Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 11/8/2023

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định.

Ông Nguyễn Đức Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 92/2023/TLST-HNGĐ ngày 08/3/2023, về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 162/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1999,

ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu dân cư K, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Người được chị P ủy quyền về việc giao nhận văn bản: Chị Vũ Thị C, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

2. Bị đơn: Anh Đinh Đức H, sinh năm 1998,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu dân cư K, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Cộng hòa Séc.

Người được anh H ủy quyền về việc giao nhận văn bản: Anh Đặng Thái L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Các đương sự vắng mặt và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích P trình bày: Chị và anh Đinh Đức H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương ngày 13/02/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì anh H quay trở lại Cộng hòa S để làm việc. Thời gian đầu anh chị vẫn liên lạc, hỏi han, quan tâm đến nhau. Đến tháng 7/2022 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do mỗi người sống một nơi, vợ chồng có thời gian gần nhau quá ngắn nên không hiểu rõ tính cách của nhau, mỗi khi liên lạc vợ chồng lại bất đồng quan điểm, cãi vã xích mích, con chung chưa có nên không có sự ràng buộc, gắn bó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đinh Đức H.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị P xác định vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung cũng như không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị P bận công việc nên chị ủy quyền cho chị Vũ Thị C thay chị giao, nhận các văn bản, tài liệu tại Tòa án, đồng thời đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Tại các bản khai anh Đinh Đức H trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Bích P có quan hệ hôn nhân như chị P trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại gia đình anh. Vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì anh trở lại Cộng hòa Séc làm việc, thời gian đầu anh chị có liệc lạc với nhau, đến tháng 7/2022 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính cách và lối sống không hợp nhau, vợ chồng mỗi người ở một nước khác nhau nên không có sự gần gũi, gắn bó, chia sẻ. Mỗi lần gọi điện vợ chồng lại xảy ra cãi nhau, mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị P có đơn xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh nhất trí ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Anh xác định vợ chồng không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh H đang làm việc tại Cộng hòa S nên anh ủy quyền cho anh Đặng Thái L thay anh giao, nhận các văn bản, tài liệu tại Tòa án, đồng thời đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Người được chị P và anh H ủy quyền về việc giao, nhận văn bản tố tụng tại Tòa án - chị Vũ Thị C và anh Đặng Thái L trình bày: Anh, chị nhất trí nhận ủy quyền của chị P, anh H; sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, anh, chị đã thông báo cho chị P, anh H biết, chị Nguyễn Thị Bích P vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị được ly hôn, anh Đinh Đức H nhất trí ly hôn và đề nghị được giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Bích P ly hôn anh Đinh Đức H. Về con chung, tài sản chung: Không có. Chị P phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích P hiện đang sinh sống ở Việt Nam; bị đơn anh Đinh Đức H có nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại khu dân cư K, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, hiện anh đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Séc. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Mặc dù anh H không có mặt ở Việt Nam nhưng anh đã làm bản tự khai, đơn xin giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho anh Đặng Thái L thay anh giao, nộp tại Tòa án. Đơn của anh đã được Tòa án trưng cầu giám định, tại Kết luận giám định của phòng K Công an tỉnh H kết luận dấu vân tay in trong các tài liệu do anh gửi về so với dấu vân tay in trong căn cước công dân đứng tên anh H là của cùng một người. Do vậy, có đủ cơ sở khẳng định quan điểm ly hôn của chị là hoàn toàn tự nguyện. Các đương sự đều có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích P và anh Đinh Đức H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành

phố H, tỉnh Hải Dương ngày 13/02/2020 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 7/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do khoảng cách về địa lý khiến anh chị không có sự gần gũi, chia sẻ, hơn nữa vợ chồng chưa có con chung nên cũng không có sự ràng buộc, gắn bó. Vợ chồng sống ly thân từ lâu, không ai quan tâm đến ai, mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Chị P có đơn xin ly hôn, anh H cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nhất trí ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị P được ly hôn anh H.

[2.2] Về quan hệ con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị P, anh H cùng xác định vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích P phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích P.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Bích P ly hôn anh Đinh Đức H.
  2. Về quan hệ con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được đối trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu số AA/2021/0003966 ngày 07 tháng 3 năm 2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (do chị Vũ Thị C nộp thay). Chị P đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Bích P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Anh Đinh Đức H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242/2023/HNGĐ-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 242/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Bích P xin ly hôn anh Đinh Đức H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger