Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16–THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

Bản án số: 242/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25-12-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Ngọc.
  2. Ông Nguyễn Đức Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 372/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 134/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thanh H, sinh năm 1996; thường trú: Khu X, xã Đ, tỉnh Phú Thọ. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hạ Trung H1, sinh năm 1994; thường trú: Số B đường L, khu phố T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 9 năm 2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thanh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thanh H và anh Hạ Trung H1 sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ (nay là xã Đ, tỉnh Phú Thọ).

Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng đã tìm cách hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh Hạ Trung H1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có hai người con chung tên Hạ Tuấn T, sinh ngày 10/10/2018 và Hạ Lê Tú A, sinh ngày 06/12/2021. Sau khi ly hôn chị H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu anh H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với cả hai cháu là 10.000.000 (Mười triệu đồng)/tháng, tương ứng mỗi cháu 5.000.000 VNĐ (Năm triệu đồng)/tháng cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hạ Trung H1 đã được Tòa án tổng đạt bằng hình thức niêm yết nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16– Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật liên quan. Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thanh H khởi kiện yêu cầu ly hôn tranh chấp, nuôi con đối với bị đơn anh Hạ Trung H1. Bị đơn anh Hạ Trung H1 có địa chỉ cư trú tại số B đường L, khu phố T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Lê Thanh H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Hạ Trung H1 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thanh H và anh Hạ Trung H1 có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 04/05/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ (nay là xã C, tỉnh Phú Thọ) nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Căn cứ ly hôn: Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thanh H xác định mâu thuẫn vợ chồng là do quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập anh Hạ Trung H1 để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng anh H1 không đến, đồng thời Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng tại Hội phụ nữ phường D nhưng Hội phụ nữ phường D không biết về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H1 và chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Lê Thanh H trình bày quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung, tên là Hạ Tuấn T, sinh ngày 10/10/2018 và cháu Hạ Lê Tú A, sinh ngày 06/12/2021. Sau khi ly hôn, chị Lê Thanh H yêu cầu chị là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hạ Tuấn T và Hạ Lê Tú A. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi phải bảo đảm để con chung phát triển tốt về mọi mặt. Quá trình tố tụng, anh Hạ Trung H1 không có ý kiến gì về việc yêu cầu nuôi con chung, đồng thời căn cứ vào ý kiến của cháu T có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Đối với cháu H2 Lê Tú A còn nhỏ và là con gái, do đó để bảo đảm sự phát triển về tâm sinh lý cần giao cháu Tú A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Tòa án giao 02 con chung là cháu Tuấn T và cháu Tú A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thanh H yêu cầu anh Hạ Trung H1 thực hiện cấp dưỡng nuôi con chung đối với cả hai cháu là 10.000.000 (Mười triệu đồng)/tháng, tương ứng mỗi cháu 5.000.000 (Năm triệu đồng)/tháng cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi. Quá trình tố tụng anh H1 không có ý kiến gì về mức cấp dưỡng mà chị H yêu cầu. Chị H có cung cấp cho Tòa án 01 đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn có chữ ký của anh H1 trong đó vợ chồng thỏa thuận về mức cấp dưỡng nuôi con là 10.000.000 đồng/tháng/02 cháu. Căn cứ vào khoản 2 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì “Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”, năm 2025 mức lương tối thiểu vùng của khu vực Bình Dương (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) thuộc vùng 1 là 4.960.000 đồng. Nguyên đơn xác định anh H1 hiện đang kinh doanh quán ăn và cung cấp được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty TNHH H3, do đó chấp nhận mức yêu cầu cấp dưỡng của nguyên đơn.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Từ những phân tích nêu trên có căn cứ chấp nhận cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Chị Lê Thanh H phải chịu án phí ly hôn, bị đơn anh Hạ Trung H1 phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thanh H về tranh chấp ly hôn đối với bị đơn anh Hạ Trung H1.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thanh H được ly hôn với anh Hạ Trung H1 [Giấy chứng nhận kết hôn số 18 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ (nay là xã C, tỉnh Phú Thọ) cấp ngày 04/05/2018].

1.2. Về con chung: Chị Lê Thanh H được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là cháu Hạ Tuấn T, sinh ngày 10/10/2018 và cháu Hạ Lê Tú A, sinh ngày 06/12/2021.

Buộc anh Hạ Trung H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Hạ Tuấn T, sinh ngày 10/10/2018 và cháu H2 Lê Tú A, sinh ngày 06/12/2021 mỗi tháng là 10.000.000 (mười triệu) đồng/02 cháu (mỗi cháu một tháng là năm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Sau khi ly hôn, chị Lê Thanh H và anh Hạ Trung H1 có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.

1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm về ly hôn: Chị Lê Thanh H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0020848 ngày 29 tháng 09 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H. Anh Hạ Trung H1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND khu vực 16;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng THADS khu vực 16;
  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Lưu: VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Liễng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242/2025/HNGĐ-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16–THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 242/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16–THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh H - Hạ Trung H1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger