng đã được ủy thác tư pháp tống đạt theo quy định. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 9, 14, 51, 53, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Huy H: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Huy H được ly hôn anh P, Z; về con chung và tài sản chung: Chị Phạm Huy H và anh P, Z không có và không yêu cầu nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết. Về án phí và các chi phí khác: Chị Phạm Huy H phải chịu án phí, và các chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp về ly hôn. Nguyên đơn chị Phạm Huy H hiện đang sinh sống tại Hải Phòng và bị đơn anh P, Z hiện đang sinh sống tại Trung Quốc, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Phạm Huy H vắng mặt tại phiên tòa và có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh P, Z mặc dù đã được Tòa án thực hiện việc ủy thác tư pháp để tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Huy H và anh P, Z theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, khoản 3 Điều 474 và điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ Luật Tố tụng dân sự.

[3] Về thủ tục tống đạt cho bị đơn: Theo địa chỉ mà chị Phạm Huy Hoàng cung c, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền tại Trung Quốc để tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo thời gian tiến hành phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo thời gian mở phiên tòa cho anh P, Z. Ngày 04 tháng 9 năm 2024, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã nhận được công văn số 2478/BTP-PLQT ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Bộ Tư pháp trả lời về kết quả uỷ thác đối với anh P, Z. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Trung Quốc đã thực hiện uỷ thác tư pháp cho anh P, Z vào ngày 01/7/2024 bằng phương thức: Tống đạt hồ sơ trực tiếp cho đương sự. Đến ngày mở phiên họp, phiên tòa anh P, Z vẫn vắng mặt và cũng không cung cấp quan điểm, ý kiến về việc giải quyết vụ án cho Toà án. Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P, Z là có căn cứ.

Về nội dung:

[4] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Phạm Huy H và anh P, Z kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại Cục Dân chính huyện V theo giấy chứng nhận kết hôn số J350525-2018-000023 ngày 26/9/2018. Ngày 09/10/2023, ghi chú kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị Phạm Huy H khai nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị và anh P, Z do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không còn tình cảm, anh chị đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Huy H và anh P, Z mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ, căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Huy H, cho chị được ly hôn với anh P, Z là có căn cứ theo quy định.

[5] Về con chung: Theo lời khai của chị Phạm Huy H giữa chị và anh P, Z không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[6] Về tài sản chung: Chị Phạm Huy H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Huy H là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về phí ủy thác tư pháp: Chị Phạm Huy H phải chịu phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 151, Điều 152, Điều 153, Điều 154, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 470, khoản 3 Điều 474, điểm a khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào 9, 14, 51, 53, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Huy H:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Huy H được ly hôn anh P, Z.
  2. Về con chung: Chị Phạm Huy H và anh P, Z không có con chung nên không xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Chị Phạm Huy H không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

    Chị Phạm Huy H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng trừ đi số tiền tạm ứng án dân sự sơ thẩm chị Phạm Huy H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo 0000276 ngày 06 tháng 11 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Huy H đã nộp đủ tiền án phí.

  5. Về phí ủy thác tư pháp:
    1. Chị Phạm Huy H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) phí ủy thác tư pháp để tống đạt Văn bản tố tụng của tòa án cho anh P, Z, được trừ số tiền tạm ứng lệ phí 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0000346 ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng;
    2. Chị Phạm Huy H còn phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng chi phí ủy thác để tống đạt bản án cho anh P, Z.
  6. Về quyền kháng cáo:

    Chị Phạm Huy H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

    Anh P, Z được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Cục dân chính huyện Vĩnh Xuân, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Vân Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 242/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Huy H - Pan, ZHENCHAO Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger