Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 242/2025/DS-PT

Ngày 16 - 6 - 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hà.

Các Thẩm phán:Ông Võ Thanh Hà

Ông Nguyễn Văn Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Giáp - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Ngụ Văn Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 206/2025/TLDS-PT ngày 08/5/2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 26/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 233/2025/QĐ-PT, ngày 20/5/2025 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số: 234/2025/QĐ - PT ngày 03/6/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phạm Xuân T. Địa chỉ: Số A M, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung X, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông - Có đơn xét xử vắng mặt.

  2. Bị đơn: Ông Đặng Ngọc H. Địa chỉ: Số I Đ, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của bị đơn: Ông Đặng T1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số A A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.

  3. Người kháng cáo: Ông Đặng Ngọc H là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Do có quan hệ quen biết nên trong năm 2023 anh Phạm Xuân T có cho anh Đặng Ngọc H mượn tiền nhiều lần cụ thể:

Lần 01: Vào ngày 12/3/2023 ông T cho anh H mượn số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), thời hạn vay là 03 tháng; Do là chỗ quen biết nên hai bên thoả thuận không tính lãi suất. Quá trình vay tiền ông H đã trả được 60.000.000 đồng nợ gốc cụ thể: ngày 22/5/2024 trả 20.000.000 đồng; ngày 04/7/2024 trả 20.000.000 đồng; ngày 04/10/2024 trả 20.000.000 đồng, còn lại 240.000.000 đồng nợ gốc, chưa trả được khoản tiền lãi nào.

Lần 02: Vào ngày 06/6/2023 anh Phạm Xuân T cho anh H mượn thêm số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Thời hạn trả nợ vào ngày 30/6/2023 và thoả thuận không tính lãi suất. Đối với khoản vay này ông H chưa trả được khoản nợ gốc nào.

Cả hai lần mượn tiền anh Đặng Ngọc H đều viết giấy vay tiền và ký xác nhận, ngay sau khi thoả thuận việc cho vay anh Phạm Xuân T đã giao cho anh Đặng Ngọc H số tiền như nội dung của giấy vay tiền với tổng số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Khi vay các bên không cầm cố tài sản thế chấp gì cho nhau.

Về phần anh Đặng Ngọc H đã không thực hiện đúng cam kết của mình là trả tiền cho anh Phạm Xuân T khi đến hạn, mặc dù đã nhiều lần anh T yêu cầu anh H trả nợ. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu cá nhân ông H có trách nhiệm trả cho T số tiền như sau:

Buộc ông Đặng Ngọc H trả cho ông Phạm Xuân T tổng số tiền 500.000.000 đồng nợ, trong đó nợ gốc là 440.000.000 đồng và lãi suất là 58.400.000 đồng (Nợ lãi của khoản vay ngày 12/3/2023 với mức lãi suất 0,8%/ tháng kể từ ngày 15/6/2023 đến ngày 15/5/2024 trên số tiền vay 300.000.000 đồng là 26.400.000 đồng; nợ lãi của khoản vay ngày 06/6/2023 với mức lãi suất 0,8%/ tháng kể từ ngày 01/7/2023 đến ngày 01/03/2025 là 32.000.000 đồng).

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đặng Tiến trình B: Tôi là người đại diện theo ủy quyền cho ông Đặng Ngọc H, là bị đơn trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Phạm Xuân T. Ông H có vay của ông T 02 lần cụ thể:

Vào ngày 12/3/2023 ông T cho anh H mượn số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), hai bên thoả thuận không tính lãi suất.

Vào ngày 06 tháng 6 năm 2023 anh Phạm Xuân T cho anh H mượn thêm số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Thời hạn trả nợ vào ngày 30/6/2023, hai bên không thỏa thuận lãi suất.

Tổng cộng số tiền vay là 500.000.000 đồng nợ gốc. Quá trình vay tiền ông H đã trả được 60.000.000 đồng nợ gốc trong tổng số tiền 500.000.000 đồng và cũng thống nhất trả vào khoản tiền vay ngày 12/3/2023. Hiện nay ông H còn nợ lại ông T 440.000.000 đồng nợ gốc. Bị đơn cũng thừa nhận chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là đúng. Ngoài ra, bị đơn không còn nợ nguyên đơn khoản tiền nào khác.

Do đó, ông H chấp nhận trả khoản tiền nợ gốc này cho ông T. Tuy nhiên khi nguyên đơn gửi đơn tố cáo lên Công an thành phố B thì nguyên đơn có thỏa thuận cho bị đơn trả dần chứ không yêu cầu trả một lúc nên đề nghị tòa xem xét cho bị đơn trả dần như đã thỏa thuận tại Công an thành phố B, hơn nữa hiện tại điều kiện của bị đơn rất khó khăn nên không thể trả ngay một lúc được cho nguyên đơn.

Đối với số tiền lãi thì trong 02 hợp đồng vay tiền đều không ghi rõ lãi suất cụ thể cho nên bên nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất 0,8% cho cả các khoản vay là không phù hợp nên không đồng ý. Nguyện vọng chỉ trả nợ gốc và không yêu cầu tính lãi.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2025/DS - ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Xuân T.

Buộc ông Đặng Ngọc H có trách nhiệm trả cho ông Phạm Xuân T số tiền 498.400.000 đồng (trong đó 440.000.000 đồng nợ gốc và 58.400.000 đồng nợ lãi).

Kể từ ngày 27/03/2025 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; trường hợp không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/4/2025 bị đơn ông Đặng Ngọc H có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho ông được trả nợ cho ông Phạm Xuân T theo phương thức trả dần theo tháng hoặc theo quý và bác yêu cầu về buộc ông phải trả lãi cho ông T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Phạm Xuân T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn ông Đặng Ngọc H vẫn giữ yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày ý kiến xác định: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Đặng Ngọc H - Sửa Bản án sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về lãi suất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Đặng Ngọc H làm trong hạn luật định. Ông Đặng Ngọc H đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét kháng cáo của ông Đặng Ngọc H xin trả nợ gốc theo phương thức trả dần Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng vay tiền ngày 12/3/2023 thể hiện ngày 12/3/2023 ông T cho ông H vay số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Thời hạn vay là 03 tháng kể từ ngày 12/3/2023 đến ngày 12/6/2023, không lãi suất. Đối với khoản vay này ông T thừa nhận ông H đã trả được 60.000.000 đồng nợ gốc cụ thể: Ngày 22/5/2024 trả 20.000.000 đồng; Ngày 04/7/2024 trả 20.000.000 đồng; ngày 04/10/2024 trả 20.000.000 đồng, còn lại 240.000.000 đồng nợ gốc.

Theo hợp đồng vay tiền ngày 06/6/2023 thể hiện ngày 06/6/2023 ông T cho ông H vay thêm số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Thời hạn vay kể từ ngày 06/6/2023 đến ngày 30/6/2023, không lãi suất. Đối với khoản vay này ông H chưa trả được khoản nợ gốc nào.

Trong quá trình tố tụng ông H thừa nhận đã vay tiền của ông T theo hai giấy vay tiền nêu trên với tổng số tiền 500.000.000 đồng và chỉ mới trả cho ông T được 60.000.000 đồng nợ gốc theo giấy vay tiền ngày 12/3/2023. Hiện ông H còn nợ ông T 440.000.000 đồng là đúng sự thật.

Do đó, Bản án sơ thẩm buộc ông Đặng Ngọc H phải trả cho ông Phạm Xuân T 440.000.000 đồng tiền nợ gốc, là có căn cứ. Đối với kháng cáo của ông H đề nghị xem xét cho ông được trả nợ cho ông T theo phương thức trả dần theo tháng hoặc theo quý. Tuy nhiên, ông T không đồng ý với yêu cầu này của ông H. Do đó, kháng cáo của ông H xin trả nợ gốc theo phương thức trả dần là không có căn cứ để chấp nhận.

[2.2] Về kháng cáo của ông H yêu cầu không tính lãi suất, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại hợp đồng vay tiền ngày 12/3/2023 và hợp đồng vay tiền ngày 06/6/2023 đều là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn và không có lãi. Đến thời hạn trả nợ ông H không trả được nợ và trả nợ không đầy đủ nên ông T đề nghị Tòa án tính lãi suất chậm trả đối với cả hai khoản vay với mức 0,8%/ tháng là phù hợp với khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Đối với khoản vay ngày 12/3/2023, thời hạn trả nợ là ngày 12/6/2023, ông H đã trả cho ông T 60.000.000 đồng vào các ngày 22/5/2024 trả 20.000.000 đồng; Ngày 04/7/2024 trả 20.000.000 đồng; ngày 04/10/2024 trả 20.000.000 đồng. Ông T yêu cầu tính lãi suất 0,8% trên số tiền 300.000.000 đồng kể từ ngày 15/6/2023 đến ngày 15/5/2024, với số tiền cụ thể: 300.000.000 đồng x 0,8% x 11 tháng = 26.400.000 đồng. Đối với khoản vay ngày 06/6/2023, thời hạn trả nợ là ngày 30/6/2023, khoản vay này ông H chưa trả nợ gốc cho ông T nên ông T đề nghị tính lãi suất kể từ ngày 01/7/2023 đến ngày 01/3/2025 với số tiền 200.000.000 đồng x 0,8% x 20 tháng = 32.000.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu tính lãi chậm trả của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Đặng Ngọc H phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi chậm trả là 58.400.000 đồng, là phù hợp quy định của pháp luật. Kháng cáo của ông H yêu cầu không chấp nhận yêu cầu tiền lãi của nguyên đơn là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Bản án sơ thẩm buộc ông Đặng Ngọc H phải trả cho ông Phạm Xuân T số tiền 498.400.000 đồng (Trong đó: 440.000.000 đồng nợ gốc và 58.400.000 đồng nợ lãi) là có căn cứ.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên ông Đặng Ngọc H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đặng Ngọc H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Áp dụng: Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 26 và Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Xuân T.

    Buộc ông Đặng Ngọc H có trách nhiệm trả cho ông Phạm Xuân T số tiền 498.400.000 đồng (Trong đó 440.000.000 đồng nợ gốc và 58.400.000 đồng nợ lãi).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015

  2. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Đặng Ngọc H phải chịu 23.936.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

      Nguyên đơn ông Phạm Xuân T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm được nhận lại 12.300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số AA/2023/0013918 ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đặng Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng mà ông Đặng T1 đã nộp thay ông Đặng Ngọc H theo biên lai thu số 0001268, ngày 14/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - CCTHADS thành phố Buôn Ma Thuột;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Bùi Quốc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 242/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 242/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger