Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 244/2024/HNGĐ-ST

Ngày 06-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Xuân Quyết;

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân

thành phố Hải Phòng.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 217/2024/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Lê C, sinh năm 1962; ĐKHKTT: Số F, đường H, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú: AM VÖGENTEICH 16-18057 ROSTOCK, Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Trần Thị Bích H, sinh năm 1976; hiện cư trú: AM VÖGENTEICH 16-18057 ROSTOCK, Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/7/2024 và các bản tự khai đề ngày 24/7/2024 và 26/7/2024, nguyên đơn (anh Hoàng Lê C) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Bích H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Đ1 tại B, Cộng hòa liên bang Đ vào ngày 21/01/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống và lối sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Vì vậy anh và chị H cùng thống nhất giải quyết ly hôn để hai bên ổn định cuộc sống.

Về con chung: Có một con chung là Hoàng Ngọc Phương V, sinh ngày 11/8/2008. Anh và chị H thỏa thuận giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị H tự thỏa thuận và tự giao cho nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Vợ chồng anh chị không tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin ly hôn và bản tự khai đề ngày 08/7/2024 (đã được Đại sứ quán Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đ hợp pháp hóa lãnh sự) bị đơn là chị Trần Thị Bích H trình bày: Thống nhất với anh Hoàng Lê C về thời gian kết hôn, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và chị cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Lê Cương.

Về con chung: Có một con chung là Hoàng Ngọc Phương V, sinh ngày 11/8/2008. Chị và anh C thỏa thuận giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh C tự thỏa thuận và tự giao cho nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Chị và anh C không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn đề nghị của gia đình anh Hoàng Lê C (bà Hoàng Thị V1 - là chị ruột anh C) xác nhận: Anh C và chị H xây dựng hạnh phúc trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đ nhưng do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và lối sống nên có đơn ly hôn. Vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho anh C và chị H được ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Có một con chung là Hoàng Ngọc Phương V, sinh ngày 11/8/2008. Sau khi ly hôn đề nghị Tòa án giao cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng con cho đến khi trưởng thành hoặc khi có yêu cầu khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh C và chị H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh C và chị H không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Anh Hoàng Lê C hiện đang cư trú tại địa chỉ: AM VÖGENTEICH 16-18057 ROSTOCK, Cộng hòa liên bang Đ và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Trần Thị Bích H, hiện đang cư trú tại địa chỉ: AM VÖGENTEICH 16-18057 ROSTOCK, Cộng hòa liên bang Đ. Anh C và chị H thống nhất lựa chọn Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn (anh C) và bị đơn (chị H) vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh C và chị H.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh C và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Đ1 tại B, Cộng hòa liên bang Đ vào ngày 21/01/2016. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị H là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện trong thời gian chung sống giữa anh C và chị H phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều khác biệt về quan điểm sống. Vợ chồng hiện nay đang sống ly thân, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên anh C và chị H đều có đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn để hai bên ổn định cuộc sống.

[5] Xét thấy, anh C và chị H đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Anh C xin ly hôn và chị H cũng có đơn ly hôn nêu ý kiến đồng ý giải quyết ly hôn với anh C. Do đó, có cơ sở để xác định cuộc sống chung giữa anh C và chị H không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C. Xử cho anh C được ly hôn với chị H.

[6] Về con chung: Anh C và chị H có một con chung là Hoàng Ngọc Phương V, sinh ngày 11/8/2008. Ly hôn, hai bên thống nhất thỏa thuận giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thỏa thuận của anh C và chị H là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định pháp luật. Do đó chấp nhận đề nghị của chị H; giao cháu Hoàng Ngọc Phương V cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh C và chị H đều không yêu cầu Toà án phải giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về tài sản chung: Anh C và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết nên không xem xét.

[9] Về án phí: Anh Hoàng Lê C là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét nguyên đơn là người cao tuổi và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo của các đương sự: Anh C và chị H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Lê C, cụ thể:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Lê C được ly hôn với chị Trần Thị Bích H.
  2. Về con chung: Giao con là Hoàng Ngọc Phương V, sinh ngày 11/8/2008 cho chị Trần Thị Bích H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo qui định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con do anh C và chị H không có yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Anh C và chị H không có yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Nguyên đơn (anh Hoàng Lê C) được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo của các đương sự: Anh Hoàng Lê C và chị Trần Thị Bích H đều được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Lãnh sự quán Việt Nam tại
  • Cộng hoà liên bang Đức;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Quang Kiên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Luyến

Đỗ Xuân Quyết

Vũ Thị Thanh Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 244/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 244/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger