|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 242/2024/HS-PT Ngày: 11 – 9 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Thẩm phán: Ông Lê Khắc Thịnh.
Ông Sỹ Danh Đạt.
- Thư ký phiên tòa:
Ông Lê Thái Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 201/2024/TLPT-HS ngày 21/8/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Thanh T (Tú Đ), sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Sửa xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1967 (còn sống) và con bà Đào Thị H, sinh năm 1968 (còn sống); có vợ và có 01 con;
Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án, ngày 01/7/2022 bị Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 31/7/2022;
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 17/9/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2019 (đã xóa án tích). Ngày 25/12/2020, bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện C xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ”, đã chấp hành nộp phạt vào ngày 07/5/2021.
Tạm giữ: Ngày 10/11/2023.
Tạm giam: Ngày 17/11/2023.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Hồng H1, Nguyễn Khắc K và các bị hại Trần Văn B1, Trần Văn D, Nguyễn Hùng E, Tôn Thanh H2, Trần Thị Bích N, Nguyễn Ngọc N1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Thu T1 không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Nguyễn Hồng H1 và Nguyễn Thanh T là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Khoảng 01 giờ, ngày 10/11/2023, trong lúc đang ở nhà của mình tại khóm D, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, H1 sử dụng điện thoại Nokia màu đen gọi rủ T đi bắt trộm chó thì được T đồng ý. Trước khi đi, H1 tự chuẩn bị mang theo chỉa tự chế được kết nối với đoạn dây điện dài 06m, dùng để bắn chó và nhiều túi nylon màu đen sử dụng để đựng chó khi bắt được. T tự chuẩn bị mang theo 01 súng chỉa tự chế kết nối với hệ thống điện của bình ắc - quy dùng để bắn chó. Ngoài ra, H1 và T còn mang theo 02 nạn ná bằng gỗ, nhiều viên đá sử dụng làm đạn cho nạn ná, 01 bình xịt hơi cay và 01 dao bấm bằng kim loại, mục đích sử dụng để chống trả khi bị phát hiện, truy đuổi.
Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, H1 điều khiển xe mô tô gắn biển số 66M1-486.73 đến nhà của T tại ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để rước T. Sau đó, H1 điều khiển xe chở T ngồi sau cầm dụng cụ, đi dọc theo các tuyến đường từ xã P, huyện C đến huyện T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để tìm bắn chó. Đến 06 giờ 40 phút cùng ngày, khi các bị cáo đi đến khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thì bị lực lượng Công an huyện T tuần tra phát hiện bắt giữ. Tại thời điểm bị bắt giữ, H1 đã điều khiển xe để T trực tiếp bắn trộm được tổng cộng 07 con chó của người dân, cụ thể như sau:
- Con chó thứ nhất: Màu lông đen, cân nặng 19,9kg, chưa xác định được chủ sở hữu, ở đoạn đường cách chợ xã P, huyện C khoảng hơn 01km.
- Con chó thứ hai: Màu lông vàng - đen, cân nặng 11,9kg của ông Trần Văn B1 tại tuyến đường nhựa nông thôn thuộc ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Con chó thứ ba: Màu lông trắng - vàng, cân nặng 11,2kg của ông Trần Văn D tại tuyến đường nhựa nông thôn thuộc ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Con chó thứ tư: Màu lông đen - vàng, cân nặng 16,1kg của ông Tôn Thanh H2 tại tuyến đường nhựa nông thôn thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Con chó thứ năm: Màu lông vàng, cân nặng 9,7kg của bà Trần Thị Bích N tại tuyến đường nhựa nông thôn thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Con chó thứ sáu: Màu lông đen - trắng, cân nặng 10,6kg của bà Nguyễn Ngọc N1 tại tuyến đường nhựa nông thôn thuộc ấp D, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Con chó thứ bảy: Màu lông vàng, cân nặng 12,3kg của ông Nguyễn Hùng E tại tuyến đường nhựa nông thôn thuộc ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 45/KLĐG ngày 14/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, 07 con chó có đặc điểm nêu trên có tổng giá trị là 3.668.000 đồng.
Quá trình điều tra, từ lời tự nguyện khai nhận của bị cáo H1, Cơ quan điều tra chứng minh được với thủ đoạn như trên, vào ngày 08/11/2023 các bị cáo đã thực hiện hành vi bắt trộm 04 con chó của người dân trên địa bàn từ xã H đến thị trấn M, huyện T nhưng đến nay chưa xác định được chủ sở hữu. Các con chó này, các bị cáo đem đến quán “9999” (chuyên bán thức ăn từ thịt chó, mèo) thuộc khóm C, thị trấn M, huyện T bán cho bị cáo Nguyễn Khắc K. Bị cáo K trong lúc xem các con chó phát hiện đều đã chết, có dấu vết bị bắn và trên xe của các bị cáo có dụng cụ bắn trộm chó nên biết rõ các con chó này là do trộm cắp mà có nhưng vì ham lợi, bị cáo vẫn đồng ý mua với giá 40.000 đồng/kg. Bị cáo K trực tiếp cân xác định tổng trọng lượng của 04 con chó là 45kg và kêu bà Nguyễn Thị Thu T1 (vợ bị cáo) đưa số tiền 1.800.000 đồng để trả cho H1 và T.
Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận tại thời điểm bị chiếm đoạt thì 04 con chó trọng lượng 45kg, có tổng giá trị là 1.800.000 đồng.
Ngoài ra, các bị cáo T và H1 còn khai nhận, ngoài hai lần phạm tội nêu trên, các bị cáo còn 02 lần bắn trộm chó của người dân đem về bán cho bị cáo K nhưng không xác định được thời gian, địa điểm cũng như số lượng, trọng lượng các con chó và số tiền mua bán vì thời gian đã lâu.
Về vật chứng, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ và xử lý:
- 07 con chó có đặc điểm, trọng lượng như đã nêu trên. Cơ quan điều tra đã xử lý bằng hình thức tiêu hủy theo quy định.
- Giữ của Nguyễn Hồng H1 gồm: 01 túi đeo chéo màu nâu có chữ Hermes; 01 nạn ná bằng gỗ, thun màu xanh; 01 bình xịt hơi cay màu vàng đen; 03 túi ny lon màu đen; 01 dao bấm bằng kim loại màu xanh đen dài 24cm, lưỡi dao dài 10cm; 02 cuộn băng keo màu đen; 16 viên đá màu xanh; 01 mũi chỉa tự chế dài 50cm được gắn dây điện màu đỏ - đen dài 06m; 01 nón bảo hiểm màu bạc, có chữ NÓN SƠN; 01 áo khoác màu đen, trên ngực phải có một logo hình tròn, màu xanh đỏ đen trắng có chữ VOGUE STYLE; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô biển số 66M1 - 486.73, số máy 1S92012036, số khung RLCE1S9206Y0120236.
Xe mô tô trên, H1 khai mua lại của người khác nhưng chưa sang tên. Kết quả xác minh xác định được bà Đinh Thị S là người đứng tên đăng ký xe. Tuy nhiên, hiện tại bà S đã không còn cư trú tại địa phương, không rõ hiện cư trú ở đâu nên không làm việc được để xác định có liên quan đến việc mất trộm hay không. Do đó, Cơ quan điều tra đã chuyển xe này để Công an huyện T tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
- Giữ của Nguyễn Thanh T: 01 túi xách màu đen có chữ PRADA; 01 nạn ná bằng gỗ, thun màu xanh; 01 bình ắc quy màu cam nhãn hiệu GLOBE, có dây điện màu xanh; 01 tua - vít màu xanh đen; 01 cuộn băng keo đen; 01 bộ kích điện màu trắng được quấn băng keo đen có dây điện gắn với phích cắm điện và 01 ổ cắm điện; 01 súng chỉa dài 35cm, bá súng bằng gỗ dài 11cm, bên trên có gắn ống tròn bằng kim loại dài 07cm, đường kính 02cm; 01 mũi chỉa tự chế dài 50cm, trong đó phần mũi bằng kim loại có hai đầu nhọn dài 09cm, phần thân bằng gỗ dài 41cm, đường kính 1,5cm, có gắn dây điện màu đỏ - đen dài 5,5m; 12 viên đá màu xanh; 01 áo khoác màu đen, có chữ XISAMA màu trắng.
- Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại yêu cầu các bị cáo Nguyễn Hồng H1 và Nguyễn Thanh T liên đới bồi thường giá trị các con chó bị mất trộm theo Kết luận định giá tài sản. Các bị cáo thống nhất bồi thường và đã tác động các gia đình nộp số tiền 2.872.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười để bồi thường thiệt hại.
Trong quá trình điều tra vụ án, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 19/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng H1 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/11/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bổ sung bằng tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đối với bị cáo Nguyễn Hồng H1, buộc bị cáo Nguyễn Hồng H1 phải nộp để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/11/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bổ sung bằng tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đối với bị cáo Nguyễn Thanh T, buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khắc K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khắc K 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 19/7/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Khắc K cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92, Điều 93 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) đối với bị cáo Nguyễn Khắc K, buộc bị cáo Nguyễn Khắc K phải nộp để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và nêu quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đến ngày 31/7/2024, bị cáo Nguyễn Thanh T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt chính và hình phạt bổ sung.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là nặng, nên bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt chính là tù và xin giảm nhẹ hình phạt bổ sung là tiền.
Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm, phân tích các tình tiết và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đánh giá kết quả xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và khẳng định việc Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan, sai. Kiểm sát viên nhận định bị cáo có nhân thân không tốt, đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có xét đến nhân thân va các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo, nên hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T là phù hợp với pháp luật, bị cáo T kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt chính và hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
Tại phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Thanh T không tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Vào các ngày 08 và 10/11/2023, bị cáo Nguyễn Thanh T cùng với Nguyễn Hồng H1 đã nhiều lần thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô dọc theo các tuyến đường từ huyện C đến huyện T, tỉnh Đồng Tháp để bắn trộm chó của người dân. Trong đó, lần trộm ở ngày 08/11/2023 giá trị tài sản trộm được là 1.800.000 đồng; lần trộm vào ngày 10/11/2023 tài sản trộm có giá trị là 3.668.000 đồng. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong khi đang mang tiền án chưa được xoá án tích. Vì vậy, hành vi của bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động vất vả, bị cáo đã trộm cắp tài sản của người khác. Bị cáo có nhân thân rất xấu: Ngày 17/9/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2019 (đã xóa án tích). Ngày 25/12/2020, bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện C xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ”, đã chấp hành việc nộp phạt vào ngày 07/5/2021. Ngày 01/7/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 31/7/2022, vẫn chưa được xoá án tích. Xét thấy, bị cáo đã từng bị xét xử, kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không biết ăn năn hối cải, vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản”, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là rất kém, các lần cải tạo, giáo dục bị cáo trước đây không hiệu quả, nên lần phạm tội này cần có thời gian cải tạo, giáo dục dài hơn đối với cho bị cáo là phù hợp. Bên cạnh đó, xét thấy hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và bị cáo kháng cáo nhưng tại phiên toà phúc thẩm không phát sinh các tình tiết giảm nhẹ khác với các tình tiết giảm nhẹ mà Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt chính và giảm nhẹ hình phạt bổ sung của bị cáo Nguyễn Thanh T, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
[3] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[4] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt chính và hình phạt bổ sung của bị cáo Nguyễn Thanh T.
Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh T.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 10/11/2023).
Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bổ sung bằng tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đối với bị cáo Nguyễn Thanh T, buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |
Bản án số 242/2024/HS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 242/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T
