|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 242/2025/HS-PT Ngày: 15 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Bùi Thị Thu |
| Các Thẩm phán: | Bà Phạm Thị Duyên |
| Ông Cao Văn Tám |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 31 tháng 3 và 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1044/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Đinh Kim Á do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 549/2023/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Đinh Kim Á; giới tính: nữ; sinh ngày 24 tháng 8 năm 1956, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: F P, Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa:12/12; con ông Đinh Văn B (chết) và bà Trần Thị C (chết); chồng: Huỳnh Vân Đ và có 02 người con (lớn sinh năm 1976, nhỏ sinh năm 1979); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/3/2021; có mặt.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Lê Thị Ánh T, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.
- Người bào chữa do bị cáo mời: Luật sư Âu Gia V, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; Vắng mặt ngày 31/3; có mặt ngày 15/4.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim Q, sinh năm 1952, nơi cư trú: A N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt ngày 31/3; có mặt ngày 15/4.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị Kim Q:
Luật sư Vương Xuân K, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt ngày 31/3; vắng mặt ngày 15/4.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1951; nơi cư trú: 43 lô A chung cư H đường S, Phường A, Quận A; Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt ngày 31/3; có mặt ngày 15/4
Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH S (Công ty S) trụ sở tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Huỳnh Vân Đ làm Giám đốc – đại diện theo pháp luật. Đinh Kim Á là vợ của ông Huỳnh Vân Đ.
Khoảng năm 2005, thông qua giới thiệu của Nguyễn Văn H, Đinh Kim Á gặp bà Nguyễn Thị Kim Q và đề nghị bà Q cùng góp vốn thực hiện dự án chung cư cao tầng tại phường H, Quận A. Ánh cho bà Q xem bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00829 và 00768 do U cấp cho ông Nguyễn Văn T1. Theo đó tổng diện tích đất là 7.331m2 đất nông nghiệp. Ánh cho bà Q biết đã mua đất của ông T1 và đang làm thủ tục sang tên, đồng thời đã xin chủ trương của U để làm dự án chung cư cao tầng trên phần đất này. Tin lời Đinh Kim Á, ngày 28/11/2007 bà Q ký hợp đồng (có Công chứng) góp vốn với Công ty Đ2 đại diện (Ánh ký tên là Chủ tịch hội đồng thành viên, theo Biên bản họp hội đồng thành viên của Công ty Đ2 tự lập giả) để làm dự án, tổng vốn góp của dự án là 36.600.000.000 đồng. Bà Q góp 18.300.000.000 đồng (chiếm 50% vốn góp) và đã giao cho cho Á nhiều lần sô tiền tổng cộng 12.470.000.000 đồng. Sau khi giao tiền bà Q không thấy dự án thực hiện và Á cũng không trả lại tiền đã nhận cho bà Q nên ngày 12/4/2019, bà Nguyễn Thị Q làm đơn tố cáo Đinh Kim Á đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Kết quả điều tra xác định:
Về việc mua bán đối với lô đất thuộc các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00829 và 00768 của ông Nguyễn Văn T1:
- - Ngày 12/3/2001, vợ chồng Á mua của ông Nguyễn Văn T1 (bằng giấy tay) chưa làm thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật.
- - Ngày 22/3/2001, vợ chồng Á bán một phần đất (bằng giấy tay) cho bà Hoàng Thị X có diện tích 1.640m2. Tuy nhiên do vợ chồng Á chưa trả đủ tiền mua đất trước đó cho ông T1 nên ngày 26/3/2001, bà X đã trực tiếp ký hợp đồng mua bán đất với ông T1 và đã trả tiền cho ông T1.
- Ngày 27/6/2001, vợ chồng bà Á tiếp tục (bán giấy tay) diện tích đất còn lại 4.525m2 cho bà X. Nhưng do vợ chồng bà Á chưa trả hết tiền mua đất cho ông T1 nên ngày 28/6/2001, bà X trực tiếp ký hợp đồng với ông T1 để mua diện tích đất này.
- Sau đó giữa bà X và vợ chồng Á phát sinh tranh chấp về việc mua đất của ông T1 cho đến năm 2011, bà X khởi kiện vợ chồng bà Á ra Tòa dân sự Quận A giải quyết.
- Ngày 17/8/2015, Tòa án Quận 12 quyết định công nhận thỏa thuận bà X nhận 2.500m2, vợ chồng bà Á nhận 3.699m2.
- Ngày 13/4/2016, Ủy ban nhân dân Quận U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07491 đối với lô đất 3.699m2 nêu trên cho ông Huỳnh Vân Đ (chồng Á). Trong năm 2016, ông Đ đã bán lô đất này cho người khác.
Kết quả xác minh tại Sở quy hoạch kiến trúc Thành phố H:
- Ngày 10/12/2006, ông Huỳnh Vân Đ gửi đơn đến Sở quy hoạch kiến trúc Thành phố H xác minh quy hoạch các thửa đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00768 số 00829.
- Ngày 29/12/2006, Sở quy hoạch kiến trúc Thành phố H có Công văn số 3942/SQHKT-QHC&HT phúc đáp: Các lô đất trên được Bộ X1 quy hoạch khu công nghiệp T, diện tích 215,4ha, đã xây dựng 29ha; diện tích còn lại, UBND Thành phố H có chủ trương không xây dựng nữa; tuy nhiên, việc điều chỉnh ranh giới và giảm quy mô khu công nghiệp đang thực hiện và chưa được phê duyệt.
- Ngày 15/5/2007, Sở quy hoạch kiến trúc Thành phố H có Công văn số 3942/SQHKT - QHKV2 trả lời ông Đ, bà Á như sau: Căn cứ quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/2000 (Quy mô 457 ha) khu dân cư C, phường H đã được UBND Thành phố H phê duyệt, vị trí khu đất nêu trên thuộc khu vực quy hoạch khu Công nghiệp tập trung Tân Thới Hiệp (215,4 ha). U đã chỉ đạo Ban quản lý các khu Công nghiệp - khu Chế xuất Thành phố (Hepza) phối hợp với các sở, ngành có liên quan và U lập hồ sơ điều chỉnh quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/2000 thuộc khu Công nghiệp T, phường H, Quận A theo hướng giảm quy mô diện tích còn 29 ha đất Công nghiệp tập trung để trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định và UBND Thành phố H phê duyệt, làm cơ sở thẩm định và phê duyệt điều chỉnh khu dân cư C, phường H, Quận A.
Xác minh tại Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H:
- Ngày 12,14,16 và 19/3/2007, ông Huỳnh Vân Đ và bà Đinh Kim Á có đơn gửi Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đề nghị có ý kiến về thửa đất do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00768 và số 00829 có nằm trong phạm vi quy hoạch khu Công nghiệp P không.
- Ngày 29/3/2007, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H có Công văn
số 2287/TNMT-QHSDĐ xác định: Dự án khu Công nghiệp phường H chưa được UBND Thành phố H thu hồi, giao đất để triển khai dự án và cũng chưa lập thủ tục thu hồi, giao đất tại Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Không có căn cứ xác định đất của ông Nguyễn Văn T1 nằm trong hay ngoài đất dự án.
Kết quả xác minh tại U xác định:
- Từ năm 2001 đến tháng 5/2019 U không giải quyết hồ sơ nào về xin chủ trương đầu tư xây dựng dự án chung cư cao tầng tại phường H, Quận A.
- Căn cứ các hợp đồng mua bán đất giấy tay và quyết định công nhận thỏa thuận ngày 16/8/2015 của Tòa án nhân dân Quận 12 thì thời điểm ký hợp đồng góp vốn ngày 28/11/2007, lô đất của ông Nguyễn Văn T1 đã được vợ chồng bà Á bán cho bà X một phần và đang có tranh chấp với bà X.
- Ngày 29/3/2007, Sở T có văn bản trả lời bà Đinh Kim Á thể hiện chưa xác định lô đất của ông Nguyễn Văn T1 nằm trong hay ngoài ranh dự án khu công nghiệp P, Quận A; Các ngày 29/12/2006, ngày 04/4/2007, ngày 15/5/2007 Sở quy hoạch kiến trúc Thành phố H có văn bản trả lời ông Huỳnh Văn Đ1 (chồng bà Đinh Kim Á) thể hiện lô đất của ông Nguyễn Văn T1 nằm trong khu quy hoạch khu Công nghiệp T. Do đó, có cơ sở xác định lúc đề nghị bà Q ký hợp đồng góp vốn vào ngày 28/11/2007 thì bà Á đã biết lô đất của ông Nguyễn Văn T1 chưa thể xây dựng dự án chung cư cao tầng; Kết quả xác minh tại U: Từ năm 2001 đến tháng 5/2019 U không giải quyết hồ sơ nào về xin chủ trương đầu tư xây dựng dự án chung cư cao tầng tại phường H, Quận A.
Đinh Kim Á khai nhận tại Cơ quan điều tra:
Á quen biết bà Q thông qua Nguyễn Văn H vào khoảng năm 2005, 2006. Năm 2007, Á dẫn bà Q đến lô đất ở phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và nói với bà Q là muốn xây dựng dự án chung cư cao tầng trên phần đất, Á đang tìm người góp vốn và đề nghị bà Q góp vốn xây dựng dự án chung cư. Á đã đưa cho bà Q 02 (bản phô tô) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00768 và 00829. Bà Q đồng ý góp vốn cùng Á để xây chung cư. Sau đó, Á lên U để hỏi về việc xây dựng dự án tại các thửa đất trên và được trả lời khu đất nằm trong quy hoạch nên không thể thực hiện dự án. Ánh có cho bà Q biết và cả hai thống nhất sẽ không thực hiện dự án này nữa mà chuyển sang dự án tại tỉnh Long An.
Lời khai ban đầu Á xác định số tiền 12.470.000.000 đồng của bà Q góp vốn để xây dựng chung cư ở Quận A, thực tế bà Q chỉ đưa cho Á số tiền 9.870.000.000 đồng và Á đã sử dụng vào các việc sau: Trả nợ cho ông Nguyễn Văn T1 400.000.000 đồng; Đưa cho ông H khoảng 5.000.000.000 đồng để ông H xin cấp phép xây dựng dự án (nhưng không có giấy tờ thể hiện việc đưa tiền); Trả lãi cho bà Q khoảng 2.000.000.000 đồng (tiền lãi từ năm 2005 đến 2007) của khoản tiền 600.000.000 đồng mà Á vay của bà Q ), số tiền còn lại sử dụng vào dự án tại tỉnh Long An. Ông Nguyễn Văn H là người đã soạn thảo Hợp đồng góp vốn ngày 28/11/2007 (có công chứng) và phụ lục Hợp đồng ngày 21/7/2009. Việc bà Q biết được Á chuẩn bị thực hiện dự án chung cư Q là vì Á
đã nhờ ông Nguyễn Văn H làm thủ tục xin dự án và ông Nguyễn Văn H đã nói lại cho bà Q biết.
Bà Nguyễn Thị Kim Q khai:
bà Q quen biết Á thông qua giới thiệu của ông H. Ánh dẫn bà Q đến lô đất vị trí tại phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và nói muốn thực hiện dự án chung cư cao tầng trên lô đất này, đang tìm người góp vốn và đề nghị bà Q góp vốn thực hiện dự án. Á đã đưa cho bà Q xem 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00768 và 00829 (bản phô tô) tên chủ sử dụng là Nguyễn Văn T1 và nói ông T1 đã bán lô đất này cho vợ chồng Á, đang làm thủ tục sang tên nhưng dự án đã được cấp phép. Ngoài ra, Á còn cho bà Q xem các giấy tờ về dự án như bản vẽ, thiết kế, quy hoạch và nhiều tài liệu khác liên quan đến dự án nên bà Q tin tưởng đồng ý ký hợp đồng góp vốn và đã giao cho Á 03 lần tiền tổng cộng 12.470.000.000 đồng. Nhưng chờ lâu không thấy Á dự án thực hiện việc xây chung cư nên bà Q có kiện Á ra Tòa dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để đòi lại số tiền đã góp vốn thì mới biết được không có dự án chưng cư cao tầng nào ở Quận A như Á nói. Về Bản tóm tắt đầu tư dự án thì bà Q khai: trước khi ký hợp đồng góp vốn và nộp tiền thì Á có đưa cho bà Q các tài liệu như: Bản vẽ thiết kế chung cư cao tầng, quy hoạch 1/500,... do đó, trước khi ký hợp đồng góp vốn thì bà Q đưa các tài liệu này nhờ ông H tính toán lập ra Bản tóm tắt chi phí đầu tư dự án để bà Q biết việc lời lỗ, tính khả thi của dự án để góp vốn cùng Á.
Sau khi bà Q có đơn tố cáo hành vi lừa đảo Đinh Kim Á lừa đảo chiếm đoạt tài sản gửi các Cơ quan chức năng thì Á gặp bà Q và đề nghị trả cho bà Q thửa đất số 529, tờ bản đồ số 21 tại ấp S, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, nhưng bà Q không đồng ý vì Á đã thế chấp thửa đất này cho Ngân hàng V1 chi nhánh C1, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Kim Q xác nhận, sau khi bị tố cáo cho đến nay thì Đinh Kim Á đã trả cho bà Q nhiều lần được tổng cộng 4.510.000.000 đồng.
Ông Huỳnh Vân Đ (chồng Đinh Kim Á), đồng thời cũng là người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ3 nhận:
Năm 2006, 2007 ông Đ, bà Á đã gửi đơn lên Sở quy hoạch kiến trúc Thành phố H; Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H xác minh quy hoạch các thửa đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dung đất số 00768 và 00829 và đề nghị có ý kiến về các thửa đất trên có nằm trong phạm vi quy hoạch khu Công nghiệp P hay không và đã được Sở quy hoạch kiến trúc Thành phố H; Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H trả lời các thửa đất trên thuộc khu vực quy hoạch khu Công nghiệp tập trung Tân Thới Hiệp (215,4 ha), chưa được xây dựng dự án nên vợ chồng ông Đ, bà Á không làm các thủ tục để xin dự án xây dựng chung cư tại các thửa đất trên. Ông Đ xác định không biết việc bà Á ký Hợp đồng góp vốn và nhận tiền của bà Q như trên.
Ông Nguyễn Văn H khai nhận:
Khoảng năm 2006, ông H có giới thiệu để bà Q gặp bà Á trao đổi, hợp tác đầu tư dự án ở phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc bà Q thỏa thuận với bà Á như thế nào thì ông H không biết,
không tham gia. Khoảng 6 tháng sau kể từ khi giới thiệu, bà Q nói với ông H là đã đưa rất nhiều tiền cho bà Á để làm dự án. Trong thời gian này bà Q có đưa cho ông H các tài liệu như: Bản photo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên ông Nguyễn Văn T1, bản đánh máy do bà Á soạn có nội dung lô đất của ông T1 đang được đăng bộ sang tên vợ chồng bà Á, các hợp đồng (photo) chưa có ký tên,.. để nhờ ông H lập ra Bản tóm tắt chi phí đầu tư dự án xây dựng chung cư cho bà Q. Ông H thừa nhận Đinh Kim Á có đưa các phiếu thu tiền ngày 30/12/2007, 20/02/2008, 15/4/2008 và nhờ ký vào mục thủ quỹ, kế toán, người lập phiếu (vì Á nói những nhân viên này đi vắng). Ngoài ra, ông H còn khai bà Q có đưa cho H giấy biên nhận số tiền 3.500.000.000 đồng ghi ngày 26/11/2007 đã có ký nhận của bà Á, nhưng do nội dung biên nhận không ghi lý do nhận tiền nên H đã viết lại cho bà Q Biên nhận góp vốn ngày 26/11/2007 với nội dung là nhận tiền góp vốn xây dựng chung cư tại quận A để bà Q đưa cho bà Á ký lại. H xác định không nhận bất cứ khoản tiền nào từ bà Á hoặc bà Q qua sự việc trên.
Kết quả giám định xác định:
- - Con dấu đóng trên các phiếu thu ngày 30/12/2007, 20/02/2008, 15/4/2008, Hợp đồng góp vốn ngày 28/11/2007, phụ lục hợp đồng góp vốn ngày 21/7/2009 là con dấu của Công ty S; Phiếu thu không số ngày 15/4/2008 do Đinh Kim Á ký ở mục giám đốc, Phụ lục hợp đồng góp vốn ngày 21/7/2009 do Đinh Kim Á ký ở mục bên B (Công ty S); không đủ cơ sở xác định chữ ký ở mục giám đốc của các phiếu thu ngày 30/12/2007, 20/02/2008 là của Đinh Kim Á; không đủ cơ sở xác định chữ ký tại mục người nhận của biên nhận góp vốn ngày 26/11/2007 là của Đinh Kim Á.
- - Ngày 16/6/2021, Phân Phòng K1 Công an T2 kết luận giám định file ghi âm do bà Nguyễn Thị Kim Q cung cấp: Nội dung file ghi âm thể hiện cuộc trao đổi về việc xây dựng dự án chung cư tại phường H, Quận A giữa Đinh Kim Á và bà Nguyễn Thị Kim Q. Bản dịch nội dung ghi âm thể hiện Đinh Kim Á nói với bà Q là dự án xây dựng chung cư tại quận A đã có chủ trương, đang xin quy hoạch 1/500, xin phép xây dựng,..
- - Ngày 27/9/2023, Phân viện khoa học hình sự Bộ C2 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận giám định: “…..
- Hình dấu tròn có nội dung: “Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu tròn có cùng nội dung của “Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 là do cùng một con dấu đóng ra.
- Chữ ký đứng tên Đinh Kim Á dưới mục: “Các thành viên cùng thống nhất ký tên” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Đinh Kim Á trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M6 đến M13 là do cùng một người ký ra. ...".
Về số tiền Đinh Kim Á đã nhận của bà Nguyễn Thị Kim Q:
Lời khai ban đầu Đinh Kim Á khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và số tiền đã chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Kim Q là 12.470.000.000 đồng, nhưng sau đó Á thay đổi lời khai chỉ thừa nhận có nhận của bà Q số tiền 1.350.000.00 đồng theo phiếu thu ngày 15/4/2008 và xác định đó là tiền trả nợ vay. Tuy nhiên, căn cứ lời khai nhận ban đầu của Đinh Kim Á, phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Thị Kim Q, phù hợp với Hợp đồng góp vốn ngày 28/11/2007 và phụ lục hợp đồng góp vốn ngày 21/7/2009; phù hợp với kết quả giám định các tài liệu chứng cứ có liên quan. Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát xác định Đinh Kim Á đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Kim Q 12.470.000.000 đồng như đã nêu trên.
Riêng đối với giấy biên nhận góp vốn ngày 26/11/2007 thể hiện nội dung Đinh Kim Á nhận 3.500.000.000 đồng để góp vốn xây dựng chung cư tại Quận A. Tuy nhiên, kết quả giám định không đủ cơ sơ kết luận chữ ký nhận tiền là của Đinh Kim Á, Á không thừa nhận nhận khoản tiền này, không có chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát xác định không có cơ sở quy buộc Đinh Kim Á chiếm đoạt 3.500.000.000 đồng như bà Q tố cáo.
Sau khi bị bà Nguyễn Thị Kim Q tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đến Cơ quan có thẩm quyền thì Đinh Kim Á đã nhiều lần trả lại cho bà Q tổng số tiền là 4.510.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 373/CT-VKS-P3 ngày 15/7/2021, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: bị cáo Đinh Kim Á về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với ông Huỳnh Vân Đ, ông Huỳnh Đức H1 là giám đốc Công ty S (qua các thời kỳ) nhưng không biết việc Á tự ý sử dụng pháp nhân, con dấu của Công ty Đ4 lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Q nên không có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự về vai trò giúp sức.
Đối với ông Nguyễn Văn H có hành vi lập bản tóm tắt dự án; ký giả chữ ký các nhân viên của Công ty Đ5 các phiếu thu tiền theo yêu cầu của Á; viết giấy biên nhận góp vốn ngày 26/11/2007 cho bà Q. Tuy nhiên, quá trình điều tra không phát hiện chứng cứ ông H biết hoặc cùng với Á lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Q nên không có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự Nguyễn Văn H.
* Tại bản án số 549/2023/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đinh Kim Á 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/3/2021.
Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc bị cáo Đinh Kim Á bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim Q số tiền 7.960.000.000 (bảy tỷ chín trăm sáu mươi triệu) đồng. Việc thực hiện sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về việc thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 27/11/2023, bị cáo Đinh Kim Á kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Tại phiên tòa phúc thẩm:
1. Phần xét hỏi:
Bị cáo Đinh Kim Á thay đổi nội dung kháng cáo từ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt sang kháng cáo kêu oan và trình bày: Bị cáo có ký hợp đồng hợp tác góp vốn xây dựng chung cư tại phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh với bà Q. Trong quá trình thực hiện dự án, bị cáo và bà Q đã nhờ ông H đứng ra làm thủ tục giấy tờ nhưng không được cấp giấy phép. Thực tế, bị cáo chưa nhận tiền gì của bà Q và không có giấy tờ gì thể hiện bị cáo đã nhận tiền của bà Q. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại trong sạch cho bị cáo.
2. Phần tranh luận:
2.1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
2.1.1. Về tố tụng:
Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Kim Á nằm trong hạn nên cần xem xét theo quy định pháp luật.
2.1.2.Về nội dung:
Căn cứ hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng và các chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện: Thời điểm ký hợp đồng góp vốn, bị cáo chưa được công nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất này mới có giấy tờ mua bán viết tay, bị cáo biết vị trí mảnh đất mà do ông T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đủ điều kiện để thực hiện dự án nhưng bị cáo vẫn che giấu thông thông tin, bị cáo sử dụng pháp nhân của Công ty Đ4 ký kết hợp đồng với bà Q, làm giấy biên nhận tiền để lừa tiền của bị hại Q nhằm chiếm đoạt tài sản, số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 12.470.000.000 đồng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo kêu oan nhưng không cung cấp tình tiết, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2.2. Phần tranh tụng của bị cáo Đinh Kim Á và người bào chữa cho bị cáo Đinh Kim Á:
- - Luật sư Âu Gia V bào chữa cho bị cáo Đinh Kim Á trình bày: Trong số các biên nhận tiền được thu thập trong quá trình điều tra, có hai biên nhận không
- có chữ ký của bị cáo, do vậy cần phải làm rõ thực tế số tiền mà bị cáo bị quy kết chiếm đoạt của bị hại. Ngoài ra, việc bị cáo tiếp xúc làm việc với bị hại trên cơ sở sự giới thiệu của ông Nguyễn Văn H, ông H cũng là người soạn thảo hợp đồng, thực tế là người nhận tiền của bị cáo (05 tỷ đồng) để làm thủ tục cho dự án, làm các giấy biên nhận tiền nên việc không xem xét trách nhiệm của ông H trong vụ án cũng là thiếu sót trong việc điều tra. Ngoài ra, giao dịch hợp tác đầu tư giữa bị cáo và bị hại thực tế là giao dịch dân sự, giữa hai bên có tranh chấp từng được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Do vậy, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.
- - Luật sư Lê Thị Ánh T bào chữa cho bị cáo Đinh Kim Á trình bày: đồng ý lời bào chữa của luật sư V và không bổ sung gì.
- - Bị cáo Đinh Kim Á đồng ý lời bào chữa và không bổ sung gì.
2.3. Bị hại Nguyễn Thị Kim Q trình bày:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là không đúng sự thật nhằm chối tội. Bản án sơ thẩm sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ và đúng pháp luật, không oan. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2.4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H trình bày:
Không đồng ý với quan điểm của luật sư bào chữa, thực tế ông không hỗ trợ bị cáo, không nhận bất kỳ lợi ích nào. Bản án sơ thẩm sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ và đúng pháp luật, không oan. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2.5. Đại diện Viện kiểm sát, luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
3. Phần bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo bị oan, bị cáo không nhận bất cứ khoản tiền nào của bà Q. Kính mong Hội đồng xem xét để trả lại trong sạch của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Kim Á làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Qua xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Đinh Kim Á không thừa nhận hành vi phạm tội của mình thực hiện, bị cáo kêu oan cho rằng bị cáo không nhận tiền của bà Q, không gian dối, lừa đảo bà Q như quy kết tại bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, những lời khai nhận của bị cáo Á trong quá trình điều tra vụ án (tại các biên bản lấy lời khai : BL 79-81, BL 82-86, BL 604-611, BL 88-89, BL
100-101, BL 522-523, BL 564-565, BL 592-593) phù hợp với lời khai của người bị hại, các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Thời điểm ký Hợp đồng góp vốn xây dựng dự án chung cư cao tầng vào ngày 28/11/2007 giữa Đinh Kim Á (lấy tư cách đại diện Công ty S) với bà Nguyễn Thị Kim Q được Phòng Công chứng số 6 Thành phố H chứng nhận thì Đinh Kim Á đã có các hành vi hành vi gian dối:
- - Làm giả Biên bản của Hội đồng thành viên Công ty Đó nội dung ủy quyền cho Đinh Kim Á (Chủ tịch hội đồng thành viên Công ty S) được ký Hợp đồng góp vốn với bà Nguyễn Thị Kim Q, trong khi Á không phải là Chủ tịch hội đồng thành viên của Công ty S;
- - Phần đất các bên nêu trong hợp đồng để xây dựng dư án chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng hợp pháp thuộc quyền sử dụng của Á hoặc Công ty Đ4 xây chung cư; đây vẫn là đất nông nghiệp chưa chuyển mục đích sử dụng đất đang do người khác đứng tên chủ sử dụng (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00829 ngày 24/7/2001 và 00768 ngày 12/01/2001 do Ủy ban nhân dân Quận U cấp cho ông Nguyễn Văn T1 chủ sử dụng). Mặc dù vợ chồng Á có hợp đồng mua bán viết tay phần đất này với ông T1 nhưng từ năm 2001, vợ chồng Á đã ký hợp đồng viết tay bán diện tích đất này cho bà Hoàng Thị X;
- - Trước thời điểm ký hợp đồng góp vốn các Cơ quan có thẩm quyền (Sở Quy hoạch kiến trúc và Sở Tài nguyên môi trường Thành phố H) đã có văn bản trả lời theo yêu cầu của vợ chồng Á về việc đất vướng quy hoạch của Nhà nước nhưng Á đã che giấu không cho bị hại biết;
- - Thực tế, Á không giữ chức vụ Chủ tịch hội đồng thành viên Công ty S nhưng Á cung cấp thông tin cho bà Q và Phòng Công chứng về việc Á giữ chức vụ Chủ tịch hội đồng thành viên Công ty S;
Qua các thông tin gian dối, Á làm cho bị hại Q tin tưởng nên đã ký hợp đồng góp vốn đầu tư xây dựng chung cư cùng Á.
Hợp đồng góp vốn xác định trị giá dự án là 36.600.000.000 đồng (trong đó mỗi bên góp 50% = 18.300.000.000 đồng), sau khi ký hợp đồng góp vốn tính đến ngày 15/4/2008 bà Q đã nhiều lần giao tiền góp vốn cho Á tổng số tiền là 12.470.000.000 đồng và bị Á chiếm đoạt tiêu xài cá nhân.
Về số tiền 12.470.000.000 đồng bị cáo Á đã chiếm đoạt của bà Q được chứng minh qua các biên lai nộp tiền có đóng dấu của Công ty S, lời khai thừa nhận ban đầu của bị cáo Á tại Cơ quan điều tra, đặc biệt đã được ghi nhận tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự số 165/2011/QÐST-KDTM ngày 08 tháng 02 năm 2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (dù Quyết định đã bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm).
Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Đinh Kim Á về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết vẫn cần phải kiến nghị cơ quan điều tra làm rõ thêm trách nhiệm của ông Nguyễn Văn H và ông Huỳnh Vân Đ trong việc hỗ trợ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Bởi lẽ, ông Nguyễn Văn H lập các bảng tóm tắt thực hiện dự án, hỗ trợ bị cáo trong việc làm các giấy tờ biên nhận tiền giữa bị cáo và bị hại; trong khi đó, ông Huỳnh Vân Đ là chồng bị cáo Đinh Kim Á, là đại diện theo pháp luật của Công ty Đ7 pháp nhân mà bị cáo Á sử dụng con dấu tại các giấy biên nhận tiền, ký kết hợp đồng góp vốn với bị hại, ông Đ cũng từng có văn bản hỏi về việc quy hoạch tại diện tích đất mà Á ký kết thỏa thuận hợp tác đầu tư xây dựng chung cư với bị hại Nguyễn Thị Kim Q.
[3] Xét quan điểm của Luật sư bào chữa của bị cáo cho rằng: Giao dịch giữa Đinh Kim Á với bà Nguyễn Thị Kim Q vào năm 2007 chỉ là quan hệ dân sự về hợp tác đầu tư là không có cơ sở. Như đã phân tích trên, bị cáo Á đã có các hành vi gian dối làm cho người bị hại tin tưởng các thông tin về quyền sử dụng đất, pháp lý dự án, người đại diện cho pháp nhân Công ty Đ4 ký hợp đồng góp vốn dự án xây dựng chung cư là thật nên đã ký hợp đồng và giao tiền cho Á. Tội phạm do bị cáo Đinh Kim Á thực hiện đã hoàn thành kể từ thời điểm bị cáo nhận được tiền của bị hại. Các tranh chấp dân sự có phát sinh và thỏa thuận sau đó về số tiền của bị hại bị chiếm đoạt chỉ được xem xét tình tiết giảm nhẹ khắc phục hậu quả. Do vậy, quan điểm bào chữa của Luật sư không được chấp nhận.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ đó là đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải (do bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đã thực hiện nhưng nhận thức hành vi đó không phạm tội); đã bồi thường một phần thiệt hại khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Mặc dù tại cấp phúc thẩm, bị cáo phủ nhận các lời khai trước đây trong quá trình điều tra, tuy nhiên, do không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng không có lợi cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không sửa phần phần áp dụng tình tiết giảm nhẹ này của bản án sơ thẩm.
Trên cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 14 năm tù là đã đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Bị cáo kháng cáo kêu oan nhưng không cung cấp được tình tiết, chứng cứ nào thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của
Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Đinh Kim Á phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Kim Á. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 549/2023/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Đinh Kim Á 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/3/2021.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc bị cáo Đinh Kim Á bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim Q số tiền 7.960.000.000 (bảy tỷ chín trăm sáu mươi triệu) đồng. Việc thực hiện sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- Bị cáo Đinh Kim Á phải chịu án phí phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Phạm Thị Duyên – Cao Văn Tám |
Bùi Thị Thu |
Bản án số 242/2025/HS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (phúc thẩm)
- Số bản án: 242/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Kim Á. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 549/2023/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
