TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số: 242/2025/HNGĐ – ST. Ngày: 13/06/2025. V/v Tranh chấp ly hôn | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – TP HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.
Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Văn Hành.
Ông Hoàng Văn Long.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Từ Ngọc Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Ông Dương Sơn Tiến - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 108/2025/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 03 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QÐST-HNGĐ ngày 20 tháng 05 năm 2025, quyết định hoãn phiên toà số 84/2025/QÐST- HNGĐ ngày 05 tháng 06 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1976. (Vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Chử Văn H, sinh năm 1976. (Vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện T, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về tình cảm: Chị và anh Chử Văn H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, thành phố Hà Nội ngày 18/01/2001. Đây là lần kết hôn đầu tiên của chị và anh H.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chị cùng nhau chung sống tại nhà anh H tại địa chỉ thôn C, V, T, Hà Nội đến tháng 05/2024 do vợ chồng nảy sinh quá nhiều mâu thuẫn nên chị đã dọn ra ngoài sống riêng. Hai con chung của chị với anh H vẫn sống cùng anh H tại thôn C, V cho đến nay. Cũng kể từ đó vợ chồng sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống giữa vợ chồng có nhiều khác biệt. Anh H ít quan tâm đến gia đình. Vợ chồng thường xuyên xảy ra to tiếng, cãi vã có lần anh H còn đánh chị thâm tím hết mặt. Chị đã rất cố gắng tìm biện mọi biện pháp khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Chị cũng đã trao đổi với anh H về việc vợ chồng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau trong tình trạng mâu thuẫn như vậy. Anh H không tỏ thái độ đồng ý ly hôn hay không nhưng không có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Chử Văn H.
- Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Chử Khánh H1 sinh ngày 15/08/2001 và Chử Quốc T1 sinh ngày 06/04/2009.
Cháu H1 đã đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) nên việc ở với ai do cháu tự quyết định chị không có ý kiến.
Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Chử Quốc T1.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị nuôi con không yêu cầu anh H có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.
Hiện chị đang làm công nhân tại công ty may tư nhân, có mức thu nhập bình quân hàng tháng là 10.000.000 đồng/tháng. Chị đảm bảo nuôi dưỡng, chăm sóc con trong điều kiện tốt nhất.
- Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh chị không có. Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Chị tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Chử Văn H vắng mặt không có lý do cũng không có văn bản ý kiến gửi Toà án nên Hội đồng xét xử đã công bố ý kiến, lời khai của chị T và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, anh Chử Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản ý kiến gửi Toà án. Do đó Toà án nhân dân huyện Thanh Trì đã hoãn phiên toà xét xử vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 05/06/2025 để tiến hành thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật và mở lại phiên toà vào ngày 09 giờ 00 phút ngày 13/06/2025. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án xét xử vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn.
Hội đồng xét xử đã công bố ý kiến, lời khai của chị T và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tất cả các buổi làm việc với Tòa án nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70,72 BLTTDS.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, Nghị quyết 326/30.12.2016 của UBTVQH quy định về án phí xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Chử Văn H.
- Về con chung: Cháu Chử Khánh H1 sinh ngày 15/08/2001 đã thành niên (đủ 18 tuổi), việc cháu ở với ai do cháu tự quyết định nên không xét.
Giao 01 con chung là cháu Chử Quốc T1 sinh ngày 06/04/2009 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
- Về yêu cầu cấp dưỡng: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối anh H.
- Về tài sản và các yêu cầu khác: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
- Án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Anh Chử Văn H có nơi cư trú tại thôn C, xã V, huyện T, Hà Nội. Vì vậy Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Chử Văn H đã được triệu tập tham gia phiên toà hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án xét xử vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Chử Văn H là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, Hà Nội.
Căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân của chị T và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân là xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã nhiều lần triệu tập anh H lên trình bày ý kiến và hoà giải tuy nhiên anh H đều vắng mặt cho thấy anh H không có ý thức vun đắp, hàn gắn gia đình.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc giải quyết cho anh chị ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.
Về con chung:
Chị T và anh H có 02 con chung là Chử Khánh H1 sinh ngày 15/08/2001 và Chử Quốc T1 sinh ngày 06/04/2009. Cháu H1 đã đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), việc cháu ở với ai do cháu tự quyết định nên Hội đồng xét xử không xét. Sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng nuôi con chung là cháu T1 và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T có đầy đủ điều kiện nuôi con và đảm bảo được sự phát triển ổn định, toàn diện của cháu, cháu T1 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử thấy giao con chung là cháu T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh H.
Anh H có quyền nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản và nhà ở chung:
Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh H đã được Toà án thông báo yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, yêu cầu có liên quan đến vụ án tuy nhiên anh H không nộp yêu cầu gì cho Toà án nên không xét.
-Về án phí và quyền kháng cáo:
Về án phí: Chị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo chị T và anh H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ các nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Mục 1.1 khoản 1 Phần II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/UBTVQH14;
Xử:
I. Về quan hệ hôn nhân:
- Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.
- Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Chử Văn H.
II. Về con chung:
Chị T và anh H có 02 con chung là Chử Khánh H1 sinh ngày 15/08/2001 và Chử Quốc T1 sinh ngày 06/04/2009.
Cháu Chử Khánh H1 sinh ngày 15/08/2001 đã thành niên (đủ 18 tuổi) nên việc cháu ở với ai do cháu tự quyết định.
Giao cháu Chử Quốc T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Chử Văn H.
Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
III. Về tài sản chung:
Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
IV. Về án phí:
Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0056624 ngày 27/03/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Chị T đã nộp đủ án phí.
V. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị T và anh Chử Văn H vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hương Giang |
Bản án số 242/2025/HNGĐ ngày 13/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 242/2025/HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
